Chuyên đề Khai thác, sử dụng thiết bị dạy học


Nhấn vào đây để tải về
Nhắn tin cho tác giả
Báo tài liệu sai quy định
Mở thư mục chứa tài liệu này
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Phạm Thị Kiều
Người gửi: Phan Quang Huy (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:55' 05-10-2012
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 389
Số lượt thích: 0 người
TẬP HUẤN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
TRU?NG THCS TR?N PH - GV:PH?M TH? Ki?U
MÔ ĐUN 3
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC
VÀ TÀI LIỆU BỔ TRỢ THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
BÀI 1:
TỔNG QUAN
VỀ THIẾT BỊ DAY HỌC
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
I. Mục đích:
Nâng cao hiểu biết của giáo viên về hệ thống thiết bị dạy học ở trường
phổ thông, chức năng của thiết bị dạy học và những lưu ý khi sử dụng trong dạy học.
Phiếu 1.1: Cơ cấu hệ thống thiết bị DH ở trường THCS
Phương tiện nghe nhìn
Các phương tiện và tài liệu trực quan
Nhiệm vụ: Thầy(cô) hãy bổ sung nội dung vào các ô trống của Sơ
đồ cấu trúc hệ thống thiết bị dạy học ở trường phổ thông trên đây
Sơ đồ cấu trúc hệ thống thiết bị dạy học ở trường phổ thông
Máy móc nghe nhìn
Bản đồ
Lược đồ
Phương tiện nghe nhìn
Hóa chất
Dụng
cụ
Các phương tiện và tài liệu trực quan
Sách và tài liệu học tập của GV và HS
Phương tiện trực quan khác
Máy móc
Mô hình
Tranh
ảnh
Mẫu
vật
-Tivi -Máy photcopy
-Đầu VCD -Máy vi tinh
-Amply,loa,micro -Hệ thống mạng máy tính
-Máy chiếu vật thể -Máy ảnh kĩ thuật số
…………….
-Phim các loại
-Bảng trong
-Băng ghi hình
-Băng ghi âm
-Đĩa CD
Phiếu 1.2:
Một số lưu ý khi sử dụng thiết bị dạy học

Nhiệm vụ:
- Đánh dấu ( ) ở những chỗ thích hợp cho các thiết bị dạy học cụ thể.
Một số lưu ý khi sử dụng thiết bị dạy học
Một số lưu ý khi sử dụng thiết bị dạy học
Chức năng của thiết bị dạy học
1. Sử dụng thiết bị dạy học để tạo động cơ học tập, kích thích hứng thú nhận thức của hs
2. Sử dụng thiết bị dạy học để hình thành kiến thức, kỹ năng mới
3. Thiết bị dạy học có thể được sử dụng một cách đa dạng trong quá trình ôn tập, củng cố, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá kiến thức, kĩ năng của học sinh.
4. Thiết bị dạy học được sử dụng để kiểm tra kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã thu được
Bài 2:Sử dụng các thiết bị dạy học và các tài liệu bổ trợ có hiệu quả
I.Sử dụng các thiết bị dạy học
1. Mục đích: Nâng cao hiệu quả sử dụng mô hình, mẫu vật, dụng cụ thí nghiệm trong dạy học ở trường THCS.
Nắm được quy trình sử dụng mô hình,mẫuvật, dụng cụ thí nghiệm trong dạy học ở trường phổ thông.
Kết hợp sử dụng mô hình, vật thật, dụng cụ thí nghiệm với máy chiếu
CÁC BƯỚC KHAI THÁC SỬ DỤNG MÔ HÌNH, MẪU VẬT, THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC Ở THCS
Bước 1: Xác định mục đích nghiên cứu
- Giai đoạn này, căn cứ vào nội dung học tập, giáo viên nêu rõ mục tiêu của việc nghiên cứu trên mô hình, mẫu vật và mục đích của thí
nghiệm sẽ phải tiến hành.
- Giới thiệu mô hình, mẫu vật, dụng cụ thí nghiệm sẽ sử dụng để nghiên cứu
- Nêu yêu cầu cần học sinh báo cáo sau khi nghiên cứu trên mô hình, mẫu vật, thí nghiệm.



Bước 2: Xây dựng phương án nghiên cứu
Sau khi đã làm rõ mục tiêu sử dụng mô hình, mẫu vật hay mục đích của
thí nghiệm cần tiến hành, giáo viên tổ chức cho học sinh đàm thoại để xây dựng
phương án nghiên cứu trên mô hình, mẫu vật và phương án tiến hành thí
nghiệm.
- Phương án quan sát, vận hành mô hình, mẫu vật
- Phương án tiến hành thí nghiệm
Bước 3: Tiến hành nghiên cứu
-Theo phương án đã thống nhất, giáo viên hướng dẫn học sinh hoạt động nghiên cứu trên mô hình, mẫu vật và tiến hành thí nghiệm để rút ra các kiến
thức cần thiết theo mục tiêu đề ra.
- Đối với mô hình, mẫu vật, học sinh rút ra được những điều quan sát được khi khảo sát, vận hành mô hình, mẫu vật. Từ đó chuẩn bị nội
dung báo cáo và thảo luận.
- Đối với thí nghiệm, học sinh phải tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng và thu thập số liệu. Trên cơ sở đó phân tích số liệu để rút ra kết luận.
Bước 4: Báo cáo kết quả nghiên cứu
-Giáo viên tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả nghiên cứu trên mô hình,
mẫu vật, thí nghiệm:
- Các nhóm học sinh báo cáo kết quả và thảo luận chung
- Giáo viên nhận xét, xác nhận kết quả, thể chế hóa kiến thức.
II.Sử dụng các tài liệu bổ trợ
1. Mục đích:
- Nâng cao hiệu quả sử dụng tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ trong dạy học ở trường THCS.
-Nắm được các bước sử dụng các loại thiết bị dạy học như tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ trong dạy học ở trường THCS.
- Sử dụng được các loại tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ trong dạy học theo phương pháp học tích cự.
2.CÁC BƯỚC SỬ DỤNG TRANH ẢNH – BẢN ĐỒ - BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ TRONG DẠY HỌC Ở THCS
Bước 1: Xác định mục đích nghiên cứu
- Giai đoạn này, căn cứ vào nội dung học tập, giáo viên nêu rõ mục tiêu của việc nghiên cứu trên tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ sẽ phải tiến hành.
- Giới thiệu tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ sẽ sử dụng để nghiên cứu
- Nêu yêu cầu cần học sinh báo cáo sau khi nghiên cứu trên tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ .



Bước 2: Tiến hành nghiên cứu:
-Xác định chủ đề, thu nhận, phân tích, đánh giá các thông tin từ tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ .
-Bày tỏ thái độ và ý kiến quan điểm của mình về tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ -Miêu tả, nhận xét và khái quát đối tượng thể hiện trên tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ bằng ngôn ngữ riêng của mình.
Bước 3: Báo cáo kết quả nghiên cứu
Các nhóm học sinh báo cáo kết quả và thảo luận chung.
-Giáo viên nhận xét, xác nhận kết quả, thể chế hóa kiến thức.
Bài 3: Sử dụng sách giáo khoa
và sử dụng bảng, bảng phụ
I.Mục đích:
1. Mục đích sử dụng sách giáo khoa
- Hệ thống hóa và cụ thể hóa một số yêu cầu về nội dung và kĩ thuật sử dụng sách giáo khoa trong dạy học ở trường phổ thông.
Phát biểu và phân tích được các chức năng của sách giáo khoa, các loại hình hoạt động với sách giáo khoa trong dạy học ở trường phổ thông
- Xác định được một số kĩ thuật sử dụng sách giáo khoa trong tổ chức hoạt động học tích cực trong lớp học .
2 Mục đích sử dụng bảng:
- Cập nhật và hệ thống hóa một số yêu cầu về nội dung và kĩ thuật sử dụng bảng trong dạy học các môn học
- Phát biểu và phân tích được các nội dung và kĩ thuật ghi chép, vẽ hình trên bảng.
- Xác định được một số kĩ thuật sử dụng bảng trong việc tổ chức hoạt động học tích cực trong lớp học.
- Thiết kế được phương án sử dụng bảng trong tổ chức hoạt động học tích cực cho học sinh trên lớp.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA
TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1. Chức năng của sách giáo khoa
Trong dạy học ở trường phổ thông, sách giáo khoa thực hiện đồng thời hai chức năng: là phương tiện làm việc của học sinh và là phương tiện hỗ trợ để giáo viên hiểu và thực hiện chương trình dạy học đã quy định. Với tư cách là nguồn kiến thức và là phương tiện củng cố kiến thức, kĩ năng của học sinh, sách giáo khoa đã trình bày các nội dung học tập của cấp học một cách có hệ thống,
phù hợp với chương trình môn học. Ngoài ra, sách giáo khoa nói chung còn phải đáp ứng được các yêu cầu đặc thù của bộ môn và đưa vào hệ thống câu hỏi,
bài tập để đảm bảo hình thành ở học sinh những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết của môn học đó.
2. Sử dụng sách giáo khoa trong dạy học
- Có thể sử dụng sách giáo khoa để đảm bảo trình độ xuất phát ban đầu của học sinh, tạo động cơ học tập, đặt vấn đề nghiên cứu tài liệu mới.
- Trong giai đoạn xây dựng kiến thức mới (giải quyết vấn đề), có hai khả năng để học sinh sử dụng sách giáo khoa:
+ Học sinh làm việc với sách giáo khoa trong khoảng thời gian ngắn của quá trình xây dựng kiến thức mới. Ví dụ: học sinh làm việc với các đoạn văn,
hình vẽ, sơ đồ để tìm thông tin...
+ Học sinh tự lực làm việc với sách giáo khoa trong khoảng thời gian tương đối dài để lĩnh hội kiến thức mới. Khi đó, học sinh được thảo luận nhằm tổng hợp, thu nhận hoặc chế biến các thông tin trong sách giáo khoa.

2. Sử dụng sách giáo khoa trong dạy học
- Trong giai đoạn củng cố các kiến thức, kĩ năng đã thu được, sách giáo khoa tạo điều kiện cho học sinh được lựa chọn các kiểu bài tập khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ việc chỉ sử dụng những kiến thức vừa học đến việc phải vận dụng nhiều kiến thức đã học từ trước. Những lưu ý, tóm tắt, bản tổng kết các kiến thức cơ bản cuối mỗi bài học, chương học ở sách giáo khoa tạo điều kiện cho việc ôn tập, hệ thống hoá các kiến thức mà hs đã học.
- Sách giáo khoa cũng có thể được sử dụng ở giai đoạn kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, thông qua việc giáo viên ra cho học sinh các bài tập cuối chương trong sách giáo khoa hoặc giao cho học sinh chuẩn bị một báo cáo khoa học về chủ đề nào đó. Khi đó sách giáo khoa là một nguồn tài liệu.
Cần tập cho học sinh có thói quen trả lời các câu hỏi nêu trong sách giáo khoa sau mỗi đoạn, mỗi bài học để kiểm tra kiến thức của mình.
3. Các loại hình hoạt động của học sinh với sách giáo khoa, phải bồi dưỡng cho học sinh khả năng tự lực tiến hành các hoạt động sau:
- Tìm kiếm thông tin trong sách giáo khoa.
- Tiếp nhận thông tin trong sách giáo khoa thông qua đọc các đoạn văn, xem hình vẽ, tra cứu các bảng số liệu...
- Định hình thông tin bằng cách gia công đoạn văn thành các ý chính.
- Chế biến thông tin theo mục đích đặt ra.
- Vận dụng thông tin trong phạm vi nhất định như tham gia tranh luận hoặc báo cáo trong giờ học.
4. Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa
Việc hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa cần chú ý những điểm sau:
- Sự chuẩn bị của học sinh để làm việc với sách giáo khoa là yếu tố quan trọng để học sinh làm việc có hiệu quả. Công việc chuẩn bị đó phải được giáo viên giao cho học sinh dưới dạng một nhiệm vụ học tập, kích thích được học sinh phải làm việc với sách giáo khoa nhằm tìm kiếm, tiếp nhận và chế biến thông tin để thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Trong giai đoạn học sinh tự lực làm việc trực tiếp với sách giáo khoa, giáo viên phải lưu ý học sinh thâu tóm nội dung của đoạn sách giáo khoa, rút ra những phát biểu cô đọng để trả lời cho câu hỏi nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Ở giai đoạn đánh giá kết quả làm việc với sách giáo khoa của học sinh, giáo viên phải kiên nhẫn sửa chữa những cái sai, bổ sung những cái chưa đầy đủ.
II. SỬ DỤNG BẢNG TRONG DẠY HỌC

Yêu cầu về nội dung và kĩ thuật ghi chép trên bảng
1.Ghi bảng hợp lí sẽ góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng của một giờ học. Muốn thế, cần đảm bảo một số yêu cầu cơ bản sau:
- Phải ghi chép một cách hệ thống, phản ánh được quá trình phát triển của nội dung bài học.
- Vạch rõ được bản chất của vấn đề nghiên cứu.
- Tập trung được sự chú ý của học sinh vào những vấn đề cần thiết, quan trọng.
- Củng cố được nội dung nghiên cứu trong giờ học.
- Hướng dẫn được hs ghi chép vào vở và học tập ở
nhà.

2.Để đạt được yêu cầu trên, kết hợp với
lời nói và viết, sử dụng các phương tiện dạy học khác,GV có thể ghi lên bảng các điểm sau:
1- Đầu bài (tên đề mục và các tiểu mục).
2- Các hình vẽ, sơ đồ, đồ thị.
3- Những công thức (nếu có) và các hệ quả suy ra từ những công thức đó.
4- Bảng số liệu và những kết luận rút ra từ đó.
5- Những thuật ngữ mới, tên tuổi các nhà bác học, tài liệu lịch sử và kĩ thuật.
6- Bài tập về nhà (số mục phải đọc theo sách giáo khoa, một số bài tập trong sách giáo khoa hay sách bài tập…).
Bài 4:
Sử dụng video và các phần mềm dạy học.
I. Mục đích: - Nâng cao hiệu quả sử dụng video trong dạy học. Nắm được nội dung cần sử dụng video và những lợi ích của việc sử dụng video trong dạy học. Nắm được quy trình sử dụng video trong dạy học ở trường THCS.
-Cập nhật và hệ thống hóa một số phần mềm thiết kế nội dung dạy học,Giới thiệu được một số phần mềm thiết kế nội dung dạy học như: Powerpoint,Violet, Photo Story, Moviegear..

II. CÁC BƯỚC KHAI THÁC SỬ DỤNG VIDEO TRONG DH
1.Các bước khai thác sử dụng Video trong dạy học
Bước 1: Xác định mục đích nghiên cứu
- Giai đoạn này, căn cứ vào nội dung học tập, giáo viên nêu rõ mục tiêu của việc nghiên cứu nội dung video.
- Nêu yêu cầu cần học sinh báo cáo sau khi nghiên cứu nội dung đoạn video.
Bước 2: Tiến hành nghiên cứu:
- Xác định chủ đề, thu nhận, phân tích, đánh giá các thông tin từ đoạn video.
- Bày tỏ thái độ, ý kiến, quan điểm của mình về nội dung đoạn video đó.
- Miêu tả, nhận xét, khái quát nội dung thể hiện trong đoạn video bằng ngôn ngữ riêng của mình.
Bước 3: Báo cáo kết quả nghiên cứu:
Giáo viên tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả nghiên cứu:
- Các nhóm học sinh báo cáo kết quả và thảo luận chung
- Giáo viên nhận xét, xác nhận kết quả, thể chế hóa kiến thức
2. Các trường hợp cần thiết sử dụng video trong DH:
- Khi nghiên cứu các đề tài không thể làm thí nghiệm, mặc dù đó là những thí nghiệm rất cơ bản, do thiết bị thí nghiệm cần sử dụng cồng kềnh, phức tạp, đắt tiền, không an toàn.
- Khi nghiên cứu các đối tượng, hiện tượng không thể quan sát, đo đạc trực tiếp được do chúng quá nhỏ hoặc quá to.
- Khi nghiên cứu các quá trình diễn ra quá nhanh.
- Khi nghiên cứu các hiện tượng diễn ra ở những nơi, những thời điểm không thể đến quan sát trực tiếp được.
- Khi nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật.
Các loại phim học tập cũng còn được sử dụng khi trình bày lịch sử phát triển của một vấn đề, một phát minh khoa học và sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật.
3. Lợi ích của việc sử dụng video trong dạy học:
- Phim học tập giúp thu nhận thế giới tự nhiên vào lớp học, xoá bỏ những hạn hẹp về mặt không gian, thời gian giờ học.
- Nhờ các cuốn phim được quay trước học sinh với tốc độ mong muốn hoặc có thể làm dừng lại các hình ảnh, học sinh quan sát được rõ ràng các hiện tượng, các quá trình đã được phóng đại (thu nhỏ) một cách tối ưu.
- Việc sử dụng các khả năng của sự đồ hoạ (đánh dấu, đóng khung, tô màu, sơ đồ, đồ thị), kết hợp hài hoà với các tín hiệu âm thanh và sự thuyết minh phim không những tạo ở học sinh những biểu tượng tốt hơn về đối tượng nghiên cứu mà còn làm tăng tính trực quan và hiệu quả xúc cảm của phương tiện dạy học.
Phim học tập có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học (tạo động cơ học tập, đề xuất vấn đề nghiên cứu, nghiên cứu kiến thức mới, củng cố), ở trong lớp học và
ngoài lớp học, trong và ngoài giờ học chính khoá.
4. Phương pháp sử dụng video trong dạy học:
- Đặt kế hoạch sử dụng video trong kế hoạch dạy học tổng thể một chương, một phần cụ thể: Sử dụng vào lúc nào? Nhằm đạt được mục đích gì?
- Các công việc chuẩn bị với học sinh trước khi sử dụng video
+ Giao cho học sinh nhiệm vụ ôn tập ở nhà những kiến thức cần thiết để có thể hiểu được nội dung.
+ Nêu mục đích sử dụng video nhằm đặt học sinh ở tâm thế chờ đợi tích cực, khêu gợi tính tò mò nhận thức.
+ Trước khi sử dụng video, để định hướng sự chú ý của học sinh vào những nội dung cơ bản của video, giáo viên cần giao cho học sinh các nhiệm vụ cần
hoàn thành sau khi xem video.
Ví dụ: nêu các câu hỏi mà học sinh cần trả lời, các bảng, các bài tập mà học sinh cần điền vào chỗ trống sau khi xem video.
- Trong khi học sinh xem video, giáo viên cần quan sát, có thể đưa ra những gợi ý nhỏ để hướng sự chú ý của học sinh vào cái cơ bản, cái đặc biệt.
- Đánh giá hiệu quả việc sử dụng video thông qua sự trả lời của học sinh cho các câu hỏi (nhiệm vụ) nêu ra lúc đầu. Trong quá trình trả lời các câu hỏi, cần cho hs được trao đổi, đặt ra các câu hỏi, tranh luận nhằm có thể đánh giá đúng mức độ hiểu nội dung video của học sinh.
III. MỘT SỐ LOẠI PHẦN MỀM THIẾT KẾ NỘI DUNG DAY HỌC.
1. Phần mềm mô phỏng các hiện tượng khó quan sát bằng mắt thường Trong các bộ môn khoa học thực nghiệm như Vật lí, Hóa học và Sinh học có rất nhiều hiện tượng, quá trình không quan sát được trực tiếp bằng mắt thường nên khi dạy học giáo viên và học sinh gặp rất nhiều khó khăn. Đó là các hiện tượng vi mô như trong phân tử, nguyên tử, tế bào hay các quá trình có diễn biến quá nhanh hoặc quá chậm. Để hỗ trợ hoạt động dạy học các kiến thức đó chúng ta cần xây dựng các phần mềm mô phỏng.
Ví dụ:


2. Phần mềm mô phỏng các thí nghiệm trên máy tính
Việc thiết kế các thí nghiệm mô phỏng trên máy tính nhằm nhiều mục đích. Thứ nhất là chúng được dùng làm tài liệu để sinh viên tự nghiên cứu cách tiến hành các thí nghiệm trước khi lên phòng thí nghiệm thực hành. Điều này sẽ tiết kiệm được thời gian tìm hiểu dụng cụ và tiến hành các thí nghiệm về mặt kĩ thuật để dành nhiều thời gian hơn cho việc tập sử dụng các thí nghiệm đó trong dạy học. Thứ hai là các thí nghiệm mô phỏng này có thể dùng làm tài liệu bồi dưỡng việc sử dụng thí nghiệm cho giáo viên trong các lớp tập huấn, trước khi họ thao tác với các dụng cụ thật. Thứ ba là bản thân các thí nghiệm này cũng có thể được giáo viên sử dụng trực tiếp khi dạy học ở trường phổ thông, đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho học sinh.
Ví dụ:
3. Phần mềm hỗ trợ các thí nghiệm thực Khi tiến hành các thí nghiệm vật lí thường đòi hỏi rất nhiều thời gian trong việc thu thập số liệu, vẽ đồ thị thực nghiệm và xử lí kết quả. Vì vậy, máy vi tính có thể hỗ trợ thực hiện các công việc này một cách nhanh chóng và dành nhiều
thời gian hơn để việc rèn luyện tư duy thực nghiệm cho học sinh như xây dựng giả thuyết, suy ra hệ quả, thiết kế phương án thí nghiệm kiểm tra hệ quả…
Ngoài ra còn có một số thí nghiệm không thể thực hiện được với các dụng cụ thông thường, đòi hỏi phải sử dụng máy vi tính để hỗ trợ mới có thể thực hiện được.
Ví dụ:
4. Giáo trình điện tử
Các giáo trình điện tử và sách điện tử được xây dựng để làm tài liệu tự học cho sinh viên trong các trường đại học sư phạm đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho giáo viên khi dạy học ở trường phổ thông. Một số sách điện tử được
xây dựng cho giáo viên sử dụng trực tiếp khi dạy học và cũng là tài liệu học tập ở nhà của học sinh. Ngoài ra còn có các giáo trình online (courseware) được xây dựng theo chương trình elearning.
5. Phần mềm quản lí video ghi thí nghiệm thực
Bên cạnh các thí nghiệm được mô phỏng trên máy vi tính mà người sử dụng có thể tập các thao tác thì các video thí nghiệm có tính hiện thực cao hơn, có tác dụng hướng dẫn sử dụng thí nghiệm rất có hiệu quả. Đặc biệt là các phim này lại rất dễ sử dụng với đầu đĩa và ti vi nên giáo viên có thể dùng làm tài liệu tham khảo ở nhà hay chiếu cho học sinh xem lại sau bài học. Khi các video đó lại được quản lí bởi một phần mềm trên máy tính thì nó sẽ là tài liệu tự học rất tốt
cho cả giáo viên và học sinh.
6. Phần mềm kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một khâu có vai trò quan trọng và việc ứng dụng công nghệ thông tin kiểm tra đánh giá đang được phát triển mạnh mẽ, nó đã mang lại hiệu quả cao cho giáo dục - đào tạo. Các khoa đều đã xây dựng và sử dụng các phần mềm kiểm tra - đánh giá cho các môn học nhằm thực hiện khách quan, hiệu quả hơn trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS.
BUỔI HỌC KẾT THÚC, CHÚC CÁC THẦY CÔ MẠNH KHỎE GIẢNG DẠY TỐT