Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Dạy học tích hợp

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Đức Chiển
    Ngày gửi: 17h:49' 08-02-2013
    Dung lượng: 22.4 KB
    Số lượt tải: 160
    Số lượt thích: 0 người
    DẠY HỌC PHÉP TÍNH VI PHÂN – TÍCH PHÂN HÀM SỐ MỘT BIẾN SỐ
    THEO QUAN ĐIỂM DẠY HỌC TÍCH HỢP
    TS. Trần Đức Chiển, Khoa Tự nhiên, Trường CĐSP Quảng Ninh
    1. Cần thiết và có thể dạy học Toán theo quan điểm tích hợp
    1.1. Tóm tắt về dạy học tích hợp (DHTH)
    Nhiều nhà khoa học giáo dục đã xác định những nội dung chính của DHTH; chẳng hạn:
    - Dạy học tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kĩ năng học được ở môn học này, phần này của môn học được sử dụng như những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong các phần khác của cùng một môn học. (Phạm Văn Lập, Bài giảng phương pháp dạy học sinh học ở trường THPT. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007).
    - Tích hợp là cách tư duy trong đó các mối liên kết được tìm kiếm, do vậy, tích hợp làm cho việc học chân chính xảy ra (Clark, 2002).
    - DHTH là một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực KH khác nhau (UNESCO, 1972).
    Nghiên cứu về DHTH; Drake and Burns (2004) đã đề xuất các định hướng giáo dục tích hợp bao gồm:
    1) Tích hợp đa môn (Multidisciplinary Integration);
    2) Tích hợp liên môn: (Interdisciplinary Integration);
    3) Tích hợp xuyên môn (Transdisciplinary Integration).
    Những ví dụ minh họa mà chúng tôi sẽ trình bày ở mục 2. chủ yếu dựa theo những định hướng này và được thể hiện bằng các hình thức: Bài mục riêng; lồng ghép, liên hệ.
    1.2. Cần thiết dạy học Toán theo quan điểm tích hợp
    Nhiều nhà khoa học sư phạm khẳng định sự cần thiết của DTTH; chẳng hạn:
    - GS Đinh Quang Báo cho rằng: “Tích hợp là nguyên lý không bàn cãi bởi tri thức của chúng ta tất cả đều là tích hợp, không có ai chỉ tư duy bằng môn này hoặc môn kia, bởi khi giải quyết một vấn đề thực tiễn phải sử dụng tri thức của nhiều môn học khác nhau. Con người cần cái đó thì giáo dục phải giáo dục cái đó là đương nhiên”.
    - GS. Trần Bá Hoành khẳng định: “Ngày nay không còn là lúc đặt vấn đề thảo luận dạy học tích hợp các khoa học là cần hay không cần, nên hay không nên. Câu trả lời là khẳng định cần phải tích hợp các môn học”.
    Đồng tình với quan điểm trên; chúng tôi xác định: DHTH sẽ giúp (và cũng đòi hỏi) sinh viên (SV) học tập thông minh và vận dụng kiến thức, kĩ năng và phương pháp một cách toàn diện, hài hòa, sáng tạo và hợp lí nhằm giải quyết những tình huống khác nhau và mới mẻ trên giảng đường cũng như trong cuộc sống. Vì vậy, dạy học nói chung và dạy học Toán nói riêng rất cần và có thể thực hiện theo định hướng DHTH.
    1.3. Thuận lợi và khó khăn khi dạy học Phép tính vi phân - tích phân hàm một biến theo quan điểm tích hợp
    a) Thuận lợi
    - Nhiều nội dung kiến thức sinh viên (SV) đã được tiếp cận từ khi học ở trường phổ thông (dãy số, hàm số, giới hạn, đạo hàm, tích phân,...).
    - Các bộ phận của hệ thống kiến thức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
    - Không đòi hỏi đặc biệt nào về phương tiện, thiết bị dạy học.
    b) Khó khăn
    - Cần đầu tư nhiều công sức, trí tuệ và thời gian cho chuẩn bị và soạn bài.
    - Giảng viên cần tự học, tự nghiên cứu thường xuyên mới có thể làm chủ được các hoạt động của thày và trò trong tiết dạy.
    2. Các thí dụ
    Thí dụ 1: (Liên hệ) Dãy số - Dãy phương trình.
    1) Mục tiêu: SV có kĩ năng tìm giới hạn dãy số (khử dạng vô định 1(), liên hệ được với kiến thức về phương trình, hàm số, đạo hàm.
    2) Có thể tóm tắt tiến trình dạy học như sau:
    - Giảng viên (GV): Có thể nêu vấn đề về sự vô nghiệm của phương trình x = x + 1 và sự có nghiệm của các phương trình x2 = x + 1; x3 = x + 1 và dẫn tới bài toán:
    Với mỗi số tự nhiên n > 1; chứng minh rằng phương trình: xn = x + 1 có nghiệm dương duy nhất xn. Tìm xn;n(xn – 1).
    - GV hướng dẫn SV chứng minh phương trình có nghiệm duy nhất, có thể là:
    Xét hàm liên tục, khả vi fn(x) = xn – x – 1 có f(1

     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓

    print