Tổ chức CAND_GDQP12

(Bài giảng chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Ngô Khương
Ngày gửi: 16h:23' 06-07-2012
Dung lượng: 23.5 KB
Số lượt tải: 21
Số lượt thích: 0 người

Luật Công an nhân dân số 54/2005/QH 11 thông qua ngày 29/11/2005 Top of Form
Bộ Công an Việt Nam được thành lập ngày 19 tháng 8 năm 1945, trên cơ sở Thứ bộ Công an thuộc Bộ Nội vụ. Bộ Công an là cơ quan quản lý lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam.
Tổ chức
1 Tổng cục An ninh nhân dân (Tổng cục I)
2 Tổng cục Cảnh sát nhân dân (Tổng cục II)
3 Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND (Tổng cục III)
4 Tổng cục Hậu cần (Tổng cục IV)
5 Tổng cục Tình báo (Tổng cục V)
6 Tổng cục Kỹ thuật nghiệp vụ (Tổng cục VI)
7 Các cơ quan khác thuộc Bộ Công an
Tổ chức cấp tỉnh, thành
Cơ quan điều tra
1 Cơ quan Cảnh sát điều tra
2 Cơ quan An ninh điều tra
Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy Thành phố Hồ Chí Minh
Trại giam thuộc Bộ Công An
Lịch sử
Ngay từ tháng 8 năm 1945, lực lượng Công an đã được thành lập chưa có tên gọi chung: ở Bắc Bộ có tên là Sở Liêm phóng, ở Trung Bộ là Sở trinh sát và ở Nam Bộ là Quốc gia tự vệ cục. Ngày 19 tháng 8 năm 1945 được coi là ngày thành lập Công an Việt Nam.
Theo Sắc lệnh số 23/SL ngày 21 tháng 2 năm 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cơ quan này được hợp nhất dưới tên gọi Việt Nam Công an vụ, đặt dưới quyền quản lý của Bộ Nội vụ. Tổ chức Việt Nam Công an vụ có 3 cấp:
Cấp trung ương gọi là Nha Công an Trung ương
Cấp kỳ có tên gọi là Sở Công an kỳ
Cấp tỉnh có tên gọi là Ty Công an tỉnh, thành phố
Giám đốc đầu tiên của Việt Nam Công an vụ là Nguyễn Dương (từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 7 tháng 6 năm 1946). Sau đó Phó Giám đốc Việt Nam Công an vụ Lê Giản lên thay. Tên gọi cấp Sở Công an kỳ và Việt Nam Công an vụ sau một thời gian thì bỏ.
Ngày thành lập Lực lượng An ninh nhân dân: 12 tháng 7 năm 1946.
Trong kháng chiến chống Pháp, Nha Công an Trung ương đóng tại thung lũng Lũng Cò, thôn Đồng Đon, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Tại đây có các cơ quan trực thuộc như Ty tình báo, Ty trật tự tư pháp, Ty chính trị.
Giám đốc Nha Công an đầu tiên là Lê Giản. Đến tháng 8 năm 1952, Trần Quốc Hoàn thay Lê Giản làm Giám đốc Nha Công an.
Ngày 31 tháng 12 năm 1951, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 6 đã ra Nghị quyết về mô hình tổ chức mới của ngành Công an. Theo mô hình này lực lượng chấp pháp, tiền thân của lực lượng An ninh điều tra (ANĐT) ngày nay, được tổ chức thành một bộ phận riêng thuộc Ty Bảo vệ chính trị của Nha Công an Trung ương. Ở Công an liên khu thành lập các Ban Chấp pháp thuộc Phòng Bảo vệ chính trị.
Đây chính là tổ chức điều tra chuyên trách án xâm phạm an ninh quốc gia đầu tiên được thành lập trong lực lượng CAND. Vì vậy, ngày 31/12 được lấy là ngày thành lập lực lượng ANĐT. Từ năm 1981, Cục Chấp pháp được tách ra thành hai đơn vị: Cục An ninh điều tra thuộc Tổng cục An ninh và Cục Cảnh sát điều tra thuộc Tổng cục Cảnh sát.
Ngày 16 tháng 2 năm 1953, Nha Công an được nâng cấp thành Thứ bộ Công an thuộc Bộ Nội vụ, do một thứ trưởng phụ trách. Thứ trưởng Thứ bộ Công an là Trần Quốc Hoàn.
Chỉ 6 tháng sau, Thứ bộ Công an trở thành một bộ riêng biệt.
Ngày 28 tháng 7 năm 1956, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 982/TTg thành lập Cục Cảnh sát nhân dân (nay là Tổng cục) để thống nhất việc xây dựng, quản lý, huấn luyện, giáo dục các loại cảnh sát nhân dân trong toàn quốc. Cảnh sát nhân dân lúc đó gồm có cảnh sát hành chính (hộ tịch, giao thông, cứu hỏa), cảnh sát kinh tế, cảnh sát vũ trang, nay phát triển thành cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (hộ khẩu, giao thông, cứu hỏa, phản ứng nhanh, trật tự), cảnh sát điều tra (điều tra tội phạm về trật tự xã hội, trật tự quản lý kinh tế - chức vụ, về ma túy, chống tham nhũng), cảnh sát vũ trang (cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp, đặc nhiệm).
Cuối năm 1962, lễ phong quân hàm đầu tiên trong lực lượng CSND được tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội, với hơn 200 người được phong trong lần đầu tiên này.
Tên gọi Bộ Công an qua các thời kỳ
1953-1975: Bộ Công an