Tìm kiếm theo tiêu đề

Tìm kiếm Google

Quảng cáo

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (04) 66 745 632
  • 0166 286 0000
  • contact@bachkim.vn

lao động trẻ em dân số

Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Văn Pháp
Ngày gửi: 13h:34' 18-03-2017
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích: 0 người
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN XÃ HỘI HỌC
HỌC PHẦN: DÂN SỐ PHÁT TRIỂN
BÀI BÁO CÁO
LAO ĐỘNG TRẺ EM
Sinh viên thực hiện:
Đặng Văn Pháp
Thái Thành Tài
Tô Thị Cẩm Nhung
Vỏ Việt Tân
Cán bộ hướng dẫn:
Th.S Nguyễn Trọng Nhân
NỘI DUNG
Khái niệm lao động trẻ em và quyền lao động trẻ em
Thực trạng lao động trẻ em hiện nay
1. Lao động trẻ em
2. Các dấu hiệu để phát hiện tình trạng lao động trẻ em
III. Nguyên nhân dẫn đến lao động trẻ em
IV. Tác động tiêu cực của lao động trẻ em
V. Chính sách, giáo dục về lao động trẻ em
VI. Lao động trẻ em tại các vùng đồng bào dân tộc
VII. Vấn đề di cư và lao động trẻ em
VIII. Biện pháp ngăn ngừa lao động trẻ em
IX. Kết luận
 I.KHÁI NIỆM LAO ĐỘNG TRẺ EM VÀ QUYỀN LAO ĐỘNG TRẺ EM
20/11/1989 thì “trẻ em” được xác định “là người dưới 18 tuổi trừ khi luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn”.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Tổ chức khoa học, giáo dục và văn hoá (UNESCO) thì xếp “trẻ em là những người dưới 15 tuổi”.
 I.KHÁI NIỆM LAO ĐỘNG TRẺ EM VÀ QUYỀN LAO ĐỘNG TRẺ EM
Những người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên (Luật dân sự Việt Nam -1995)
Trẻ em là những người dưới 16 tuổi
(Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em - 1991)
Theo bộ Luật Lao động Việt Nam
- 1995, lao động trẻ em là người lao động chưa đủ 16 tuổi
II. THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG
TRẺ EM HIỆN NAY
1.Lao động trẻ em
Việt Nam có tới 1,75 triệu lao động trẻ em, gần 85% trong số đó sống ở khu vực nông thôn và 65% làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp.
Phần lớn lao động trẻ em tại Việt Nam sống ở khu vực nông thôn và làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. (Ảnh:TTXVN)
II. THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG
TRẺ EM HIỆN NAY
Ở Việt Nam, Bộ Luật Lao động năm 2012 quy định là 8 giờ một ngày và 40 giờ mỗi tuần là thời gian tối đa trẻ em trên độ tuổi lao động tối thiểu được làm việc.
Với trẻ từ 13 đến 14 tuổi, luật pháp cho phép các em làm việc không quá 4 giờ mỗi ngày.
II. THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG
TRẺ EM HIỆN NAY
Hình biểu thị giờ làm việc của trẻ em Việt Nam
II. THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG
TRẺ EM HIỆN NAY
2.Các dấu hiệu để phát hiện tình trạng lao động trẻ em

- Việc tham gia lao động trẻ em đi liền với trình độ giáo dục thấp, sau đó dẫn đến các công việc không đáp ứng được yêu cầu căn bản về việc làm bền vững.

Hình ảnh lớp học thô sơ, thiếu cơ sở vật chất. (Ảnh TTXVN)
II. THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG
TRẺ EM HIỆN NAY
2.Các dấu hiệu để phát hiện tình trạng lao động trẻ em

- Các em bỏ học sớm thường ít có cơ hội được đảm bảo việc làm ổn định và có nguy cơ cao không tìm được việc làm.
II. THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG
TRẺ EM HIỆN NAY
2.Các dấu hiệu để phát hiện tình trạng lao động trẻ em

- Một tỷ lệ lớn thiếu niên từ 15 đến 17 tuổi tại nhiều quốc gia đang làm công việc bị xếp vào loại độc hại hoặc các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.

II. THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG
TRẺ EM HIỆN NAY
2.Các dấu hiệu để phát hiện tình trạng lao động trẻ em

- Những em đang làm các công việc độc hại thường dễ bỏ học sớm trước khi đủ tuổi lao động tối thiểu. 20 giờ mỗi tuần với điều kiện công việc đó là việc làm nhẹ nhàng.
III.NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN LAO ĐỘNG TRẺ EM
Một là, độ tuổi trẻ em trong luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em chưa thống nhất với quy định về lao động chưa thành niên trong Bộ luật lao động và độ tuổi trẻ em theo quy định của tổ chức ILO.

III.NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN LAO ĐỘNG TRẺ EM
Hai là, hệ thống pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể về quyền hạn, trách nhiệm của các chủ thể quản lý trong việc phòng ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em.
Ba là, việc xử lý những trường hợp lạm dụng lao động trẻ em còn nhẹ
III.NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN LAO ĐỘNG TRẺ EM
Bốn là, các cơ quan chức năng còn gặp khó khăn trong việc xử lý những cơ sở sử dụng lao động trẻ em
III.NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN LAO ĐỘNG TRẺ EM
Năm là, do nhận thức và hiểu biết về Luật Lao động của trẻ em, gia đình và người sử dụng lao động còn hạn chế dẫn đến vi phạm các quy định về sử dụng lao động trẻ em
III.NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN LAO ĐỘNG TRẺ EM
Sáu là, trẻ em là người chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần vì vậy khi tham gia lao động thường dễ sai bảo mà hầu như không có sự phản kháng hay tự vệ
IV.TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA LAO ĐỘNG TRẺ EM
Hình 1: Thành tích học tập và số giờ làm việc của trẻ em Việt Nam
(Nguồn internet)
Hình 2: Thành tích học tập và số giờ làm việc của trẻ em Việt Nam theo giới tính
(Nguồn internet)
IV.TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA LAO ĐỘNG TRẺ EM
Từ kết quả nghiên cứu này, một vấn đề đang đặt ra cho các cơ quan chức năng trong việc đảm bảo sự phát triển của trẻ em, đặc biệt là giáo dục và thành tích học tập của các em. “Trẻ em là tương lai của đất nước” là một nhận định đúng vì trẻ em sẽ là những người lao động, nguồn nhân lực của quốc gia trong tương lai.
Tuy nhiên sự đóng góp của các em trong tương lai lại phụ thuộc rất nhiều vào sức khoẻ và giáo dục mà các em có được hiện tại. Do vậy chính sách về giáo dục và sức khoẻ cho trẻ em cần được chú trọng vì một tương lai bền vững của dân tộc.
IV.TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA LAO ĐỘNG TRẺ EM
V. CHÍNH SÁCH, GIÁO DỤC VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM
V. CHÍNH SÁCH, GIÁO DỤC VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM
VI. LAO ĐỘNG TRẺ EM TẠI CÁC VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
Tỷ lệ lao động trẻ em ở các vùng miền cũng khác nhau rõ rệt. Khả năng một trẻ em đang đi học trở thành lao động trẻ em cao gấp 3 lần trong các hộ có chủ hộ là người dân tộc thiểu số. Vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ trẻ em đang đi học tham gia lao động thấp nhất trong 6 vùng, lần lượt là 4,6% và 4,3%, so với vùng Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ là 14,9%.
VI. LAO ĐỘNG TRẺ EM TẠI CÁC VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
VI. LAO ĐỘNG TRẺ EM TẠI CÁC VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
Ví dụ: Những công việc của các em bé người Tày, người Dao, người Mường…. Rất đa dạng, từ việc không tên trong nhà đến việc sản xuất ngoài nương rẫy, thậm chí đi làm thuê ở ngoài, bán hàng, vác hàng lậu. Tuy vậy, nhìn chung, công việc trong nhà vừa sức các em, công việc ngoài nương rẫy lá quá sức, các em gái vất vã hơn em trai.
VII. VẤN ĐỀ DI CƯ
VÀ LAO ĐỘNG TRẺ EM
Tranh thủ những dịp nghỉ hè và nghỉ tết, trẻ em gái thông qua mạng lưới di cư mà tới những thành phố lớn để giúp việc gia đình. “Mạng lưới xã hội hình thành từ qúa trình di cư cũng như phục vụ cho mục đích di cư được gọi là mạng lưới di cư” (Đặng Nguyên Anh, 1998: tr. 16)
VIII. BIỆN PHÁP NGĂN NGỪA LAO ĐỘNG TRẺ EM
Thứ nhất, cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về phòng chống lao động trẻ em, nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật về lao động trẻ em trong cộng đồng, gia đình và người sử dụng lao động; đồng thời vận động các gia đình nghèo không để trẻ em phải lao động kiếm sống. Phát huy vai trò của các tổ chức, cộng đồng và xã hội về việc phòng ngừa tình trạng sử dụng lao động trẻ em.

VIII. BIỆN PHÁP NGĂN NGỪA LAO ĐỘNG TRẺ EM
Thứ hai, tăng cường sự giám sát nhằm ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em phải lao động sớm, phải làm việc nặng nhọc; tăng cường thực hiện việc thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện sớm và xử lý nghiêm khắc, kịp thời những trường hợp vi phạm pháp luật về sử dụng lao động trẻ em; đồng thời gắn trách nhiệm của gia đình với những trường hợp trẻ em lao động sớm làm ảnh hưởng đến việc học và phát triển thể chất, trí tuệ; ngoài ra cần các có biện pháp can thiệp kiên quyết để trợ giúp trẻ em nghèo ra khỏi môi trường đang làm việc.

VIII. BIỆN PHÁP NGĂN NGỪA LAO ĐỘNG TRẺ EM
Thứ ba, phòng chống lao động trẻ em phải gắn liền với công tác xóa đói, giảm nghèo. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ nhằm tạo việc làm và thu nhập ổn định đối với các gia đình nghèo, đảm bảo trẻ em được đi học; bên cạnh đó cần có những biện pháp hỗ trợ các gia đình nghèo ngay tại địa phương để giải quyết triệt để tình trạng di dân vì lý do kinh tế.

IX. KẾT LUẬN
Từ kết quả nghiên cứu này, một vấn đề đang đặt ra cho các cơ quan chức năng trong việc đảm bảo sự phát triển của trẻ em, đặc biệt là giáo dục và thành tích học tập của các em. “Trẻ em là tương lai của đất nước” là một nhận định đúng vì trẻ em sẽ là những người lao động, nguồn nhân lực của quốc gia trong tương lai.
Tuy nhiên sự đóng góp của các em trong tương lai lại phụ thuộc rất nhiều vào sức khoẻ và giáo dục mà các em có được hiện tại. Do vậy chính sách về giáo dục và sức khoẻ cho trẻ em cần được chú trọng vì một tương lai bền vững của dân tộc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Tài liệu đào tạo, tập huấn .Văn phòng lao động Quốc tế, Chương trình Quốc tế về Xoá bỏ lao động trẻ em (IPeC), Văn phòng Ilo tại Việt nam - Hà nội: Ilo, 2011- 4q + CD-roM.
2. Hành động để ngăn ngừa và xoá bỏ lao động trẻ em : ISBn: 978-92- 2-825008-4 (Print); 978-92-2-825009-1 (Web PDF);
3. Lao động trẻ em tài liệu giảng dạy, tập huấn phương pháp giảng dạy.
4. Vấn đề lao động trẻ em ở Việt Nam (Bộ Lao động và Thương binh xã hôị, 1997).
5. Amanda B.R, Donna P.A, Robin J.L et al (2008). Total prostate specific antigen stability confirmed after long-term storage of serum at -80C. J.Urol, 180(2), 534-538.
6. http://libweb.anglia.ac.uk/referencing/havard.htm
7. Trần Thừa (1999). Kinh tế học vĩ mô, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
 
CẢM ƠN THẦY VÀ
CÁC BẠN
ĐÃ CHÚ Ý
LẮNG NGHE..!!
 
Gửi ý kiến