Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    ACID CITRIC

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Mã Tiến Hưng
    Ngày gửi: 22h:03' 09-11-2012
    Dung lượng: 869.0 KB
    Số lượt tải: 95
    Số lượt thích: 0 người
    BÁO CÁO PHÂN TÍCH
    THỰC PHẨM
    GVHD: Ths. Huỳnh Kim Liên
    SVTH: mthung970
    Đề tài: ACID CITRIC ỨNG DỤNG TRONG
    HÓA THỰC PHẨM
    Nội dung
    Giới thiệu acid ctric
    Tính chất của acid citric
    Sản xuất acid citric
    Vai trò trong hóa thực phẩm
    Định tính acid citric
    Định lượng acid citric
    I. Giới thiệu acid ctric
    Axít citric là một axít hữu cơ thuộc loại yếu và nó thường được tìm thấy trong các loại trái cây thuộc họ citrus (cam quít). Nó là chất bảo quản thực phẩm tự nhiên và thường được thêm vào thức ăn và đồ uống để làm vị chua.

    Ở lĩnh vực hóa sinh thì axít citric đóng một vai trò trung gian vô cùng quan trọng trong quá trình trao đổi chất xảy ra trong các vật thể sống.

    I.2. Cấu tạo, danh pháp
    Công thức phân tử: C6H8O7(dạng khan)
    C6H8O7.H2O (monohydrat)
    Công thức cấu tạo:





    Tên theo IUPAC: 2-hydroxypropane-1,2,3-tricarboxylic axit
    Tên thông thường: axit chanh
    Một vài chỉ số
    Mã số C.A.S : Dạng khan: 77-92-9
    Dạng monohydrat: 5949-29-1
    Mã INS: E330
    ADI: không giới hạn
    Khối lượng phân tử:
    Dạng khan: 192,13g/mol
    Dạng monohydrat:210,14g/mol
    I.3. Lịch sử tìm ra
    Vào thế kỷ thứ 8, nhà giả kim thuật Jabir Ibn Hayyan người Iran đã phát hiện ra axít citric. Các học giả châu Âu thời trung cổ cũng đã biết về axít tự nhiên trong chanh, những kiến thức sơ bộ về axít này cũng đã được ghi nhận vào thế kỷ XIII.

    Axít Citric được nhà hóa học người Thụy Sĩ tách được vào năm 1784, ông đã kết tinh được axít citric từ nước chanh ép. Năm 1860 ngành công nghiệp nước ép trái cây của Ý đã đưa công trình sản xuất axít citric vào hoạt động.
    Năm 1893 C. Wehmer đã phát hiện ra rằng nấm mốc (Penicillium) cũng có thể tạo nên axít citric từ đường.

    Vào năm 1917 nhà hóa học thực phẩm James Currie người Mỹ đã phát hiện ra rằng nấm mốc hình sợi (Aspergillus niger) có thể dùng để sản xuất axít citric rất hiệu quả. Hai năm sau tập đoàn dược phẩm Pfizer đã ứng dụng kỹ thuật này vào sản xuất axít citric theo qui mô công nghiệp.
    I.3. Lịch sử tìm ra
    II. Tính chất của acid citric
    Tính chất vật lý
    Tính chất hóa học
    II.1. Tính chất vật lý
    Có dạng: tinh thể màu trắng
    Có vị chua đặc trưng
    Nhiệt độ nóng chảy: 153oC
    Nhiệt độ sôi: 175oC (phân hủy)
    Độ hòa tan trong nước: 133 g/100 ml (20°C)
    Độ axít (pKa): pKa1=3,15, pKa2=4,77, pKa3=6,40
    Ở nhiệt độ phòng thì axít citric tồn tại ở dạng tinh thể màu trắng dạng bột hoặc ở dạng khan hay là dạng monohydrat.

    Dạng khan thu được khi axít citric kết tinh trong nước nóng, trái lại dạng monohydrat lại kết tinh trong nước lạnh. Ở nhiệt độ trên 74oC dạng monohydrat sẽ chuyển sang dạng khan. Khi nhiệt độ trên 175oC thì nó phân hủy tạo thành CO2 và nước.
    II.1. Tính chất vật lý
    II.2. Tính chất hóa học
    Tính axít của axit citric là do ảnh hưởng của nhóm carboxyl -COOH, mỗi nhóm carboxyl có thể cho đi một proton để tạo thành ion citrat.




    Tính đệm của các citrat: Các muối citrat dùng làm dung dịch đệm rất tốt để hạn chế sự thay đổi pH của các dung dịch axít.
    Các ion citrat còn kết hợp với các ion kim loại để tạo thành muối , phổ biến nhất là muối canxi citrat dùng làm chất bảo quản và giữ vị cho thực phẩm.

    Bên cạnh đó ion citrat có thể kết hợp với các ion kim loại tạo thành các phức dùng làm chất bảo quản và làm mềm nước.
    II.2. Tính chất hóa học
    III. Sản xuất acid citric
    Kết tinh từ các loại quả thuộc chi citrus.
    Axít citric tồn tại trong một loạt các loại rau quả, chủ yếu là các loại quả của chi Citrus. Các loài chanh có hàm lượng cao axít citric; có thể tới 8% khối lượng khô trong quả của chúng. Hàm lượng của axít citric trong quả cam, chanh nằm trong khoảng từ 0,005 mol/l. Đối với các loài cam và bưởi chùm tới 0,030 mol/l. Các giá trị này cũng phụ thuộc vào các điều kiện môi trường gieo trồng.
    Nuôi nấm sợi trên đường ăn.
    Trong kỹ thuật sản xuất này, các mẻ cấy nấm Aspergillus niger được nuôi trong môi trường chứa sucrozơ hay glucozơ để sinh ra axít citric. Nguồn đường là nước ngâm ngô cô đặc, nước rỉ đường, tinh bột ngô thủy phân hay các dung dịch đường rẻ tiền khác. Sau khi nấm được lọc ra khỏi dung dịch, axít citric được cô lập bằng kết tủa nó với vôi tôi (canxi hydroxit) để tạo ra muối citrat canxi, từ đó axít citric được sinh ra bằng xử lý muối này với axít sulfuric.
    III. Sản xuất acid citric
    IV. Vai trò trong hóa thực phẩm
    Tác dụng sinh lí lên cơ thể
    Ứng dụng trong hóa thực phẩm
    Các ứng dụng khác
    IV.1. Tác dụng sinh lí lên cơ thể
    Trong hóa sinh học, nó là tác nhân trung gian quan trọng trong chu trình axít citric và vì thế xuất hiện trong trao đổi chất của gần như mọi sinh vật. Axít citric là một trong các hợp chất tham gia vào chuỗi phân giải các chất béo, protein và cacbohydrat thành điôxít cacbon và nước.
    Nó cũng đóng vai trò của một chất chống ôxi hóa.
    Một số tác dụng không
    mong muốn
    Việc tiếp xúc với axít citric khô hay đậm đặc có thể gây ra kích ứng da và mắt, tiếp xúc gần với mắt có thể gây bỏng và làm mất thị giác.

    Đôi khi hàm lượng quá cao axít citric có thể gây tổn hại cho tóc, do nó mở lớp cutin của tóc. Nó có thể làm mất các chất cần thiết cho tóc và làm tóc bị bạc màu.
    IV.2 Ứng dụng trong hóa thực phẩm
    Sử dụng như một chất bảo quản tự nhiên
    Kiểm soát mức độ pH
    Chất chống oxy hóa.
    Axit citric là một axit hữu cơ yếu, được sử dụng như một chất bảo quản tự nhiên và được bổ sung vào thức ăn, đồ uống vì vị chua của nó. Loại axit này cũng được sử dụng trong thực phẩm và đồ uống để kiểm soát mức độ pH (nhờ tính chất đệm của các citrat).

    Nó cũng được dùng để chống oxy hóa cho sản phẩm, và để ngăn chặn dầu ăn bị ôi.
    IV.2 Ứng dụng trong hóa thực phẩm
    Trong vai trò của một phụ gia thực phẩm, nó được ký hiệu bằng một số E là E330. Axít citric được sử dụng như là chất tạo hương vị trong thực phẩm và đồ uống, đặc biệt là các loại đồ uống nhẹ. Các muối citrat của các kim loại khác nhau được sử dụng để chuyển giao các khoáng chất nên các chất này có thể sử dụng được về mặt sinh học trong nhiều chất bổ sung dinh dưỡng.
    IV.2 Ứng dụng trong hóa thực phẩm
    IV.3. Các ứng dụng khác
    Citric axít có khả năng tạo phức với nhiều kim loại, bằng cách phức hóa các kim loại trong nước cứng, các phức này cho phép các chất tẩy rửa tạo nhiều bọt hơn và tẩy sạch hơn mà không cần làm mềm nước trước.
    Bên cạnh đó axít citric còn dùng để sản xuất các chất trao đổi ion dùng để làm mềm nước bằng cách tách ion kim loại ra khỏi phức citrat.
    Axít citric được dùng trong công nghệ sinh học và công nghiệp dược phẩm để làm sạch ống dẫn thay vì phải dùng axít nitric có tính oxi hóa cao có thể làm hỏng dụng cụ.
    Citric axít là một trong những hóa chất cần thiết cho quá trình tổng hợp Hexametylen triperoxit diamin (HMDT) là một chất dễ phát nổ giống Axeton peroxit, nhạy với nhiệt và ma sát.
    Axít citric cũng được cho vào thành phần của kem để giữ các giọt chất béo tách biệt. Ngoài ra nó cũng được thêm vào nước ép chanh tươi.
    IV.3. Các ứng dụng khác
    V. Định tính acid citric
    Độ tan: Dễ tan trong ethanol, rất tan trong nước, ít tan trong ether
    Citrat: Phải có phản ứng đặc trưng của citrat (dễ tạo phức với một số ion kim loại).
    Có thể chọn một trong các cách định tính sau:
    A. Hoà tan ít chế phẩm trong 10 ml nước, dung dịch thu được phải có pH nhỏ hơn 4. Thêm NaOH vào dung dịch để thu được muối natri citrat, đảm bảo môi trường trung tính hoặc hơi kiềm. Điều chế thuốc thử (TT) là hydroxit đồng Cu(OH)2 bằng cách cho CuSO4 vào dd NaOH. Sau đó cho dd natri citrat vào TT, nhận thấy hydroxit đồng bị hòa tan do tạo phức với citrat.
    V. Định tính acid citric
    B. Phổ hồng ngoại của chế phẩm phải phù hợp với phổ hồng ngoại của acid citric monohydrat chuẩn (ĐC), đo sau khi mẫu thử và chuẩn được sấy ở 100 đến 105oC trong 24 giờ.
    V. Định tính acid citric
    C. Thêm khoảng 5 mg chế phẩm vào hỗn hợp gồm 1 ml anhydrid acetic (TT) và 3 ml pyridin (TT). Màu đỏ xuất hiện.
    V. Định tính acid citric
    D. Hoà tan 0,5 g chế phẩm trong 5 ml nước, trung hoà bằng dung dịch natri hydroxyd 1 M (TT) (khoảng 7 ml), thêm 10 ml dung dịch calci clorid (TT), đun sôi, kết tủa trắng được tạo thành.
    V. Định tính acid citric
    VI. Định lượng acid citric
    Cân khoảng 2,5 g (chính xác đến mg) mẫu thử, cho vào một bình đã cân bì. Hòa tan trong 40 ml nước và chuẩn độ với dung dịch natri hydroxyd 1 N, dùng chỉ thị là dung dịch phenolphtalein (TS).

    Mỗi 1ml dung dịch NaOH 1 N tương đương với 64,04 mg C6H8O7.
    KẾT LUẬN
    Acid citric có vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực cũng như trong hóa thực phẩm.

    Nghiên cứu trong việc tinh chế và sản xuất nó sẽ giúp chúng ta có được một nguồn nguyên liệu dồi dào.
    Cảm ơn sự theo dõi của cô và các bạn
     
    Gửi ý kiến
    print