Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI VIỆT NAM THAM GIA HỘI NHẬP VÀ LIÊN KẾT QUỐC TẾ

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thi Thương (trang riêng)
    Ngày gửi: 17h:29' 20-05-2010
    Dung lượng: 875.0 KB
    Số lượt tải: 442
    Số lượt thích: 0 người
    NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI VIỆT NAM THAM GIA HỘI NHẬP VÀ LIÊN KẾT QUỐC TẾ


    NHÓM: 2
    I. GIỚI THIỆU
    Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế tất yếu trên phạm vi toàn cầu.
    Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
    II.NỘI DUNG
    KHÁI NIỆM HỘI NHẬP KINH TẾ
    Là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc:
    - Một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân;
    - Mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu
    Các đặc trưng hội nhập kinh tế quốc tế:

    Hội nhập kinh tế là sự phát triển cao của phân công lao động quốc tế
    Hội nhập kinh tế là sự phối hợp mang tính chất xuyên quốc gia giữa hai hay nhiều nước độc lập có chủ quyền trong một hay nhiều hiệp định kinh tế thương mại.
    Hội nhập kinh tế khu vực và song phương được xem và giải pháp trung hòa giữa hai xu hướng đối lập nhau trên thị trường thế giới.
    Hội nhập kinh tế khu vực và song phương luôn là một hành động tự giác, tích cực của các thành viên nhằm phối hợp và điều chỉnh các chương trình kinh tế với những thỏa thuận có đi có lại của các nước thành viên
    NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN
    1. Thuận lợi
    - Khắc phục được tình trạng bị phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế.
    - Đẩy mạnh thương mại và quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới.
    Việt Nam sẽ có lợi từ việc cải thiện hệ thống giải quyết tranh chấp khi có quan hệ với các cường quốc thương mại chính
    Việt Nam sẽ có điều kiện thu hút vốn, kinh nghiệm quản lý và công nghệ mới… của nước ngoài
    Nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả trong nền kinh tế, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam
    Tạo điều kiện mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm Việt Nam và thúc đẩy thương mại phát triển.
    2. Khó khăn
    Cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn, gây sức ép không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp. nhất là những doanh nghiệp đã quen với sự trợ giúp của Nhà nước, những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và công nghệ yếu kém
    Hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển dịch tự do qua biên giới các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hóa và dịch vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có cả những rủi ro về mặt xã hội.
    Thể chế kinh tế nước ta đang còn quá phức tạp, rườm rà khiến các nhà đầu tư e ngại khi đầu tư vào Việt Nam
    Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và đội ngũ doanh nhân chưa đủ mạnh đễ quản lý nền kinh tế.
    Hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến sự hợp tác về an ninh và văn hóa. Đồng thời, việc mở cửa thị trường, mở rộng giao lưu trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, bên cạnh nhiều mặt tốt, những cái xấu cũng du nhập vào gây ảnh hưởng không tốt dến truyền thống văn hóa Việt Nam.
    GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
    - Xây dựng cơ sở vật chất hạ từng nhằm thu hút đấu tư nước ngoài. Ứng dụng công nghệ khoa học kỷ thuật vào sản xuất nhằm khắc phục tình trạng lạc hậu và trì trệ trong sản xuất ở các doanh nghiệp.
    - Đề ra được những chính sách đúng đắn nhằm tăng cường khả năng kiểm soát vĩ mô, nâng cao tính năng động và khả năng thích ứng nhanh của toàn bộ nền kinh tế, củng cố và tăng cường các giải pháp an sinh xã hội để khắc phục những khó khăn ngắn hạn.
    - Phải liên tục hoàn thiện môi trường kinh doanh để thu hút đầu tư và phát huy mọi tiềm lực của tất cả các thành phần kinh tế. Đồng thời không ngừng hoàn thiện các quy định về cạnh tranh để bảo đảm một môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng khi hội nhập.
    - Tạo ra được một nền hành chính công khai hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn, một nền hành chính vì quyền lợi chính đáng của mọi người dân, trong đó có doanh nghiệp và doanh nhân, lấy người dân, doanh nghiệp, doanh nhân làm trọng tâm phục vụ, khăc phục mọi biểu hiện trì trệ, thờ ơ và vô trách nhiệm
    - Cần phải đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và đội ngũ doanh nhân đủ mạnh, có năng lực và phẩm chất tốt.
    - Các cấp lãnh đạo, quản lý và mọi người dân phải nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nhằm nâng cao sức đề kháng, chống lại sự tha hóa, biến chất, chống lại lối sống hưởng thụ, tự do tư sản…
    III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
    1. Kết luận
    - Việc Việt Nam tham gia hội nhập và liên kết quốc tế là một tất yếu khách quan, việc hội nhập kinh tế quốc tế đưa đến cho Việt Nam rất nhiều cơ hội mới trong sự nghiệp phát triển kinh tế cũng như những thách thức mà chúng ra cần giải quyết để tiến tới hội nhập kinh tế quốc tế.
    - Nắm bắt thời cơ, vượt qua những thách thức rất lớn, phát huy cao độ nội lực, khai thác tối đa các nguồn lực bên ngoài để tạo thế lực mới cho công cuộc phát triển kinh tế, xã hội, nhất định đất Việt Nam sẽ tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước kém phát triển vào năm 2010 và trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020
    2. Kiến nghị
    - Tiếp tục tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam.
    - Cần có Chiến lược tổng thể về đàm phán các hiệp định thương mại song phương (FTA), trong đó nêu ra những mục tiêu, tiêu chí, đối tượng cần xúc tiến đàm phán nên trong quá trình đàm phán thường gặp những vấn đề nảy sinh chưa dự kiến được.
    - Công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành trong hội nhập KTQT phải chặt chẽ hơn nữa, có quy chế phối hợp giữa các cơ quan trung ương với nhau, giữa các cơ quan trung ương với các địa phương và giữa trong nước với Đoàn đàm phán.

    No_avatar
    Hôn
     
    Gửi ý kiến
    print