Banner-baigiang-1090_logo1
Banner-baigiang-1090_logo2

Quảng cáo

Quảng cáo

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Tìm kiếm Bài giảng

Thư mục

Quảng cáo

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tuần 30. Đọc thêm: Thề nguyền

    Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Hoàng Vân Anh
    Ngày gửi: 19h:43' 20-03-2017
    Dung lượng: 2.2 MB
    Số lượt tải: 112
    Số lượt thích: 0 người
    Bài đọc thêm:
    THỀ NGUYỀN
    Trích Truyện Kiều
    ( Nguyễn Du )
    I) Tìm hiểu chung
    1. Vị trí đoạn trích
    Một hôm khi cả gia đình sang chơi bên ngoại, Kiều đã tìm gặp Kim Trọng. Chiều tà, nàng trở về nhà, được tin cả nhà vẫn chưa về, Kiều quay lại gặp Kim Trọng. Hai người đã làm lễ thề nguyền gắn bó trước vầng trăng sáng vằng vặc. Đoạn trích sau đây (từ câu 431 đến câu 452) kể về việc Kiều sang nhà Kim Trọng và làm lễ thề nguyền.
    2. Ý nghĩa nhan đề:
    Nghi thức thiêng liêng, trang trọng của người xưa, có sự
    chứng giám của trời đất, thần linh
    Người xưa rất coi trọng lời thề vì họ phải:
    + Cắt tóc ăn thề
    + Trau kỷ vật và giữ kỷ vật như mạng sống, như bằng chứng của tình yêu son sắt
    Lời thề nguyền
    Có ý nghĩa thực tế
    Có ý nghĩa tâm linh
    Linh thiêng,
    ràng buộc
    tạo nên niềm tin
    cho con người
    3. Bố cục
    Chia làm 2 phần:
    Phần 1 (14 câu đầu): Kiều đến gặp Kim Trọng
    Phần 2 (còn lại): Kiều cùng Kim Trọng thề nguyền
    II) Đọc-hiểu văn bản
    1. Kiều sang nhà Kim Trọng
    a/ Tâm trạng, tình cảm của Kiều
    “Cửa ngoài vội rủ rèm the,
    Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.”
    Các từ “vội”, “xăm xăm”, “băng”  Thể hiện sự khẩn trương, vội vã, háo hức, nóng lòng của Kiều khi được gặp Kim Trọng.
    “Nhặt thưa gương giọi đầu cành,
    Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu.”
    - Các mỹ từ “nhặt thưa”, “lọt”, “hắt hiu” gợi không gian đêm thần tiên  Mọi thứ đều trở nên nhỏ nhẹ, hiền từ trước tình yêu
    Kiều đã nghe theo tiếng gọi của trái tim mà không cần biết
    đến thứ lễ giáo phong kiến kia.
    b. Tâm trạng và thái độ trân trọng của Kim Trọng
    “Sinh vừa tựa án thiu thiu,
    Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê.
    Tiếng sen sẽ động giấc hòe,
    Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.”
    Dùng điển cố điển tích: “tiếng sen”, “giấc hòe”  chỉ giấc mơ được
    gặp người đẹp của Kim Trọng.
    “Bâng khuâng đỉnh Giáp non thần
    Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng”
    “đỉnh Giáp non thần” ở đây kể rằng vua Sở chơi đất Cao Đường nằm
    mơ thấy một người đàn bà đẹp, hỏi ở đâu, người đó nói là thần nữ núi Vu
    Giáp trong bài phú Cao Đường  cả câu thơ ấy có nghĩa là Kim Trọng
    cảm thấy Kiều xuất hiện như thần nữ núi Vu Giáp.
    Tình yêu mãnh liệt của Kiều còn thể hiện qua lời nói với Kim Trọng:

    “Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường
    Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa
    Bây giờ rõ mặt tìm hoa
    Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao”
    => Câu nói ẩn chứa sự lí giải hợp lí và tinh tế:
    * “ Khoảng vắng đêm trường” : khoảng thời gian, không gian của tâm
    lí mà Kiều phải vượt qua để làm chủ tình yêu của mình.
    * “ Hoa” hình ảnh ẩn dụ đẹp đẽ, tượng trưng cho cái đẹp chóng phai tàn.
    Hoa
    Tình yêu giữa Kiều và Kim Trọng
    Người yêu của Kiều – Kim Trọng
    => Dự cảm của Kiều về tương lai mong manh đầy những mơ hồ bão táp của định mệnh.
     Thể hiện khát vọng tự do yêu đương, tự do hôn nhân, tự do yêu đương trong bối cảnh xã hội phong kiến đầy rẫy những chuẩn mực khắt khe.
    - Chàng như nửa tỉnh nửa mơ, chàng không tin Kiều đang ở ngay trước mặt mình. Khi biết không phải đang mơ, Kim Trọng rất trân trọng, khẩn trương rước Kiều vào nhà:
    “ Vội mừng làm lễ rước vào
    Đài sen nối sáp lò đào thêm hương.”
    Đó quả là những vần thơ đẹp nhất hay nhất về tình yêu của chàng Kim và nàng Kiều. Chuyện tình của hai người chẳng khác nào cổ tích vậy. Vậy là một buổi thê nguyền đã diễn ra thật thiêng liêng và hạnh phúc. Những tín vật tình yêu cùng những lời nói đồng lòng đã được vầng trăng kia chứng giám

    2. Cảnh Kiều và Kim Trọng thề nguyền
    Không gian của đêm thề nguyền rất đẹp và thơ mộng nhưng cũng rất
    vội vàng
    - Cả hai như lạc vào cõi mơ giữa trời đất bao la
    “ Tiên thề cùng thảo một chương
    Tóc mây một nón, dao vàng chia đôi
    Vừng trăng vằng vặc giữa trời”
    - Nghi lễ thề nguyền được tiến hành thật trang trọng, thiêng liêng với đủ các hình thức lễ nghi:
    + Mùi thơm hương trầm
    + Ánh sáng nến sáp: ấm áp
    + Tờ giấy ghi lời thề
    + Vầng trăng vằng vặt là thiên niên to lớn, vĩnh hằng chứng giám cho tình yêu của Kim và Kiều.
    => Hai mái đầu xanh cùng ngước lên cao, có vầng trăng chứng giám lời
    thề gắn bó son sắt của Kim-Kiều, chứng giám tình yêu tự nguyện và
    chung thủy của họ.
    “Đinh ninh hai miệng một lời song song”
    - Hành động “ hai miệng một lời song song” đã nói lên sự ghi lòng tạc dạ lời thề đồng tâm, đồng lòng đến trăm năm của đôi lứa. Nghi lễ tạo thêm niềm tin vào tình yêu, vào cuộc sống tương lai của hai người.
    Và lời thề: “Năm tạc một chữ đồng nên xương”
    Đó quả là những vần thơ đẹp nhất về tình yêu của chàng Kim và nàng Kiều. Một buổi thề nguyền đã diễn ra thật thiêng liêng và hạnh phúc cùng những tín vật.
    3. Liên hệ với đoạn trích “Trao duyên”
    Đêm thề nguyền thần tiên và thiêng liêng ấy đã để lại
    ấn tượng không bao giờ phai nhạt trong Kiều. Vì vậy
    khi “trao duyên” cho em, Kiều đã nhiều lần gợi lại
    hồi ức về đêm thề nguyền ấy: chén thề, bức tờ mây,
    phím đàn với mảnh hương nguyền . Đối với Kiều lời
    thề ấy rất thiêng liêng và ghi khắc suốt đời nên khi
    “phụ bạc” lời thề dù lí do bất khả kháng - Kiều luôn
    cảm thấy dày vò, day dứt. Với Kiều, tình yêu là
    thuỷ chung, sâu sắc, mãnh liệt và duy nhất.
    III) Tổng kết:
    1. Ý nghĩa văn bản:
    - Khẳng định tình yêu sâu sắc, mãnh liệt, tình cảm song phương, trong sáng của Kim Trọng và Thuý Kiều, đặc biệt là Kiều.
    - Thể hiện quan niệm mới mẻ, táo bạo của Nguyễn Du về tình yêu tự do trong sáng trong xã hội phong kiến.
    - Khát vọng hạnh phúc, bất chấp lễ giáo phong kiến, vượt lên đương đầu với số phận, tương lai đầy bất trắc đang chờ đợi.
    2. Nghệ thuật
    - Sử dụng điển tích, điển cố.
    - Hình ảnh ẩn dụ, ước lệ.
    - Từ láy biểu cảm, gợi hình.
    - Ngôn ngữ kể, miêu tả kết hợp với ngôn ngữ đối thoại.
    - Sử dụng không gian và khoảng thời gian nghệ thuật tạo nên không khí thơ mộng, huyền ảo, thiêng liêng của cuộc thề nguyền.
    Cảm ơn cô và các bạn
    đã lắng nghe
     
    Gửi ý kiến

    Hỗ trợ kĩ thuật: (04) 62 930 536 | 0982 1248 99 | hotro@violet.vn | Hỗ trợ từ xa qua TeamViewer

    Liên hệ quảng cáo: (04) 66 745 632 | 0166 286 0000 | contact@bachkim.vn


    Nhấn ESC để đóng