Banner-baigiang-1090_logo1
Banner-baigiang-1090_logo2

Quảng cáo

Quảng cáo

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Tìm kiếm Bài giảng

Thư mục

Quảng cáo

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • SAFTY in AGRICULTURE and Ecological problems in the Negev desert

    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Trình bày bởi cố vấn nông nghiệp quốc tế Elisha Zurgil
    Người gửi: Hờ A Minh
    Ngày gửi: 14h:42' 26-01-2017
    Dung lượng: 8.6 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    SAFTY in AGRICULTURE and Ecological problems in the Negev desert

    AN TOÀN trong nông nghiệp và các vấn đề sinh thái ở sa mạc Negev
    Presentation by
    Elisha Zurgil
    International Agriculture Advisor
    Trình bày bởi cố vấn nông nghiệp quốc tế
    Elisha Zurgil
    Kibbutz Sde-Boker 84993
    ISRAEL
    Tel: 972-50-7579174
    Fax: 972-8-6560119
    zurgilsa@gmail.com
    The Negev as a trans-continental bridge between Europe, Asia and
    Africa
    Sa mạc Negev được ví như cây cầu xuyên lục địa giữa châu Âu, châu Á và châu Phi
    The Negev region and its history of development
    Lịch sử và quá trình phát triển của vùng Negev
    Israel’s southern region, the "Negev", occupies 12,900 km2, or 62% of Israel’s territory (i.e.
    the pre-1967 borders). Running south to north, the area has a steady and steep rain gradient,
    with hyper-arid climates quickly merging into arid and semi-arid regions, and with contrasting
    sub-areas, differing in their climatic, geological and ecological characteristics (Orni and Efrat,
    1971).
    Negev thuộc khu vực phía Nam của Israel, chiếm 12.900 km2, tương đương 62% lãnh thổ của Israel (ví dụ:
    biên giới trước năm 1967). Tính từ phía nam tới phía bắc, lượng mưa có xu hướng tăng dần đều,
    phía nam có khí hậu rất khô cằn và nhanh chóng chuyển sang vào vùng khô hạn và bán khô hạn ở phía bắc, các tiểu vùng cũng có những đặc điểm khí hậu, địa chất và sinh thái rất khác nhau. (Orni và Efrat,
    1971)
    Despite the Negev`s harsh natural conditions, and its maximum precipitation of 200mm per year, it has always served as a trans-continental bridge between Europe, Asia and Africa, enabling human inhabitation and large scale economic activities. Abundant archeological traces dated to the Roman, Nabatean and Ottoman periods reflect the area’s strategic importance.
    Mặc dù điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, và lượng mưa tối đa đạt 200mm mỗi năm, Negev luôn giữ vai trò như là một cây cầu xuyên lục địa giữa châu Âu, châu Á và Châu Phi,tạo điều kiện con người sinh sống và thực hiện các hoạt động kinh tế có quy mô lớn. Các dấu vết khảo cổ phong phú có niên đại La Mã, Nabatean và thời kỳ Ottoman cho thấy tầm quan trọng chiến lược của khu vực này.
    Modern Jewish settlement in the Negev began under Ottoman rule at the end of the 19th century
    Người Do Thái hiện đại bắt đầu định cư ở Negev dưới sự cai trị của Ottoman vào cuối thế kỷ 19

    Borders of the Jewish community in Palestine and later, the Jewish State, and characterized by ad-hoc planning and unorganized development.
    Biên giới của cộng đồng Do Thái ở Palestine, về sau là Nhà nước Do Thái được hình thành mang tính bộc phát và phát triển chưa có tính tổ chức.
    Jewish sector, in general, did not take place within formal governmental structures, but through nongovernmental organizations. Future ecolpgical problems are ignored.
    Khu vực của người Do Thái, nói chung, không nằm trong cơ cấu chính thức của chính phủ, mà thông qua các tổ chức phi chính phủ. Các vấn đề sinh thái trong tương lai đã bị bỏ qua.


    Ad-hoc planning and unorganized development
    Modern Jewish settlement in the Negev began under Ottoman rule at the end of the 19th century and continued under the British mandate, against the backdrop of regional and global geopolitical events as World Wars I+II . Settlement was driven by the goal of delineating (and expanding) the borders of the Jewish community in Palestine and later, the Jewish State, and characterized by ad-hoc planning and unorganized development. (Người Do thái hiện đại bắt đầu định cư ở Negev dưới sự cai trị của Ottoman vào cuối thế kỷ 1 và tiếp tục sống dưới thời cai trị của người Anh, trong bối cảnh khu vực và toàn cầu. Trải qua các sự kiện địa chính như thế chiến I + II. Vấn đề ổn định khu vực được thúc đẩy bởi các mục tiêu phân định (và mở rộng) biên giới của cộng đồng Do Thái ở Palestine và sau đó là Nhà nước Do Thái, mang đặc trưng của tính bộc phát và phát triển chưa có tính tổ chức)
    Ad-hoc planning and unorganized development
    Planning in the Jewish sector, in general, did not take place within formal governmental structures, but through nongovernmental institutions, such as the World Zionist Organization, The Jewish Agency and The Jewish National Fund, which proposed and implemented development projects, based on agricultural activities, and were, therefore, limited by the lack of water. At that time, the Negev was sparsely populated, mostly by semi-nomadic Bedouins tribes (Meir, 1997). With the establishment of the State of Israel in accordance with the United Nation’s decision of November 29, 1947, many development plans to settle the area were written and implemented. (Khu vực của người Do Thái, nói chung, không nằm trong cơ cấu chính phủ chính thức, mà thông qua các tổ chức phi chính phủ, như Tổ chức phục quốc Do Thái Thế giới, Cơ quan Do Thái và Quỹ Quốc gia Do Thái, đã đề xuất và thực hiện các dự án phát triển, dựa trên hoạt động nông nghiệp, tuy nhiên bị hạn chế do thiếu nước. Tại thời điểm đó, Negev có dân cư thưa thớt, chủ yếu là do các bộ lạc Bedouin bán du mục sinh sống. Với việc thành lập Nhà nước Israel theo quyết định của Liên Hiệp Quốc ngày 29 Tháng 11 năm 1947, nhiều kế hoạch phát triển để ổn định các khu vực này được lên kế hoạch và thực hiện.)

    "The Big Plans" (1949) . 1

    Table II: Comparison of Three development plans for the Negev
    Name Planners Motivation
    for Planning
    Main issues &
    key-projects
    Attitude
    toward
    Bedouin
    community
    Demographic
    target in
    the region
    Role of
    Israel‘s
    2. Negev National Industry Zone (1974)
    Khu công nghiệp quốc tế Negev
    The Negev was considered as vast and vacant. However, the 1972 version included concerns of ecological impacts and further inspections were planned in areas of: air pollution, public health, natural resources, water resources & impact on Dead sea. Despite this, no plans for preventing ecological /environmental damage
    Negev được coi là một vùng rộng lớn và trống trải. Tuy nhiên, năm 1972 các mối quan ngại về các tác động sinh thái và thanh tra tiếp tục được lên kế hoạch trong các lĩnh vực: ô nhiễm không khí, y tế công cộng, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nước và tác động trên biển Chết. Mặc dù vậy, không có kế hoạch để ngăn ngừa thiệt hại sinh thái / môi trường

    "“Negev 20153. (2005)


    Di dời căn cứ quân sự để Negev Đầu tư vào giáo dục, trường đại học và khoa học, nhà ở đặc biệt & các trang trại gia đình, giảm quan liêu, góp phần phát triển cho ngành công nghiệp Đường sắt & các cơ sở hạ tầng & giáo dục cho người Bedouin
    • Relocation of army bases to the Negev Investments in education, university and science, special housing & "single - family" farms, Bureaucratic shortcuts for industries • Roads & railway Infrastructure s& education in Bedouin sector
    Relocation of army bases

    Role of the army: relocation of army bases from the center designed to Attract "strong“ families, jobs and Central role crucial infrastructures.
    Vai trò của quân đội: di dời căn cứ quân sự từ các trung tâm được thiết kế để thu hút các gia đình, công việc và cơ sở hạ tầng quan trọng.
    Settling of Bedouin
    communities into seven towns
    New rural settlements, as well as small urban centers were built side-by-side with large development projects such as a massive water pipeline, a hospital and university, power plants, and industries based on the potash resources of the Dead Sea (Porat, 1994). While planning practice was soon moved to the Planning Administration, (under the direct supervision of the Prime Minister’s office and the Ministry of Interior), the aforementioned pre-state institutions continued to play a large role in shaping the spatial and social map of Israel. The development of the Negev was attempted largely through the settling of populations that arrived during the immigration waves of the 1950’s and later in the 90’s: primarily from Middle-eastern and North African countries in the 1950’s and from Ethiopia and the former USSR in the 1990’s. (Định cư nông thôn mới, cũng như các trung tâm đô thị nhỏ được xây dựng gần với với các dự án phát triển lớn như một đường ống dẫn nước khổng lồ, một bệnh viện và trường đại học, nhà máy điện, và các ngành công nghiệp dựa trên các nguồn lực phân kali của Biển Chết. Trong khi việc lập kế hoạch thục hiện nhanh chóng được chuyển đến Cục Quản lý Quy hoạch, (dưới sự giám sát trực tiếp của Văn phòng Thủ tướng Chính phủ và Bộ Nội vụ), tổ chức trước Nhà nước tiếp tục đóng một vai trò lớn trong việc định hình bản đồ không gian và xã hội của Israel. Sự phát triển của Negev đạt được chủ yếu thông qua việc giải quyết vấn đề dân số đến từ làn sóng nhập cư của những năm 1950 và sau đó vào những năm 90: chủ yếu từ các nước Trung Đông và Bắc Phi trong những năm 1950 và từ Ethiopia và Liên Xô cũ trong những năm 1990. )
    Settling of Bedouin
    communities into seven towns
    Many of these immigrants, who lacked resources and who were alien to the culture of veteran Israelis, were directed to new rural settlements in the Negev or to a series of newly constructed “development towns”(Swirski, 2007) according to the preexisting governmental plans. A second significant settlement procedure was the establishment of towns for the Bedouin minority population. The Planning Authority prepared plans for the settling of Bedouin communities into seven towns, which were established between 1977 and 1990. This process took place against a background of long-standing tensions over Bedouin land claims and the State’s attempt to relocate semi-nomadic people of a highly traditional community to permanent towns (Swirski and Hasson, 2005). (Nhiều người trong số những người nhập cư, những người thiếu nguồn lực và những người xa lạ với văn hóa của Israel cựu chiến binh, đã được chuyển tới các khu định cư nông thôn mới ở Negev hoặc một loạt các dự án mới được xây dựng như "thành phố phát triển” theo kế hoạch từ trước của chính phủ. Một giải pháp giải quyết đáng kể thứ hai là việc thành lập thị trấn cho người Bedouin dân tộc thiểu số. Cơ quan kế hoạch chuẩn bị kế hoạch cho việc định cư của cộng đồng người Bedouin trên bảy thị trấn, được thành lập giữa năm 1977 và năm 1990. Quá trình này diễn ra trên những căng thẳng lâu dài về việc tuyên bố quyền đất đai của người Bedouin và nỗ lực của Nhà nước để dân bán du mục, một cộng đồng đánh giá cao truyền thống, có thể định cư ở thị trấn vĩnh viễn
    Target of one million Jews in the Negev
    peripheral “garbage-bin” for polluting industries and waste disposal
    During the 70s, planners focused on the utilization of natural resources and the creation of employment opportunities for a population target of one million Jews in the Negev. This was to be achieved primarily through the creation of an inter-urban area for heavy industry, petrochemical and defense industries (Batz, 1974). (Trong những năm 70, các nhà hoạch định tập trung vào việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tạo ra các cơ hội việc làm cho một mục tiêu dân số một triệu người Do Thái ở Negev. Điều này đạt được chủ yếu thông qua việc tạo ra một khu vực liên đô thị cho ngành công nghiệp nặng, hóa dầu và các ngành công nghiệp quốc phòng)
    Target of one million Jews in the Negev
    peripheral “garbage-bin” for polluting industries and waste disposal
    While these demographic objectives were not several industrial installations were established, contributing to the increasing numbers of employees in the region and national economic growth. Yet, as the largest plants were associated with the chemical and pesticide industries, this stage also led to a precipitous degradation in the Negev’s environment. Over time a stigmatization of the Negev emerged as a peripheral “garbage-bin” for polluting industries and waste disposal. (Trong khi những mục tiêu nhân khẩu học không đạt được, một số cơ sở công nghiệp đã được thành lập, góp phần vào sự tăng số lao động trong khu vực và tăng trưởng kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, vì các nhà máy lớn nhất được kết hợp với các ngành công nghiệp hóa chất và thuốc trừ sâu, giai đoạn này cũng dẫn đến sự suy thoái trong môi trường của Negev. Qua thời gian Negev nổi lên như một thùng rác ngoại vi cho ngành công nghiệp gây ô nhiễm và xử lý chất thải.)
    “illegal" settlements
    Định cư trái phép
    (unrecognized by the authorities)
    with 170,000 people
    Today, despite decades of such development attempts to settle the area and the expenditure of considerable resources, the vast Negev region houses only about 575,000 people, or 9% of Israel’s seven million people (Central Bureau of Statistics, 2008). Almost half of these live in the main city, Beer Sheva, with a population of 185,000 which is home to a variety of industries and a major university. More than 60% of the Negev territory is designated as army training zones while another significant proportion is zoned as nature reserves. (Ngày nay, mặc dù nhiều thập kỷ của sự phát triển cố gắng để giải quyết các vấn đề khu vực và việc sử dụng nguồn lực đáng kể, vùng Negev rộng lớn chỉ có khoảng 575.000 người, tương đương 9% dân số Israel vốn có bảy triệu người (Trung ương Cục Thống kê, 2008). Gần một nửa trong số này sống ở các thành phố chính, Beer Sheva, với dân số 185.000, là nhà của một loạt các các ngành công nghiệp và một trường đại học lớn. Hơn 60% lãnh thổ Negev được chỉ định là khu huấn luyện quân sự trong khi một tỷ lệ đáng kể được khoanh vùng như vùng bảo tồn thiên nhiên.)
    “illegal" settlements
    Định cư trái phép
    (unrecognized by the authorities)
    with 170,000 people
    About half of the Bedouin population lives in the governmental-established towns, with the remaining 170,000 people dispersed in “illegal" settlements (unrecognized by the authorities) in the Negev highlands. Given the absence of building permits, infrastructure is minimal in these shanty towns as are basic services such as connection to the electricity grid, running water and trash collection. (về một nửa số dân Bedouin sống ở các thị trấn chính phủ được thành lập, với 170.000 người phân tán trong các khu định cư "bất hợp pháp" còn lại (không được công nhận bởi các cơ quan chức năng) ở vùng cao nguyên Negev. Với việc không có giấy phép xây dựng, cơ sở hạ tầng chỉ đạt mức tối thiểu trong những khu phố ổ chuột như những dịch vụ cơ bản như kết nối với điện lưới, chạy nước và thu gom rác.)
    Air pollution, untreated waste and groundwater contamination
    Ô nhiễm không khí, chất thải chưa qua xử lý và ô nhiễm nước ngầm
    Economically, the Negev’s population is starkly polarized, both with respect to the “Center” of the country and among different settlements in the Negev itself. These gaps are found in many areas of life. For example, while the average salary in Israel per month per adult (in 2003) was $1,657, the average salary in the Southern District was only $1180; unemployment rates are 25% higher; there are 6 hospital’s beds per 1000 persons in Israel as a whole, compared to 4.4 in the Negev; 15.6% of total high schools’ graduates in Israel achieve a diploma that is acceptable by universities, compared with 12.1% in the Negev and only 3% among the Negev’s Bedouin minority (Negev Statistical Yearbook, 2004). (Về kinh tế, dân số của Negev có sự phân cực, đối với cả trung tâm của của đất nước và giữa các khu định cư khác nhau ở Negev. Ví dụ, trong khi mức lương trung bình ở Israel mỗi tháng cho mỗi người lớn (trong 2003) là $ 1657, mức lương trung bình ở quận Nam chỉ $ 1180; thất nghiệp tỷ lệ cao hơn 25%; có 6 giường bệnh trên 1000 người ở Israel, so với 4.4 ở Negev; 15,6% học sinh tốt nghiệp THPT ở Israel đạt bằng tốt nghiệp mà được chấp nhận bởi các trường đại học, so với 12,1% ở Negev và chỉ có 3% nhóm người thiểu số Bedouin của Negev)
    Air pollution, untreated waste and groundwater contamination
    Ô nhiễm không khí, chất thải chưa qua xử lý và ô nhiễm nước ngầm
    From an environmental perspective, there may be no region in Israel that is as deliberately dotted with so many polluting industries, hazardous facilities and dumpsites, as the northern Negev. The most acute environmental problems are: air pollution, untreated waste and groundwater contamination, solid waste and illegal dumpsites, soil pollution and the steady erosion of open spaces, biodiversity and scenic landscapes. Gas stations, army bases and fire zones, lack of wastewater treatment facilities, mining and quarrying companies, hazardouswaste and industrial facilities, are only part of this deterioration, which also pose serious health risks for the multi-cultural residents of the Negev. (Từ góc độ môi trường, có thể không có khu vực nào ở Israel mà có nhiều ngành công nghiệp gây ô nhiễm, cơ sở vật chất nguy hiểm và xả rác như miền Bắc Negev. Các vấn đề môi trường cấp tính nhất là: ô nhiễm không khí, chất thải chưa qua xử lý và ô nhiễm nước ngầm, chất thải rắn và các loại rác trái phép, gây ô nhiễm đất và gây ra xói mòn của không gian mở, đa dạng sinh học và cảnh quan danh lam thắng cảnh. Các trạm xăng dầu, căn cứ quân sự thiếu các công trình xử lý nước thải, các công ty khai thác mỏ và khai thác đá và các cơ sở công nghiệp, chỉ là một phần của sự suy giảm này, bên canh đó còn đặt ra vấn đề nghiêm trọng rủi ro sức khỏe cho các cư dân đa văn hóa của Negev.)
    The Negev`s social, economic and environmental problems
    The Negev, Israel`s southern region, is mostly an arid desert and constitutes more than 60% of the country`s territory. As in other dryland regions, population size is relatively small, comprising only 9% of Israel`s total population. Planning policies in Israel for the past 60 years rarely express a bottom-up approach, but rather a centralized approach to development, derived from national ideology and the needs of a nascent state. This paper describes the place of the environment and sustainability criteria over three eras of planning the development of the Negev region. This region is one of the most challenging areas in Israel in terms of socio-economic conditions, its multi-cultural population, as well as its geographically and ecologically diverse environments. (Negev, khu vực phía Nam của Israel, chủ yếu là một sa mạc khô cằn và chiếm hơn 60% lãnh thổ của đất nước. Như ở các vùng đất khô hạn khác, quy mô dân số tương đối nhỏ, chỉ bao gồm 9% tổng dân số của Israel. chính sách quy hoạch tại Israel trong 60 năm qua là cách tiếp cận tập trung để phát triển, xuất phát từ ý thức hệ quốc gia và nhu cầu của một nhà nước mới ra đời. Bài viết này mô tả các vị trí trong các tiêu chuẩn môi trường và tính bền vững qua ba thời kỳ kế hoạch cho sự phát triển của vùng Negev. Khu vực này là một trong những khu vực khó khăn nhất ở Israel về điều kiện kinh tế-xã hội, dân số đa văn hóa, cũng như môi trường về mặt địa lý và sinh thái đa dạng.)
    Các vấn đề kinh tế và môi trường xã hội của Negev
    The Negev`s social, economic and environmental problems
    Here we illustrate a transition in relation to the planning bureaucracy to the environment: from obliviousness to rational planning to pseudo-sustainability. Thus, there is a clear tendency of the official planning institutions as well as the out-sourced governmental initiatives to increasingly pursue a more sustainable approach that seeks to integrate environmental consideration within planning processes. At the same time, however, we show the degree to which these processes are still deficient in their lack of a coherent environmental strategy and implementation by the government and its agents, and in the lack of conceptual and material resources for an integrated treatment of the Negev`s social, economic and environmental problems. (Dưới đây chúng tôi minh họa quá trình chuyển đổi trong mối quan hệ của quan liêu với quy hoạch môi trường: từ lãng quên đến quy hoạch hợp lý đến giả bền vững. Như vậy, có một xu hướng rõ ràng của các tổ chức lập kế hoạch chính thức cũng như các sáng kiến ​​của chính phủ ra để ngày càng theo đuổi cách tiếp cận bền vững hơn và tìm cách để tích hợp xem xét môi trường trong quá trình lập kế hoạch. Đồng thời, tuy nhiên, chúng tôi chỉ ra mức độ mà các quá trình chưa đạt đúng chiến lược môi trường, khả năng thực hiện của chính phủ chưa hiệu quả và việc thiếu nguồn lực khác để giải quyết các vấn đề xã hội kinh tế và môi trường ở Negev)
    Các vấn đề kinh tế và môi trường xã hội của Negev
    Planning for development of the Negev
    Kế hoạch cho sự phát triển của Negev
    Israel has always offered a surprisingly “extreme”, given the country’s diminutive size (Gradus, 1983; Portnov and Erell, 1998). The case study described here presents planning for development of the Negev, a large sparsely populated desert region. The Negev is generally considered to contain the country’s worst social, political conditions as well as some of the country`s more notorious environmental affronts. Socio-economic gaps between living standards, unemployment, infrastructure and the provision of services of this region and the rest of the country have led to repeated attempts to achieve economic progress, frequently on the expense of the environment, as soon will be elaborated. Despite some claims that this pattern has improved recently or at least has been overstated (Bar-El and Parr, 2003), in fact a plethora of objective criteria (from per capita hospital beds to high school graduation rates to life expectancy) confirm that socio-economic indicators are negatively associated with geographical remoteness, especially in the southern, “Negev desert” region. Notwithstanding the spatial flattening potential of information and industries, telecommuting, high speed trains etc., (Friedman, 2005) geography still appears to matter. As in many other countries around the world, over the past fifty years a steady stream of Israeli government planning initiatives to ameliorate these dynamics has been singularly unsuccessful. (Israel là một đất nươc nhỏ bé nhưng có những thái cực rất đặc biệt. Negev là vùng sa mạc lớn nhưng thưa thớt dân cư. Negev thường được cho là có điều kiện chính trị xã hội tồi tệ nhất của đất nước cũng như điều kiện môi trường xấu. Khoảng cách kinh tế-xã hội giữa mức sống, tỷ lệ thất nghiệp, cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ của khu vực này so với phần còn lại của đất nước đã dẫn đến có nhiều nỗ lực để đạt được tiến bộ kinh tế, thường là về chi phí môi trường được cải thiện. Trên thực tế rất nhiều các tiêu chí khách quan xác nhận rằng các chỉ số kinh tế xã hội phát triển tỷ lệ nghịch với sự khó khăn xa xôi về mặt địa lý, đặc biệt là ở miền Nam, ”sa mạc Negev ”. Mặc dù có tiềm năng phát triển về thông tin và các ngành công nghiệp, vấn đề địa lý vẫn là một hạn chế, trong năm mươi năm qua, chính phủ Israel đã duy trì ổn định kế hoạch đổi mới sáng kiến để cải thiện tuy nhiên không thực sự thành công)
    Perception of the environment in Israel has shifted
    Nhận thức về môi trường ở Israel đã thay đổi
    The present analysis contrasts the recent “Negev 2015” plan with its predecessors, identifying three distinct eras of planning for the Negev region, and their respective relations to the environment: the pre-environmental, the modernist-rational, and the pseudo-sustainable periods. These three eras demonstrate how the perception of the environment in Israel has shifted: from ignorance and indifference toward, an ostensible embrace of sustainable development principles. Yet, despite rhetorical progress, a sober assessment suggests that actual plans suffered from “sustainability lip service”. More than cosmetic incorporation of jargon and the mere mechanics of “public involvement”, however, are needed for sustainable development plans to have a transformative impact. (Phân tích hiện nay cho thấy sự tương phản với kế hoạch "Negev 2015” gần đây cùng với những phân tích trước đó, xác định ba thời kỳ khác nhau của kế hoạch cho vùng Negev, và mối quan hệ tương quan với môi trường: thời kì tiền môi trường, thời kì hiện đại-lý trí, và thời kì giả bền vững. Ba thời kỳ chứng minh sự chuyển biến trong nhận thức về môi trường ở Israel: từ sự thiếu hiểu biết và sự thờ ơ cho đến sự theo đuổi những nguyên tắc phát triển bền vững. Tuy nhiên, bất chấp những tiến bộ khoa trương, một đánh giá đúng đắn cho thấy rằng kế hoạch thực tế không thành công vì chưa thực sự làm đúng nguyên tắc phát triển bền vững. Các cơ chế về "sự tham gia của công chúng”, là cần thiết cho kế hoạch phát triển bền vững để có một tác động biến đổi tích cực.)
    Israeli National Planning and Building Council (NPBC)
    Hội đồng xây dựng và kế hoạch quốc gia của Israel (NPBC)
    Six regional planning committees are in charge of the planning, under NPBC inspection and judicial aspects of building development and land uses in the local committees of their jurisdiction (Alexander, 2001; Tal, 2002). Land development proposals and projects are approved or rejected based on the restrictions explicitly mentioned in the national, regional and local levels. This partially contrasts with the British planning system for example, with its system of “guidance” (rather than more regulations and proscriptions) (Sáu ủy ban khu vực chịu trách nhiệm lập kế hoạch, theo NPBC, kiểm tra các khía cạnh pháp lý của việc xây dựng, phát triển và sử dụng đất trong thẩm quyền của họ. Đề xuất và dự án phát triển đất được phê duyệt hoặc từ chối dựa trên những quy định theo các cấp quốc gia, khu vực và địa phương. Điều này phần nào trái ngược với hệ thống kế hoạch của người Anh, ví dụ, với hệ thống các ”chỉ dẫn" (không nhiều quy định và điều cấm)
    In Israel, dozens of domain-specific national Masterplans set aside lands for power plants, nature reserves, forests, tourist facilities, mining, and so forth. (Tại Israel, hàng chục quy hoạch tổng thể quốc gia dành đất cho các nhà máy điện, bảo tồn thiên nhiên, rừng, cơ sở du lịch, khai thác mỏ, ...)
    Guiding Principles for Environmental
    Protection in “Negev 2015”
    Nguyên tắc hướng dẫn cho bảo vệ môi trường trong "Negev 2015"

    principles:
    Prevention, rehabilitation or minimization of environmental hazards
    Efficient land-use and utilization of resources. Placing restriction on the use of natural resources (phòng ngừa, phục hồi chức năng hoặc giảm thiểu các nguy cơ về môi trường, sử dụng đất và tài nguyên hiệu quả. Cần có sự hạn chế về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên)
    Environmental approach in practice:
    Except for treating the issue of sewage as part of the necessary infrastructure, none of the mentioned environmental hazards in the Negev were budgeted or even mentioned by the plan Adopting sustainable development (Ngoại trừ các biện pháp về vấn đề của nước thải được cho là thiết yếu của cơ sở hạ tầng, các mối nguy hiểm môi trường nêu trong Negev không được ngân sách chi trả hoặc thậm chí không đề cập đến trong kế hoạch
    Thông qua phát triển bền vững)
    The planners perceived the land of the northern Negev as a resource that should be fully utilized for settlements, industry, army bases, single-family farms etc. There are no restrictions on industries that make their profit from mining natural resources. On the contrary, these industries are seen as major economic accelerators. (Các nhà hoạch định nhận vùng đất phía Bắc Negev là một tài nguyên cần được sử dụng triệt để cho các khu định cư, công nghiệp, căn cứ quân sự, các trang trại gia đình, vv Không có quy định giới hạn cho các ngành công nghiệp thu lợi nhuận từ khai thác tài nguyên thiên nhiên. Ngược lại, những ngành công nghiệp này được coi là nhân tố quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế.)

    Guiding Principles for Environmental
    Protection in “Negev 2015”
    Nguyên tắc hướng dẫn cho bảo vệ môi trường trong "Negev 2015"


    principles:
    Preservation and management of natural resources, open-spaces and historical and archaeological sites
    Bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên,các không gian mở và các địa điểm lịch sử khảo cổ

    Environmental approach in practice:
    There is an appendix on tourism that stresses the importance of the desert, nature, open-spaces and historical and archaeological sites for tourist sites. However, these are not budgeted. According to the plan, the preservation of the old city of Beer-Sheva is important and therefore 18 million shekels should be invested in it. (Nhấn mạnh tầm quan trọng của sa mạc, tự nhiên, không gian mở và các địa điểm lịch sử, khảo cổ cho khu du lịch. Tuy nhiên, những điều này không nằm trong ngân sách. Theo kế hoạch, việc bảo tồn thành phố cổ Beer-Sheva là quan trọng và theo đó 18 triệu shekel sẽ được đầu tư vào đó.
    Guiding Principles for Environmental
    Protection in “Negev 2015”
    Nguyên tắc hướng dẫn cho bảo vệ môi trường trong "Negev 2015"

    Guiding Principles
    Highlighting the importance of natural areas for preservation, open-spaces and ecological corridors (Nhấn mạnh tầm quan trọng của các khu vực bảo tồn tự nhiên, không gian mở và hành lang sinh thái)
    Emphasis on the urban space and increasing utilization of public transportation (Nhấn mạnh vào các không gian đô thị và tăng việc sử dụng phương tiện di chuyển công cộng)
    Reducing source-pollution through recycling and reuse (Giảm nguồn ô nhiễm thông qua tái chế và tái sử dụng)
    Rehabilitation of damaged environments (Phục hồi chức năng của môi trường bị tàn phá.)
    Environmental approach in practice:
    THANKS FOR YOUR INTEREST
    CURIOUSITY AND PATIENCE

     
    Gửi ý kiến

    Hỗ trợ kĩ thuật: (04) 62 930 536 | 0982 1248 99 | hotro@violet.vn | Hỗ trợ từ xa qua TeamViewer

    Liên hệ quảng cáo: (04) 66 745 632 | 0166 286 0000 | contact@bachkim.vn


    Nhấn ESC để đóng