cac giong bo


Nhấn vào đây để tải về
Nhắn tin cho tác giả
Báo tài liệu sai quy định
Mở thư mục chứa tài liệu này
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Mai Quoc Toan
Ngày gửi: 11h:22' 15-09-2009
Dung lượng: 5.9 MB
Số lượt tải: 133
Số lượt thích: 0 người
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
SINH HỌC CỦA BÒ
Đặc điểm về bộ máy tiêu hóa
Khả năng sinh sản
Các giống bò (theo hướng sản xuất)
Đặc điểm về bộ máy tiêu hóa

Đặc điểm về bộ máy tiêu hóa

Đặc điểm về bộ máy tiêu hóa
Bộ máy tiêu hóa của bê
Bê sơ sinh đã có đủ 4 dạ như thú trưởng thành: dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế. Tuy nhiên, trong giai đoạn còn bú, dạ cỏ, dạ tổ ong và dạ lá sách chưa phát triển về thể tích cũng như về chức năng, dạ múi khế lớn nhất (60 -70%, còn 35 % là 3 túi còn lại).
Từ thực quản của bê, ngay phần đầu của dạ cỏ hình thành một rãnh thông trực tiếp đến dạ múi khế được gọi là rãnh thực quản. Rãnh nầy do dạ tổ ong và dạ lá sách khép kín hình thành. Động tác nút vú của bê con gây ra phản xạ đóng rãnh thực quản, đưa trực tiếp sữa xuống dạ múi khế , khi chức năng này bị trục trặc thú sẽ bị tiêu chảy.
Bộ máy tiêu hóa của bê
Bộ máy tiêu hóa của bò
-Dạ cỏ: ở bò dạ cỏ lớn nhất, có dung tích khoảng 200l chiếm 70-80% so với dạ khác. Bên trong có hình dạng như khăn lông.
-Dạ tổ ong: túi thứ II, bên trong có hình dạng như tổ ong. Dạ lá tổ ong gồm 2 cửa: cửa lớn thông với thực quản và dạ cỏ, cửa nhỏ thông với dạ lá sách.
-Dạ lá sách: ở sườn bên phải nó hình tròn và bên trái hình hơi dẹp. Bên trong hình thành nhiều lá khác nhau gọi là lá sách. Gồm 8 bộ, mỗi bộ có 1 lá lớn và khoảng 20 lá nhỏ. Các lá đều có gai thịt để co bóp và hút nước trong thức ăn.
-Dạ múi khế: chức năng tương như dạ dày heo còn gọi là dạ dày thực. Thức ăn tiêu hóa ở dạ dày dưới tác dụng cơ học,ở dạ múi khế mới có sự tham gia của các enzyme.
Bộ máy tiêu hóa của bò
Bộ máy tiêu hóa của bò
Dạ cỏ
Dạ tổ ong
Dạ lá sách
Ước lượng tỉ lệ chuyển hóa chất dinh dưỡng trong thức ăn thành chất dinh dưỡng của thú sản ở một số loài
1- Cách giám định tuổi qua răng.
Có nhiều phương cách giám định tuổi bò, giám định tuổi qua răng là tương đối chính xác. Răng bò ló 2 loại : Răng sữa và răng vỉnh viển. Bò từ 2 đến 5 tuổi căn cứ vào việc thay răng để đoán tuổi, sau đó căn cứ vào độ mòn của răng để tính tuổi bò trên 6 tuổi (hình ).
Bò 2 năm tuổi thay 2 răng (thay cặp răng giữa )
Bò 3 năm tuổi thay 4 răng (thay tiếp cặp áp giữa )
Bò 4 năm tuổi thay 6 răng (thay tiếp cặp áp góc )
Bò 5 năm tuổi thay 8 răng (thay luôn cặp răng góc ).
1- Cách giám định tuổi qua răng.
5 năm tuổi
4 năm tuổi
3 năm tuổi
2 năm tuổi
tuổi
Cách xác định khối lượng bò
Có thể dùng công thức đơn giản sau để tính thể trọng của bò từ 2 tuổi trở lên.
Khối lượng (kg) = VN2 x DTC x 90 5%
Trong đó :
VN : là chiều đo vòng ngực, đo bằng thước dây, tính bằng m.
DTC : là chiều dài thân chéo, đo bằng thước dây từ điểm trước của xương bả vai đến điểm cuối xương ngồi (hình ).
Đối với bò mập mạp thì cộng thêm 5% trên số kg tính được.
Đối với bò gầy ốm thì trừ bớt 5% trên số kg tính được.
Vị trí các chiều đo
CÁC GIỐNG BÒ
HƯỚNG CHUYÊN SỮA
HƯỚNG CHUYÊN THỊT
HƯỚNG KIÊM DỤNG
I. NHÓM BÒ CHUYÊN SỮA
Bò sữa có thể chất thanh săn, đầu cổ cân đối, ngực nở, bụng phát triển, to và tròn; đặc biệt vú to các núm đều, tỉnh mạch vú nổi rõ, chân vững chắc.
Nhìn chung bò sữa có dạng hình tam giác, phía đầu nhỏ phía sau to.
Thường giám định bò sữa vào các lứa tuổi: sơ sinh, 6 tháng, 12 tháng, 24 tháng, lứa đẻ 1, lứa đẻ 3.
I. NHÓM BÒ CHUYÊN SỮA
Bò Holstein Friesian
Bò Jersey
Bò Brown Swiss
Bò Ayrshire
Bò Guernsey
Bò Australian Milking Zebu
Bò Sahiwal
Bò AFS (Australian Friesian Sahiwal)
1.1. Bò Holstein Friesian
Bò có nguồn gốc từ Hà Lan, màu lông đen vá trắng hoặc trắng vá đen, tỷ lệ đen trắng thông thường là 50%-50%, bò Hà Lan thuần thường có 6 điểm trắng: giữa trán, chóp đuôi và 4 chân. Đây là giống bò có sản lượng sữa cao nhất và được nuôi với tỷ lệ cao nhất trong các giống bò sữa hiện nay.
Khối lượng con đực từ 800 - 1100kg, con cái 500 - 800kg. Lượng sữa trung bình 6000-8800kg/chu kỳ (305 ngày), tỷ lệ chất béo 3,5-4%. Ở Việt nam hiện nay đa số nhà chăn nuôi bò sữa đều chọn giống nầy. Tuy xuất phát từ Hà Lan nhưng đến nay nhiều nước đã nhân thuần giống này thành bò riêng của nước mình như : Bò Hà Lan Pháp, Bò Hà Lan Canada.
NĂNG SUẤT BÒ HOLSTEIN ở MỘT SỐ NƯỚC (2000)
1.1. Bò Holstein Friesian
1.1. Bò Holstein Friesian
1.1. Bò Holstein Friesian
1.1. Bò Holstein Israel
1.2. Bò Jersey
Đây là giống bò sữa có nguồn gốc từ Anh quốc, có tầm vóc tương đối nhỏ nhưng ngoại hình rất đẹp và hiệu suất cho sữa khá cao. Bò có sắc lông màu nâu nhạt đốm đen. Bò có khả năng gặm cỏ tốt, tuy có nguồn gốc từ xứ ôn đới nhưng có khả năng chịu được khí hậu của nhiệt đới.

Khối lượng con đực từ 500-700Kg, con cái từ 350-450Kg. Sản lượng sữa trung bình 4000-5000kg/chu kỳ, tỉ lệ chất béo 5-5,4%. Bò nầy có sự trưởng thành sinh dục sớm, con cái từ 12-14 tháng tuổi đã cho phối lần đầu.
1.2. Bò Jersey
1.2. Bò Jersey
1.3. Bò Brown Swiss
Bò có nguồn gốc từ Thụy Sĩ, sắc lông màu nâu có đốm đen,mũi màu đen. Giống nầy cho thịt cao hơn các giống khác, bê con tăng trưởng nhanh.
Khối lượng con đực 750kg -1000kg, con cái 650kg - 750kg. Sản lượng sữa trung bình 5000kg/chu kỳ, tỷ lệ chất béo 4%.
1.3. Bò Brown Swiss
1.3. Bò Brown Swiss
1.4. Bò Ayrshire
Đây là giống bò chuyên sữa có nguồn gốc từ Anh, sắc lông màu trắng vá đỏ hoặc trắng đốm đỏ. Bò nầy trưởng thành sinh dục khá sớm, giống nầy có khả năng gặm cỏ cao và năng động tuy nhiên khó quản lý. Bò Ayrshire là kết quả tạp giao giữa bò Hà Lan, bò Jersey,bò

Guernsey và bò địa phương của Anh. Trọng lượng bò cái trung bình 600kg, bò đực 700-1100kg. Sản lượng sữa từ 5000-6400kg chu kỳ.
1.4. Bò Ayrshire
1.4. Bò Ayrshire
1.5. Bò Guernsey
Nguồn gốc từ đảo Gurensey ,nước Anh.
Đây là giống bò có tầm vóc trung bình, thể hình hướng sữa rõ rệt, khung xương nhỏ (khối lượng con cái chỉ 400 -450 kg). Thường có màu nâu vàng với những lang trắng. Mõm thường có nhạt Đầu dài, sừng cong về trước. Năng suất bò Guernsey đạt khoảng 5000-5500 kg/chu ky ( có con đạt kỹ lục năng suất trên 14000 kg/chu kỳ). Tỉ lệ mỡ sữa khoảng 3,6%. Sữa thường có màu vàng đặc trưng Đây là một giống bò thích nghi tốt với chăn thả.
Giống bò này ít phổ biến hơn các giống khác.
1.5. Bò Guernsey
1.5. Bò Guernsey
1.6. Bò Australian Milking Zebu
Giống bò AMZ được lai tạo tại Uc ( tổ chức CSIRO) từ giống bò Sahiwal, Red Sindhi và Jersey. Sau đó được bổ sung với các giống Holstein friesian, Illawana và Ayshire. Bò thường có màu vàng và ngoại hình giống bò Jersey nhưng lớn con hơn .
Bò thích nghi tốt với điều kiện nhiệt đới, khả năng chống stress nhiệt và ve mòng tốt.
Năng suất đạt khoảng 5000 kg/chu kỳ với tỉ lệ béo trung bình 4,5 %. Bò lai giửa giống AMZ và Holstein có thể đạt năng suất 6000 kg/chu kỳ và tỉ lệ béo 3,8%.
1.6. Bò Australian Milking Zebu
1.7. Bò Sahiwal
Đây là giống bò sữa có nguồn gốc từ Ấn Độ, sắc lông màu đỏ sậm.
Trọng lượng con cái trung bình 300kg, con đực trung bình 400kg.
Sản lượng sữa 2500kg một chu kỳ, chất béo trên 5%
1.7. Bò Sahiwal
1.8. Bò AFS
Bò có nguồn gốc từ Australia, là bò sữa được lai tạo từ 3 giống bò: Australian Milking Zebu, Holstein Friesian và bò Sahiwal.
Sắc lông màu nâu sậm hoặc đen, phần lưng thường có màu cánh đỏ sậm.
Đây là giống bò sữa được người Uc tạo ra ở vùng có khí hậu nóng
1.8. Bò AFS
1.8. Bò AFS
II. NHÓM BÒ CHUYÊN THỊT
Bò nuôi thịt cơ thể phải nở nang "vai u thịt bắp", nhìn chung có dạng hình chữ nhật, ngực sâu rộng, mông đùi nở nang, chân thấp. Yêu cầu đối với bò thịt là phải có khả năng tăng trọng cao trong thời gian vỗ béo, đạt khối lượng xuất chuồng cao và tỉ lệ thịt cao.
II. NHÓM BÒ CHUYÊN THỊT
Bò Charolais
Bò Hereford
Bò Brahman
Bò Santa Gertrudis
Bò Aberdeen Angus
Bò Droughmaster
Bò Belgian blue
2.1.Bò Charolais
Có nguồn gốc ở Pháp, đây là giống bò thịt nổi tiếng trên thế giới, thường được dùng lai tạo các nhóm bò địa phương để nuôi thịt. Sắc lông màu kem.
Trọng lượng con đực nặng trung bình 1200 - 1400kg con cái 800-900kg. Bê nuôi thịt 12 tháng có thể đạt 500kg - 550kg (tăng trong mỗi ngày 1,200 -1,500kg), 30 tháng tuổi đạt 1000kg. Tỉ lệ thịt xẻ đạt 65-70%.
2.1.Bò Charolais
2.1.Bò Charolais
2.2. Bò Hereford
Nguồn gốc ở Anh được nuôi nhiều ở các nước ôn đới. Sắc lông màu đỏ, có 6 điểm trắng ở mặt, bụng và 4 chân. Bò nầy có hai nhóm có sừng và không sừng.
Khối lượng trung bình con đực trưởng thành 900 - 1000kg, con cái 600 - 700kg. Bê thiến nuôi thịt 15 - 18 tháng đạt 500kg, tỉ lệ thịt xẻ 65-70%
2.2. Bò Hereford
HORNED HEREFORD
2.2. Bò Hereford
POLLED HEREFORD
2.3. Bò Brahman
Có nguồn gốc từ Ấn Độ và Braxin được Mỹ lai tạo thành giống bò thịt cho các xứ nhiệt đới, u yếm rất phát triển. Có 2 dòng : Brahman đỏ có sắc lông màu vàng đến màu đỏ, Brahman trắng có sắc lông từ màu trắng xám đến đen nhạt ở đầu mút cơ thể, tai to cụp xuống.
Khối lượng đực trưởng thành 600 - 700kg, con cái 400 - 500kg, tỉ lệ xẻ thịt 55%.
2.3. Bò Brahman trắng
2.3. Bò Brahman trắng
2.3. Bò Brahman đỏ
2.3. Bò Brahman đỏ
2.4. Bò Santa Gertrudis
Do Mỹ lai tạo giữa hai giống bò thịt ôn đới và nhiệt đới, có sắc lông màu đỏ thẩm, u nhỏ, yếm khá phát triển. Thân hình có dạng hình chữ nhật. Bò nầy được lai tạo từ bò Shorthorn (5/8) và bò Brahman (3/8).
Khối lượng bò đực trưởng thành 800 - 1000kg, bò cái 600 - 700kg, tỉ lệ xẻ thịt đạt 60- 65%.
2.4. Bò Santa Gertrudis
2.4. Bò Santa Gertrudis
2.5. Bò Aberdeen Angus
Nguồn gốc từ Anh là giống bò thịt nhỏ con và rất được ưa chuộng ở Châu Au vì hệ số chuyển hóa thức ăn tốt và khả năng nuôi con tốt. Màu lông đen tuyền hoặc đỏ.
Trọng lượng con cái 550-650kg con đực 850-950kg. Tỷ lệ thịt xẻ 65-70%.
2.5. Bò Aberdeen Angus
2.5. Bò Aberdeen Angus
2.5. Bò Aberdeen Angus
(Red Angus)
2.5. Bò Aberdeen Angus
(Red Angus)
2.6. Bò Droughmaster
Nguồn gốc từ Uc, được lai tạo từ nhóm giống bò Zebu ( chủ yếu là bò Brahman) và các giống bò thịt cao sản ôn đới ( bò Devon, bò Shorthorn, Hereford, Red Poll ).
Bò Droughmaster to con, thân hình dài. Bò thường có màu đỏ nhạt hoặc đậm, lông ngắn. Bò có sừng hoặc không sừng. Yếm và dậu tương đối phát triển.
Bò thích nghi tốt, kháng bệnh và ve tốt. Bò cho chất lượng thịt rất tốt.
Trọng lượng bò cái bình quân 650 - 800 kg, bò đực bình quân 750 - 1000 kg. Khả năng sản xuất thịt cao , tỉ lệ thịt xẻ đạt trên 60%.
2.6. Bò Droughmaster
2.6. Bò Droughmaster
2.7. Bò Belgian Blue
Bò Belgian Blue có nguồn gốc từ Bĩ, là bò lai giữa 2 giống bò thịt Charolais và Shorthorn.
Bò có bắp thịt rất phát triển nhất là phần mông. Màu lông trắng, hoặc trắng lang đen.
Trọng lượng bò đực 800 - 1100kg, bò cái từ 600 - 700kg, lúc 12 tháng tuổi con cái nặng 370kg và con đực nặng khoảng 500kg.
2.7. Bò Belgian Blue
2.7. Bò Belgian Blue
2.7. Bò Belgian Blue
2.7. Bò Belgian Blue
2.7. Bò Belgian Blue
2.7. Bò Belgian Blue
2.7. Bò Belgian Blue
2.7. Bò Belgian Blue
III. CÁC GIỐNG BÒ KIÊM DỤNG
3.1. Bò Red Sindhi
3.2. Bò Ongole
3.3. Bò Simmental
3.1. Bò Red Sindhi
Bò Sind thuần ( Red Sindhi ) có nguồn gốc từ vùng Malir, ngoại vi Karachi của Pakistan.
Bò Sind thường có màu từ đỏ đến nâu cánh dán , thường có một vài đốm trắng trên trán và yếm. Bò có u, yếm phát triển . Sừng cong hướng lên trên.
Khối lượng bò cái trưởng thành từ 250 - 350 kg, bò đực từ 400-550 kg. Tuổi đẻ lần đầu vào khoảng 30 đến 40 tháng.
Sản lượng sữa trung bình từ 2000 -2300 kg /chu kỳ. Tỉ lệ béo trong sữa vào khoảng 4 -5 %. Bò thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nóng và sức đề kháng bệnh cao.
3.1. Bò Red Sindhi
3.1. Bò Red Sindhi
3.1. Bò Red Sindhi
3.2. Bò Ongole
Có nguồn gốc từ Pakistan, có sắc lông màu xám trắng, chân cao, u yếm khá phát triển. Khối lượng bò đực trưỏng thành 450-550kg, bò cái 400kg, bò này ở nông thôn gọi là bò bô sào. Năng suất sữa khoảng 1700 - 2000kg/chu kỳ.

Khả năng cày cấy kém hơn bò Sind, không được ưa chuộng nhiều ở Việt nam,hiện nay nhóm nầy còn rất ít.
3.2. Bò Ongole
3.2. Bò Ongole
3.3 Bò Simmental
Hướng sữa thịt có nguồn gốc từ Châu Au, chủ yếu từ Thụy Sĩ và Pháp, sắc lông màu đỏ hoặc vàng sậm. Thường có 6 điểm trắng: mặt, đuôi và 4 chân.
Khối lượng con đực trưởng thành 800-1200kg, con cái 600kg. Năng suất sữa 4000kg/chu kỳ, tỉ lệ thịt xẻ 60%
3.3 Bò Simmental
3.3 Bò Simmental
Bò Việt Nam còn gọi là bò Ta Vàng, bò Cỏ hay bò Cóc có một số đặc điểm chung : Tai nhỏ, u yếm kém phát triển,lông có màu vàng, vàng nhạt hoặc vàng đậm. Nhu cầu dinh dưỡng thấp, mắn đẻ, chịu đựng kham khổ, ít bệnh. Khối lượng trung bình con cái từ 180 - 200kg, con đực từ 250 - 300kg.
Bò Việt nam chưa có giống thuần được đặt tên riêng mà gọi theo địa danh của một số tỉnh có bò tốt như : Bò Thanh Hóa, bò Nghệ An, bò Cao bằng, bò Phú yên, bò Bà Rịa, bò Châu Đốc, bò vùng cao nguyên ..
Bò ta vàng có ưu điểm là thích nghi với điều kiện chăn nuôi ở Việt nam, nhưng xét về mặt năng suất sản xuất chưa cao : Sức cày kéo yếu, sản lượng sữa thấp, tỉ lệ thịt xẻ từ 42 - 45%.
3.3 Bò Ta Vàng
3.3 Bò Ta Vàng
3.3 Bò Ta Vàng
3.3 Bò Ta Vàng
3.3 Bò Bò Mèo Hà Giang