Truyền kỳ mạn lục - Nguyễn Dữ


(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Hải
Ngày gửi: 22h:49' 01-12-2010
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 161
Số lượt thích: 0 người
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM BÀ RỊA - VŨNG TÀU
TÓM TẮT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

BƯỚC TIẾN CỦA THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN TRUYỀN KỲ
VIỆT NAM QUA TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ








Ngu?i th?c hi?n:Ths. Lê Văn Hùng
Năm học 2007-2008
I. Lý do chọn đề tài:

1 - Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (? -?) là một trong những đỉnh cao của văn học Việt Nam trung đại. Tập truyện ra đời là một bước đột khởi trong nền văn xuôi dân tộc, đánh dấu sự trưởng thành của truyện ngắn Việt Nam trung đại, đánh dấu sự chuyển biến từ văn xuôi mang nặng tính chức năng sang văn xuôi giàu tính nghệ thuật. Đó cũng chính là quá trình thoát dần khỏi những ảnh hưởng thụ động của văn học dân gian và văn xuôi lịch sử - vốn là hai nguồn gốc quan trọng trong sự hình thành của thể loại này để bước sang một giai đoạn mới - giai đoạn của văn xuôi tự sự, của truyện ngắn nghệ thuật. Do đó Truyền kỳ mạn lục có một vị trí đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển của văn xuôi nói riêng và văn học Việt Nam trung đại nói chung.
2 - Ở Việt Nam, lịch sử phát triển của truyện ngắn Việt Nam trung đại được PGS Nguyễn Đăng Na phân chia làm ba giai đoạn từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX. Giai đoạn đầu từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV, là giai đoạn văn học mang nặng tính chức năng tôn giáo, hành chính và cũng là giai đoạn hình thành truyện chích quái như Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp (?-?) Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên (?-?). Sang đến thế kỷ XV-XVI với sự xuất hiện Thánh Tông di thảo, tương truyền của vua Lê Thánh Tông (1442-1497) và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ có thể coi là giai đoạn phát triển thành công rực rỡ nhất của truyền kỳ Việt Nam. Với đặc điểm dùng hình thức kỳ ảo làm phương tiện chuyển tải nội dung, đặc trưng của thể loại truyền kỳ đã hình thành một cách rõ nét. Hơn nữa, sự xuất hiện kiểu nhà văn mới - nhà văn người sáng tạo càng cho ta thấy rõ hơn sự phát triển đến đỉnh cao của thể loại truyện ngắn truyền kỳ mà tiêu biểu là Truyền kỳ mạn lục. Sang giai đoạn thế kỷ XVII - XIX, truyện ngắn mang nặng chất ký mà không chuyển sang chí dị và không còn những đỉnh cao như Truyền kì mạn lục.
3 - Nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục chính là tìm ra nét đặc trưng phát triển của thể loại cũng như thành tựu của nó được đúc kết trong tác phẩm này. Có một giai đoạn dài người ta mới chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề về nội dung xã hội mà ít chú ý mặt thể loại của tác phẩm. Trong thời gian gần đây cùng với sự phát triển của khoa nghiên cứu văn học đã có một số nhà khoa học chú ý đến sự phát triển của thể loại truyện ngắn truyền kỳ trong đó có Truyền kỳ mạn lục nhưng tìm hiểu riêng về tác phẩm Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ thể loại thì hầu như chưa có công trình nào. Chính vì vậy có thể coi đề tài Bước tiến của thể loại truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam qua Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ của chúng tôi là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu tác phẩm này dưới góc độ thể loại.
II. Lịch sử vấn đề:
Truyền kỳ mạn lục có tiếng vang lớn trong giới nho sĩ ngay từ sinh thời tác giả. Việc Nguyễn Thế Nghi (thế kỷ XVI) người cùng thời với Nguyễn Dữ đem dịch Nôm tác phẩm này thành Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chí đã chứng tỏ sự quan tâm của xã hội đối với tác phẩm.

Truyền kỳ mạn lục dưới con mắt các nhà văn, nhà nghiên cứu cổ trước thế kỷ XVIII.

2. Truyền kỳ mạn lục từ thế kỷ XVIII đến 1954.

3. Truyền kỳ mạn lục dưới con mắt các nhà nghiên cứu từ 1954 đến nay.
III. Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và bố cục của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp xử lý đề tài.
Bố cục của đề tài.
Đề tài gồm 3 phần:

A - Mở đầu
Lý do chọn đề tài.
Lịch sử vấn đề.
III. Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và bố cục đề tài.
IV. Mục đích khoa học và đóng góp của đề tài.
B - Nội dung

Chương I

Một vài vấn đề lý luận về thể loại truyện ngắn truyền kỳ trung đại
Các giai đoạn phát triển của truyện ngắn Việt Nam trung đại.
I- Một vài vấn đề lý luận về thể loại.

1. Truyện ngắn truyền kỳ là gì? Tại sao gọi là truyền kỳ?
2. Truyện truyền kỳ xuất hiện từ bao giờ?

II- Các giai đoạn phát triển của truyện ngắn Việt Nam trung đại.

1. Giai đoạn truyện chích quái.
2. Giai đoạn truyện truyền kỳ.
3. Giai đoạn các truyện ký.
III- Về tác giả - Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục

1. Vài nét về Truyền kỳ mạn lục.
Theo một số nhà nghiên cứu thì Nguyễn Dữ là người xã Đoàn Lâm, huyện Gia Phúc, tỉnh Hải Dương, thuộc Hồng Châu (nay thuộc xã Đoàn Lâm, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương). Hiện cũng chưa rõ năm sinh, năm mất của ông.
Cha của Nguyễn Dữ là Nguyễn Tường Phiến, đậu Tiến sĩ đời Hồng Đức1706 làm tới chức Thượng thư. Nguyễn Dữ từ nhỏ ham học, nhớ nhiều và tương truyền là một trong những học trò giỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1494-1585), là bạn đồng học của Phùng Khắc Khoan. Nguyễn Dữ sống vào khoảng các triều vua Lê Uy Mục (1505-1509), Lê Tương Dực (1510-1516), Lê Hiến Tông (1516-1522). Lê Cung Hoàng (1522-1526) và đầu triều Mạc (1527-1592).
Như vậy ông sống vào cuối thời Lê và đầu triều Mạc - một thời loạn ly rối ren. Thời kỳ này, theo sử sách đất nước ta có những ông vua như Uy Mục là tên vua chỉ ngày đêm rượu chè, cờ bạc, đàn hát, thích chém giết, Trương Dực kế tiếp hoang dâm, xa xỉ hơn, giết hàng loạt mười lăm hoàng thân, tư thông với cung nhân đời trước, bắt đàn bà cởi trần chèo thuyền rong chơi Hồ Tây" [31/184]. Sống trong thời kỳ biết bao ngang trái xảy ra, Nguyễn Dữ không thể quay lưng lại với hiện thực được. Đó là một xã hội mà các cuộc tàn sát xảy ra liên miên để tranh giành quyền lực. Đất nước chìm trong đau thương với những cảnh "huynh đệ tương tàn", "nồi da nấu thịt". Cùng lúc đó Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, lập lên nhà Mạc vào năm 1527, tạo nên những xáo động lớn trong xã hội.
2. Vài nét về Nguyễn Dữ.
Có rất nhiều bản Truyền kỳ mạn lục hình như cũng lấy chung từ một bản gốc. Các văn bản còn lại đến nay gồm có bản in khắc năm 1712 (có bài tựa của Hà Thiện Hán đề năm Vĩnh Định sơ niên (1547) triều Mạc Phúc Nguyên), năm 1714, 1728, 1763, 1774 (trong hai bản kể cuối này do hai gia đình Nguyễn Bích và Nguyễn Đình Lân ở Liễu Tràng khắc in). Ngoài ra còn một số bản chép tay. Ở các bản này ngoài phần nguyên văn chữ Hán của Nguyễn Dữ còn có phần Tăng bổ giải âm tập chí là phần dịch ra chữ Nôm với chú thích điền cố và chữ khó. Trong văn bản của cả 6 bản Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chí hiện còn không thấy ghi tên người thực hiện việc giải âm (dịch ra chữ Nôm) và tập chí (chú thích) là ai. Song tương truyền Đại hưng hầu Nguyễn Thế Nghi bạn thân của Mạc Đăng Dung đã dịch ra chữ Nôm,
Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan phủ chính. Truyền kỳ mạn lục gồm 4 quyển, Phan Huy Chú ghi có 22 truyện nhưng các bản sách dịch hiện còn 20 truyện. Các truyện đều được viết bằng văn xuôi, xen lẫn một ít văn biền ngẫu và thơ ca.
Trừ truyện số mười chín (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa) các truyện còn lại đều có lời bình của tác giả (hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả) ở cuối truyện. Khác với lời bàn của Sơn Nam Thúc trong Thánh Tông di thảo, lời bình các truyện trong Truyền kỳ mạn lục không bàn về nghệ thuật văn chương mà chủ yếu bàn về nội dung ý nghĩa. Vũ Tố Hảo trong bài viết "Một vài nghi vấn về bản Truyền kỳ mạn lục hiện đang lưu hành" đã cho rằng: Có một số truyện vốn là trong nguyên bản Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, nhưng có không ít những truyện do tác giả nào đó ở thế kỷ XVIII trong ghi chép lại tác phẩm của Nguyễn Dữ đã thêm thắt theo tư tưởng của thời đại mình.
Phải đi sâu vào Tân biên để lọc ra những gì là của Nguyễn Dữ và những gì là của đời sau sửa chữa bổ sung. Bởi theo tác giả một số truyện có tính chất triết lý vạch trần sự rối loạn xấu xa, thối nát, suy vi đến cực độ của xã hội thời đó đồng thời ca ngợi lối sống nhàn tản tiêu biểu là Câu chuyện ở đền Hạng Vương hay Người tiều phu núi Na. Những truyện này gần với nội dung chính thể hiện trong các tác phẩm thế kỷ XVI và XVII. Nhưng một số truyện lại có tính chất lãng mạn trữ tình nói về số phận của người phụ nữ, khát vọng về tự do yêu đương và hạnh phúc cá nhân như Chuyện cây gạo, Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây. Những truyện này gần với nội dung văn học thế kỷ XVIII, với những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm.

Chương II
Giai đoạn mới trong quan hệ giữa truyện truyền kỳ với văn học dân gian và văn xuôi lịch sử. Những ảnh hưởng của văn học nước ngoài tới Truyền kỳ mạn lục.

I- Từ những ảnh hưởng thụ động đến việc tiếp thu một cách có ý thức văn học dân gian.

II- Từ sự thật lịch sử đến tính chân thực của hình tượng văn học.

III- Ảnh hưởng của văn học nước ngoài tới Truyền kỳ mạn lục.
Chương III
Những biến đổi trong mối quan hệ giữa yếu tố kỳ và thực. Những giá trị hiện thực và thành tựu trong việc xây dựng nhân vật.

I- Từ cái kỳ siêu nhiên đến một bút pháp nghệ thuật.
II- Sự kết hợp giữa kỳ và thực là đặc trưng của Truyền kỳ mạn lục.
III- Những giá trị hiện thực và thành tựu trong việc xây dựng nhân vật.
IV- Sự trưởng thành của một kiểu loại nhà văn mới.
C - Kết luận
IV. Mục đích khoa học và đóng góp của đề tài

1. Về mặt lý luận:
Từ khi ra đời cho đến nay, Truyền kỳ mạn lục đã và đang chiếm được cảm tình của người đọc và sự quan tâm của giới nghiên cứu. Càng ngày người ta càng muốn tìm hiểu sâu về Truyền kỳ mạn lục và sự hình thành của thể loại truyền kỳ trong sự phát triển của văn xuôi tự sự Việt Nam.
2. Về thực tiễn:
Trước kia và nhất là thời gian gần đây Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm được lựa chọn vào giảng dạy ở trong trường phổ thông và đại học. Một số truyện đã được đưa vào chương trình phổ thông như: Người con gái Nam Xương, Chức phán sự đền Tản Viên. Ở các trường đại học thì Truyền kỳ mạn lục đã được giới thiệu trọn vẹn.
3. Từ những vấn đề về lý luận và thực tiễn trên đây chúng tôi sẽ lần lượt giải quyết các vấn đề sau:
- Thứ nhất, làm sáng rõ đặc trưng thể loại truyền kỳ nói chung trong sự phân biệt với các thể loại văn học khác, trong mối quan hệ với văn học dân gian và văn xuôi lịch sử.
- Thứ hai, nghiên cứu sự phát triển của đề tài, cốt truyện, kết cấu tác phẩm loại hình nhân vật, phương thức thể hiện nhân vật.
- Thứ ba, nghiên cứu sự trưởng thành của nhà văn, từ người ghi chép đến người sáng tạo. Trước đó Lý Tế Xuyên với tác phẩm Việt điện u linh tập và Trần Thế Pháp với Lĩnh Nam chích quái lục đều là những người ghi chép thần tích, truyện dân gian một cách sáng tạo. Chỉ đến Lê Thánh Tông với Thánh Tông di thảo và Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục thì mới thực sự xuất hiện các nhà văn có khả năng độc lập.
NỘI DUNG
Chương I
MỘT VÀI VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN TRUYỀN KỲ. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM TRUNG ĐẠI.
I. Một vài vấn đề lý luận về thể loại:
1. Truyện truyền kỳ là gì ? Tại sao gọi là truyền kỳ?
Giáo sư Trần Xuân Đề trong Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc cho rằng: "Truyền kỳ có nghĩa là truyền thuyết, đồng nghĩa với chí (ghi chép), kỳ là kỳ quái kinh dị, truyền kỳ là truyền bá những câu chuyện kỳ quái. Theo Lỗ Tấn thì đời Đường những người làm cổ văn không thích loại truyện này nên đã gọi chúng là truyền kỳ thể. Và hai chữ truyền kỳ này được gọi với một ý nghĩa khinh thường chứ không phải là hai chữ mà ngày nay chúng ta dùng" [20 - 11]. Vì vậy ta có thể cho rằng: Truyền kỳ là những câu chuyện kỳ ảo hoang đường được lưu truyền trong dân gian nằm ngoài những sách ký và kinh điển Nho gia.

II- Các giai đoạn phát triển của truyện ngắn Việt Nam trung đại:
Giai đoạn truyện ngắn chí quái.
Giai đoạn truyện ngắn truyền kỳ.
Giai đoạn các truyện ký.

2. Truyện truyền kỳ xuất hiện từ bao giờ?
Thuật ngữ truyền kỳ xuất hiện lần đầu tiên trong đầu đề một truyện ngắn của nhà văn Trung Quốc - Bùi Hình (giữa thế kỷ IX). Tác phẩm có tên là Truyền kỳ.
III- Nguyễn Dữ và Truyền kỳ mạn lục.
1. Một vài nét về Nguyễn Dữ.
Theo một số nhà nghiên cứu thì Nguyễn Dữ là người xã Đoàn Lâm, huyện Gia Phúc, tỉnh Hải Dương, thuộc Hồng Châu (nay thuộc xã Đoàn Lâm, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương). Hiện cũng chưa rõ năm sinh, năm mất của ông.
2. Vài nét về Truyền kỳ mạn lục.
Có rất nhiều bản Truyền kỳ mạn lục hình như cũng lấy chung từ một bản gốc. Các văn bản còn lại đến nay gồm có bản in khắc năm 1712 (có bài tựa của Hà Thiện Hán đề năm Vĩnh Định sơ niên (1547) triều Mạc Phúc Nguyên), năm 1714, 1728, 1763, 1774 (trong hai bản kể cuối này do hai gia đình Nguyễn Bích và Nguyễn Đình Lân ở Liễu Tràng khắc in).

Đây là tác phẩm hay với nội dung phong phú, bên trong cái vỏ của những yếu tố hoang đường kỳ ảo là một nội dung xã hội đa dạng, một khuynh hướng sáng tạo đậm đà tư tưởng nhân văn. Nội dung chủ yếu của Truyền kỳ mạn lục là phản ánh cuộc sống hiện thực đời thường.
Với nội dung phong phú và nghệ thuật đặc sắc như vậy Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thật xứng đáng là một áng văn hay, một thiên cổ kỳ bút mà không tác phẩm nào thuộc thể loại này ở Việt Nam vượt qua được. Để tiện cho việc nghiên cứu chúng tôi chia 20 truyện trong Truyền kỳ mạn lục theo chủ đề và theo sự ảnh hưởng thể loại truyện như sau:
Chủ đề phê phán giai cấp thống trị.

Câu chuyện ở đền Hạng Vương.
Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu.
Chuyện gã Trà đồng giáng sinh.
Chuyện nghiệp oan của Đào Thị.
Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi thiên tào.
Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na.
Chuyện ngôi chùa hoang ở huyện Đông Trào.
Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang.
Chuyện Lý tướng quân.
Chuyện tướng Dạ Xoa.
Chuyện đối tụng ở Long Cung.
Truyện chia theo chủ đề có:

Chủ đề phụ nữ và tình yêu.
Chuyện cây gạo.
Chuyện Người nghĩa phụ ở Khoái Châu.
Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây.
Chuyện đối tụng ở Long cung.
Chuyện nghiệp oan của Đào Thị.
Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên.
Chuyện yêu quái Xương Giang.
Chuyện nàng Túy Tiêu.
Chuyện người con gái Nam Xương.
Chuyện Lệ Nương.
Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa.
Bên cạnh việc chia theo chủ đề chúng tôi còn chia theo sự ảnh hưởng của các thể loại truyện khác.



Ảnh hưởng của truyện dân gian:
Từ Thức lấy vợ tiên.
Chuyện người con gái Nam Xương.

Ảnh hưởng truyền thuyết anh hùng địa phương:
Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây.
Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (một số chi tiết chính).
Câu chuyện ở đền Hạng Vương.
Chuyện cây gạo (Một số ý chính).
Một số truyện được coi là sáng tác của Nguyễn Dữ:
Chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na.
Chuyện bữa tiệc đêm Đà Giang.

Ảnh hưởng môtíp dân gian thế giới:
Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây.
Chuyện cây gạo.
Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên.
Chuyện yêu quái ở Xương Giang.

- Môtíp bị cướp vợ:
Chuyện đối tụng ở Long cung.
Chuyện nàng Lệ Nương.
Chuyện nàng Túy Tiêu.
Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu.
Chương II
GIAI ĐOẠN MỚI TRONG QUAN HỆ GIỮA TRUYỆN

TRUYỀN KỲ VỚI VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN XUÔI LỊCH SỬ.

NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI TỚI

TRUYỀN KỲ MẠN LỤC.
I- Từ những ảnh hưởng thụ động đến việc tiếp thu một cách có ý thức văn học dân gian:

Văn học trong đó có văn học dân gian luôn có mối liên hệ mật thiết với đời sống vật chất, tinh thần của mỗi một thời kỳ lịch sử. Sự biến đổi lâu dài của văn học dân gian trong quá trình lịch sử do môi trường sinh hoạt, quan hệ xã hội và tín ngưỡng, phong tục tập quán đổi thay đã làm cho diện mạo văn học thay đổi theo khá sâu sắc về nội dung và hình thức. Kho tàng truyện dân gian bị thay đổi không chỉ một lần. Nhiều lớp áo khác nhau đã khoác lên chúng ở nhiều giai đoạn khác nhau và lâu dần trở thành những thành tố nội tại.
II- Từ tính chân thực lịch sử đến tính hiện thực của hình tượng văn học:
Cũng như phonklore, văn xuôi lịch sử cũng là một trong những nguồn gốc quan trọng hình thành nên truyện ngắn trung đại ở thời kỳ đầu. Chính những tác phẩm sử học, trong đó chứa đựng những câu chuyện, hình ảnh, môtíp giàu tính nghệ thuật, đã đóng vai trò quan trọng như một trong những hình mẫu dễ bắt chước của các nhà viết truyện. Và quá trình phát triển của thể loại truyện ngắn trung đại cũng chính là quá trình dần thoát khỏi những ảnh hưởng của văn xuôi lịch sử, khỏi "cuống nhau" đã nuôi dưỡng mình để hình thành nên một thể loại văn học độc lập, để có thể có được một tác phẩm đỉnh cao giàu giá trị nghệ thuật như Truyền kỳ mạn lục, Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái lục đề cao tính chân thực lịch sử, coi việc ghi chép làm sao gần với lịch sử là mục đích chính của mình. Việt điện u linh tập không phải là một tập truyện sáng tác mà là một cuốn sách biên soạn, tập hợp những truyện đã có sẵn. Ngoài cái nguồn quan trọng ở các sách Giao chỉ ký, Báo cực truyện và Đỗ Thiện sử ký mà Lý Tế Xuyên hay trích dẫn thì soạn giả còn dựa vào thần tích các miếu, đền và các đạo sắc chỉ phong thần của các vua đời Trần [25/29].
III- Ảnh hưởng của văn học nước ngoài tới Truyền kỳ mạn lục
Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng của văn học dân gian và văn xuôi lịch sử nhưng tư tưởng sáng tác của ông đã dần dần thoát khỏi những ảnh hưởng thụ động đó. Các cốt truyện văn học dân gian và lịch sử đã được Nguyễn Dữ cải biên và hư cấu thêm rất nhiều. Nhưng ngoài văn học dân gian và văn xuôi lịch sử Truyền kỳ mạn lục còn chịu ảnh hưởng của văn học nước ngoài đặc biệt là văn học Trung Quốc. Ngay từ thế kỷ XVIII trong phần "Nghệ văn chí" sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn đã chép rằng Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là "mô phỏng theo Tiễn đăng tân thoại của Nho gia đời Nguyên".
Chương III
NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA YẾU TỐ KỲ VÀ THỰC.
NHỮNG GIÁ TRỊ HIỆN THỰC VÀ THÀNH TỰU TRONG VIỆC
XÂY DỰNG NHÂN VẬT.


Nghiên cứu sự phát triển của yếu tố kỳ và thực và những biến đổi trong mối quan hệ giữa chúng trong truyện ngắn truyền kỳ trung đại sẽ cho phép chúng ta nhìn thấy những biến đổi về mặt thi pháp của thể loại, làm sáng tỏ bản chất và quy luật trong quá trình phát triển của thể loại này cũng như tính độc đáo của nó trong việc phản ánh hiện thực. Nghiên cứu sự biến đổi của bút pháp truyền kỳ cũng chính là nghiên cứu sự phát triển, hình thành của thể loại qua đó có thể thấy được sự tiến bộ của nhà văn trong quá trình phản ánh cuộc sống. Xem xét sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam trung đại có thể thấy rõ sự cố gắng của các nhà văn trong việc sử dụng yếu tố kỳ như một bút pháp nghệ thuật, để đạt đến đỉnh cao của thể loại với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.
I- Từ cái kỳ siêu nhiên đến một bút pháp nghệ thuật.
Ở Việt Nam, truyện ngắn thời trung đại viết về cái kỳ đã được đề cập đến nhiều. Nhưng cái kỳ ở đây nhiều khi chưa được xem xét dưới góc độ là bút pháp nghệ thuật, chưa được gắn với sự phát triển chung của thể loại. Cái kỳ đôi lúc vẫn được xem như một mặt hạn chế, gắn với mê tín dị đoan, phi hiện thực. Các nhà nghiên cứu khi đánh giá giá trị của các tập truyện truyền kỳ thường có câu: Nếu bỏ đi những yếu tố kỳ ảo hoang đường mang tính mê tín dị đoan xa rời hiện thực thì sẽ thấy hết được giá trị tác phẩm v.v. Nhưng xét dưới góc độ nghệ thuật thì chính những cái bị coi là phi hiện thực kỳ ảo ấy đã tạo nên bản sắc riêng biệt của truyện ngắn Truyền kỳ trung đại.
II- Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố kỳ và thực là đặc trưng của Truyền kỳ mạn lục.
Trong Truyền kỳ mạn lục các câu chuyện kỳ lạ được viết có vẻ như đã xảy ra từ hàng trăm năm về trước, nhưng về thực chất lại phản ánh được những phần sâu sắc của hiện thực đương thời. Trong tác phẩm này có loại truyện vạch trần chế độ đen tối của giai cấp thống trị phong kiến lúc suy thoái, đả kích hôn quần bạo chúa, những tên tham quan nhũng lại, đồi phong bại tục, đồng tình với cảnh ngộ của nhân dân lương thiện bị chà đạp; có loại truyện nói đến tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng; lại có chuyện viết về đời sống lý tưởng của kẻ sĩ, nổi bật hơn là đời sống của tầng lớp nho sĩ ở ẩn. Truyện của Nguyễn Dữ toát lên tinh thần dân tộc. Hầu hết hai mươi truyện của Truyền kỳ mạn lục đều viết về con người Việt, phong cảnh núi rừng đất Việt, thời gian xảy ra các truyện đều là ở đời Lý, đời Trần, đời Hồ hay Lê sơ.
Có thể nói truyện truyền kỳ Việt Nam ảnh hưởng sâu sắc nền văn xuôi truyền kỳ Trung Quốc và mang những đặc điểm loại hình của truyện ngắn Trung đại Viễn Đông bao gồm các nước Triều Tiên, Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam.
III- Những giá trị hiện thực và thành tựu trong việc xây dựng nhân vật.

IV- Sự trưởng thành của một kiểu loại nhà văn mới.
Đọc tác phẩm của Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp ta ít thấy sự sáng tạo. Đó là những tập truyện sưu tập, hiệu đính, bổ sung các tích cũ từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau bằng tri thức bác học của các tác giả trên. Đến Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ đã xuất hiện một kiểu nhà văn mới - nhà văn người sáng tạo. Những sáng tác của Thánh Tông và Nguyễn Dữ mang mầu sắc chủ quan, nhà văn hóa thân vào nhân vật xem xét thế giới bằng quan điểm của một trong những nhân vật của mình. Như các nhân vật chính trong các truyện Từ Thức lấy vợ tiên, Người tiều phu núi Na là những nhân vật được Nguyễn Dữ viết ra để nói lên tư tưởng, lý tưởng sống của mình. Có khi người viết lại chính là nhân vật chính trong truyện. Điều này không hề có trong tác phẩm của Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp. Ở đây vai trò của người sáng tạo đã thay thế dần vị trí của người sưu tập, kể chuyện.
KẾT LUẬN
Tìm hiểu sự phát triển của thể loại truyện ngắn trung đại của dân tộc là một việc làm hết sức công phu và hấp dẫn. Ở đề tài này chúng tôi mới đi tìm hiểu sự phát triển của riêng loại truyện ngắn truyền kỳ qua đỉnh cao của thể loại là Truyền kỳ mạn lục. Có thể nói, chất truyền kỳ, chích quái là một trong những đặc điểm độc đáo của văn học trung đại vùng Viễn Đông. Ở Việt Nam, loại truyện mang tính chất trên có sự phát triển khá đặc biệt và theo những quy luật riêng. Chất truyền kỳ trong tác phẩm cũng có độ đậm nhạt khác nhau ở những thời kỳ phát triển khác nhau của văn học cho đến tận cuối thế kỷ XIX và những năm đầu của thế kỷ XX.
Từ nội dung của các chương trên ta có thể đi đến những kết luận sau:
1. Truyện truyền kỳ là thể loại văn xuôi độc đáo của văn học vùng Viễn Đông. Trong đó yếu tố kỳ đóng vai trò quan trọng trong kết cấu của mỗi tác phẩm và trong toàn bộ sự phát triển của thể loại. Một trong những nguồn gốc quan trọng của truyền kỳ là văn học dân gian và văn xuôi lịch sử nhưng truyền kỳ cũng tách khỏi truyền thuyết, truyện cổ tích và văn xuôi lịch sử bằng những đặc điểm thể loại của mình, qua ngôn ngữ, bút pháp, kết cấu và đặc biệt là khả năng mô tả đời sống nội tâm nhân vật. Tất cả được phản ánh thông qua quan điểm nghệ thuật sáng tạo của nhà văn.
2. Để thấy được vai trò quan trọng của Truyền kỳ mạn lục trong sự phát triển của thể loại truyện truyền kỳ, chúng tôi đã cố gắng trình bày lịch sử phát triển trong truyện ngắn Việt Nam trung đại để qua đó có thể, trong một mức độ nào đó, thấy được bức tranh toàn cảnh của thể loại truyện ngắn Việt Nam qua các giai đoạn phát triển. Ở Việt Nam truyện ngắn xuất hiện từ thế kỷ XIII qua những tư liệu chúng ta đã có. Những điều kiện lịch sử xã hội và văn học của giai đoạn này cũng như những ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học Trung Quốc đã thúc đẩy sự xuất hiện của thể loại này ở Việt Nam. Trong thời kỳ ban đầu truyện ngắn mang nặng tính chức năng, yếu tố nghệ thuật còn ít, nhà văn nhiều khi viết truyện với tư cách của một nhà sử học.
Tác phẩm ngoài giá trị văn học còn có chức năng tôn giáo và hành chính, ảnh hưởng của văn học dân gian và văn xuôi lịch sử còn hết sức nặng nề. Nhà văn đóng vai trò người sưu tập và hiệu đính các tập truyện và các nhân vật trong các truyện được xây dựng với bút pháp của sử ký và thần thoại. Nhân vật trong các truyện chủ yếu là những nhân vật lịch sử có thật và những nhân vật thần thoại và nửa thần thoại. Đó là giai đoạn ban đầu khi nhà văn bắt đầu có những sáng tạo nhất định trong quá trình sáng tác nhưng có thể nói sự sáng tạo độc lập còn yếu.
Thánh Tông với Thánh Tông di thảo và đặc biệt Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục đã làm những bước tiến vượt bậc trong sự phát triển thể loại và trong một chừng mực nhất định đã vượt ra khỏi khuôn khổ của giai đoạn trước. Nguyễn Dữ đã xuất hiện với tư cách của một người sáng tạo độc lập, có khả năng hư cấu cốt truyện và tạo ra những nhân vật của riêng mình. Có thể nói Truyền kỳ mạn lục đã thoát khỏi những ảnh hưởng thụ động của văn học dân gian và văn xuôi lịch sử cũng như văn học nước ngoài. Ở đây chúng ta có thể thấy sự tác động qua lại lẫn nhau giữa hai truyền thống. Đó là sự phát huy tiếp tục những thành tựu của truyện ngắn dân tộc mà Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp và Thánh Tông đã tạo lập cũng như những thành tựu của văn học dân gian.
Mặt khác Nguyễn Dữ cũng đã kế thừa một cách sáng tạo những đỉnh cao của truyện ngắn truyền kỳ khu vực đặc biệt là của văn học Trung Quốc. Chính vì vậy ở một mức độ nào đó có thể nói rằng thành tựu ở đỉnh cao của Truyền kỳ mạn lục không chỉ có giá trị giới hạn trong văn học Việt Nam mà còn là một trong những thành tựu của văn học Viễn Đông, trong những nước ảnh hưởng văn học và ngôn ngữ Hán.
Mặc dù được viết bằng bút pháp truyền kỳ nhưng người đọc Truyền kỳ mạn lục vẫn cảm nhận được quá khứ lớn lao của dân tộc khi tiếp cận những câu chuyện mang tính truyền kỳ này. Ở đây những câu chuyện đậm chất kỳ mặc dù mang cốt cách riêng nhưng không làm mất sự gắn bó với đời sống hiện thực. Nguyễn Dữ tạo cho thể loại truyện truyền kỳ một sự ghi chép đơn giản đã trở thành một thủ pháp nghệ thuật độc đáo đem lại sự hấp dẫn kỳ lạ và sự sáng tạo lớn lao cho thể loại văn học này.
Nguyễn Dữ đã kết hợp được trong mình các giá trị văn hóa, văn học, các yếu tố nội dung hình thức bằng năng lực của một nhà văn "bậc đại gia". Ông đã tiếp thu được tinh hoa văn học từ nhiều khu vực, của nhiều dân tộc, với bộ phận văn học dân gian phong phú, của khu vực văn hóa Đông Nam Á và Ấn Độ thời trung đại, đặc biệt là văn học và thể loại truyện ngắn truyền kỳ Trung Quốc cùng với truyền thống truyện ngắn đã hình thành từ thế kỷ XIII-XIV của Việt Nam. Xuất thân là một nhà nho nhưng Nguyễn Dữ đã thể hiện tinh thần tự do tư tưởng phần nào vượt ra khỏi vòng kiềm tỏa của văn học chính thống, hồn nhiên hòa nhập với những trào lưu khác đang nẩy nở và đầy biến động trong xã hội. Đối với thời cuộc và vương triều phong kiến, Nguyễn Dữ sống ẩn mình nhưng trong văn chương ông lại thể hiện mình là người năng động sáng tạo. Tác phẩm của Nguyễn Dữ có cả "hai xu hướng dân chủ hóa và thẩm mỹ hóa, vừa phổ cập vừa nâng cao", ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng dân chủ, tự do, phóng khoáng của Đạo giáo. Hai mặt đối lập này chỉ có thể thống nhất được nhờ những tài năng lớn.
3. Truyền kỳ mạn lục tạo ra một giai đoạn mới trong quan hệ giữa thể loại truyện ngắn với văn học dân gian và văn xuôi lịch sử, cũng như đã mở ra một thời kỳ mới trong sự phát triển ý thức nghệ thuật của nhà văn. Tác phẩm đã thể hiện sự chuyển tiếp giao thoa giữa nhiều vấn đề khác nhau trong sự phát triển của truyện ngắn trung đại: giữa truyền thống văn học dân gian và khả năng sáng tạo độc lập của nhà văn, giữa thói quen ảnh hưởng một cách thụ động của văn học dân gian và quá trình dần dần thoát khỏi ảnh hưởng đó. Đó cũng chính là quá trình quá độ khi truyện ngắn trung đại thoát khỏi ảnh hưởng lớn lao của văn xuôi lịch sử và văn học dân gian tự sự để làm bước chuyển sang văn xuôi mang tính nghệ thuật cao và mang tính sáng tạo cá thể của nhà văn.
Ở đây diễn ra quá trình biến đổi về chất trong quan hệ giữa truyện ngắn trung đại và văn học dân gian. Truyện ngắn một mặt dần thoát khỏi ảnh hưởng thụ động của văn học dân gian, mặt khác lại tích cực tiếp thu những yếu tố thúc đẩy quá trình nghệ thuật của tác phẩm. Đó là hai quá trình diễn ra song song có tính chất đối nghịch nhau trong Truyền kỳ mạn lục.
Việc sử dụng những tư liệu của văn học dân gian của Nguyễn Dữ so với các tác giả trước đó còn được thể hiện ở trình độ cao hơn khi ông thời sự hóa nguồn tài liệu này và khiến nó gần gũi hơn với con người. Những chi tiết, yếu tố của truyền thuyết, cổ tích mờ nhạt dần và những vấn đề của đời sống hiện thực thay thế dần vị trí của những yếu tố cũ này. Đó chính là quá trình thể hiện sự tiến bộ của truyện ngắn.
Quá trình từ khi nhà văn xuất hiện như một con người tập hợp và hiệu đính những tập truyện đến thời gian mà họ có khả năng tự sáng tạo là một quá trình không đơn giản trong sự hình thành phong cách của nhà văn. Con đường tiến triển từ Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp, Lê Thánh Tông tới Nguyễn Dữ là một bước tiến lớn lao trong toàn bộ lịch sử truyện ngắn Việt Nam trung đại. Mà nếu ta xem xét một cách kỹ lưỡng sự phát triển của truyện truyền kỳ Việt Nam thì phần nào thấy rõ sự đứt quãng, tính không liên tục trong quá trình phát triển của thể loại này. Điều đó có thể giải thích được nếu gắn Nguyễn Dữ sự phát triển của văn học các nước khu vực Viễn Đông, ở đó có thể thấy rõ những ảnh hưởng sâu sắc của văn học Trung Quốc đặc biệt là Cù Hựu đối với Nguyễn Dữ cũng như những đóng góp trong quá trình phát triển thể loại truyền kỳ của Nguyễn Dữ đối với Việt Nam và khu vực Viễn Đông.
4. Kết cấu của mỗi truyện truyền kỳ dựa cơ bản trên sự thống nhất giữa hai yếu tố kỳ và thực. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ phát triển cái kỳ đóng vai trò chủ đạo, yếu tố thực chỉ có vị trí thứ yếu trong tác phẩm. Trong thời kỳ này cái kỳ mang đặc tính hồn nhiên gắn với cái siêu nhiên trong thần thoại. Các nhân vật sống trong không khí kỳ quái đậm đặc. Cái kỳ trong giai đoạn này là sự kết hợp của nhiều yếu tố khác nhau: tín ngưỡng dân gian, tôn giáo (Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo), truyền thuyết, văn xuôi lịch sử cũng như sự vay mượn từ văn học nước ngoài.
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một bước tiến mới theo khuynh hướng ngày càng mở rộng dần khả năng sáng tạo, mở rộng vai trò ảnh hưởng của yếu tố thực và sự tác động qua lại của nó với yếu tố kỳ đã có sự biến đổi cơ bản. Cái kỳ đã trở thành hạt nhân tự sự, được hư cấu bởi chính tác giả. Cái thực đã trở thành đối tượng và mục tiêu phản ánh của nhà văn và đóng vai trò chủ yếu trong tác phẩm bên cạnh yếu tố kỳ. Điều đó xuất phát từ ý thức và nhu cầu của nhà văn trong việc phản ánh cho được những sự kiện mang tính thời sự.
Nguyễn Dữ đã thành công trong việc đưa hiện thực đời thường vào trong tác phẩm, đưa những con người bình thường (học trò, người phụ nữ, những người nghèo khổ) những nhân vật tưởng như rất xa lạ với văn học giai đoạn trước vào tác phẩm và biến họ thành những nhân vật văn học có đời sống sinh động. Nhân vật trong truyện của Nguyễn Dữ có hành động, có nội tâm phong phú, nó rất gần gũi với hiện thực cuộc sống. Có sự gắn bó mật thiết giữa đời sống và tác phẩm như vậy chính là nhờ Nguyễn Dữ đã kết hợp được nhuần nhuyễn hai yếu tố kỳ và thực. Nguyễn Dữ đã sử dụng yếu tố kỳ so với Lê Thánh Tông ở trình độ cao hơn bởi những vấn đề được ông phản ánh gần gũi với con người hơn. Và cái thần kỳ trong tác phẩm của ông cũng là sự giao thoa của nhiều quan điểm xã hội khác nhau, trong đó Nho giáo tất nhiên đóng vai trò của kẻ phán xét. Ở đây những tư tưởng của Đạo giáo vẫn chiếm một vị trí nổi bật, sâu xa. Nguyễn Dữ cũng tìm thấy phần nào trong tư tưởng và huyền thoại của Đạo giáo một cái gì đó gần gũi với quan điểm sáng tác của mình.
Nhà văn đã tìm thấy trong Đạo giáo lối thoát trong việc giải quyết những bế tắc của xã hội. Các nhân vật của ông đã tìm đến thế giới thần tiên và bức tranh về cái thế giới tưởng tượng đó thể hiện lý tưởng về một xã hội công bằng, nơi cái ác bị trừng trị và cái thiện có cơ hội chiến thắng. Qua đó nhà văn đã phản ánh sự phức tạp trong đời sống hiện thực của thế kỷ XVI, đặc biệt là những mâu thuẫn trong thế giới quan của tầng lớp trí thức nho sĩ. Có thể nói trong giai đoạn này đã hình thành khuynh hướng văn học của những Nho sĩ ẩn dật mà Nguyễn Dữ là một trong những nhà văn tiêu biểu. Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đã thể hiện khả năng phản ánh hiện thực của thể loại. Nguyễn Dữ đã hướng việc phản ánh đến những vấn đề cơ bản trong đời sống xã hội. Các tác phẩm của ông đều giàu ý nghĩa xã hội.
Đời sống các nhân vật cùng nhiều biến đổi trong cuộc đời họ, trong số phận của họ được phản ánh trong truyện ngắn của Nguyễn Dữ đã thúc đẩy sự xuất hiện của những giá trị mang màu sắc thẩm mỹ mới trước đó chưa hề có trong truyện ngắn Việt Nam trung đại và cũng thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam. Lần đầu tiên trong sự phát triển của mình truyện ngắn đã có thể đem lại một bức tranh hiện thực đa dạng, phong phú và nhiều màu sắc như thế, trong đó đặc biệt nổi bật là những trang viết về người phụ nữ, về những tầng lớp nghèo khổ nhất trong xã hội.
Rõ ràng Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đã mở ra những khả năng lớn lao không chỉ cho sự phát triển của văn xuôi Việt Nam trung đại mà còn cho cả sự hình thành và phát triển văn xuôi Việt Nam hiện đại sau này.
Hết