Banner-baigiang-1090_logo1
Banner-baigiang-1090_logo2

MUỐN TẮT QUẢNG CÁO?

Thư mục

Quảng cáo

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tìm kiếm theo tiêu đề

    Tìm kiếm Google

    Quảng cáo

    Quảng cáo

  • Quảng cáo

    Hướng dẫn sử dụng thư viện

    Hỗ trợ kĩ thuật

    Liên hệ quảng cáo

    • (04) 66 745 632
    • 0166 286 0000
    • contact@bachkim.vn

    Bài 26. Thuế máu

    Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Bảo Thịnh
    Ngày gửi: 20h:58' 20-03-2017
    Dung lượng: 1.9 MB
    Số lượt tải: 98
    Số lượt thích: 0 người
    CHÀO MỪNG
    CÁC EM ĐẾN VỚI TIẾT HỌC
    MÔN NGỮ VĂN 8
    Tiết 105, 106 Văn bản
    THUẾ MÁU
    (Trích Bản án chế độ thực dân)

    Nguyễn Ái Quốc
    Bìa sách Bản án chế độ thực dân
    I. Tìm hiểu chung
    1. Tác giả: Nguyễn Ái Quốc sinh năm 1890 mất năm 1969, là một trong những tên gọi của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ hoạt động cách mạng trước năm 1945.
    2. Tác phẩm:
    “Bản án chế độ thực dân Pháp”
    được viết bằng tiếng Pháp gồm 12
    chương và phần phụ lục, xuất bản
    lần đầu tiên tại Pháp năm 1925.




    Nguyễn Ái Quốc
    (1890- 1969)
    Tiết 105, 106 Văn bản THUẾ MÁU
    (Trích Bản án chế độ thực dân)
    Nguyễn Ái Quốc
    Chương I: Thuế máu
    Chương II: Việc đầu độc người bản xứ
    Chương III: Các quan toàn quyền thống đốc
    Chương IV: Các quan cai trị
    Chương V: Những nhà khai hoá
    Chương VI: Gian lận trong bộ máy nhà nước
    Chương VII: Việc bóc lột người bản xứ
    Chương VIII: Công lí
    Chương IX: Chính sách ngu dân
    Chương X: Giáo hội
    Chương XI: Nỗi nhục của người đàn bà bản xứ
    Chương XII: Nô lệ thức tỉnh.
    (Phụ lục: Gửi thanh niên Việt Nam)

    Bản án chế độ thực dân Pháp
    (Gồm 12 chương)

    Bản án chế độ thực dân Pháp
    Tiết 105, 106 Văn bản THUẾ MÁU
    (Trích Bản án chế độ thực dân)
    Nguyễn Ái Quốc
    I. Tìm hiểu chung
    2. Tác phẩm:
    - Xuất xứ:
    “Bản án chế độ thực dân Pháp” được viết bằng tiếng Pháp gồm 12 chương và phần phụ lục, xuất bản lần đầu tiên tại Pháp năm 1925.
    - Vị trí đoạn trích:
    Đoạn trích “Thuế máu” nằm trong chương I: “Thuế máu” của tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”.
    Tiết 105, 106 Văn bản THUẾ MÁU
    (Trích Bản án chế độ thực dân)
    Nguyễn Ái Quốc
    I. Tìm hiểu chung
    2. Tác phẩm:
    - Thể loại: Nghị luận
    - Bố cục:
    Thuế máu
    I .Chiến tranh và
    “Người bản xứ”
    II. Chế độ lính
    tình nguyện
    III. Kết quả của
    sự hi sinh
    Trước năm 1914, họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, những tên "Annamít" bẩn thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta. Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa "con yêu", những người "bạn hiền" của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa. Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cho cái danh hiệu tối cao là "chiến sĩ bảo vệ công lý và tự do". Nhưng họ đã phải trả bằng một giá khá đắt cái vinh dự đột ngột ấy, vì để bảo vệ cho cái công lý và tự do mà chính họ không được hưởng một tí nào, họ đã phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu. Trong lúc vượt biển, nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiến cảnh kỳ diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thuỷ quái. Một số khác đã bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Bancăng, lúc chết còn tự hỏi phải chăng nước mẹ muốn chiếm ngôi nguyên phi trong cung cấm vua Thổ, - chả thế sao lại đem nướng họ ở những miền xa xôi ấy? Một số khác nữa thì đã anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mácnơ, hoặc trong bãi lầy miền Sămpanhơ, để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế.
    Cuối cùng, ở hậu phương, những người làm kiệt sức trong các xưởng thuốc súng ghê tởm, tuy không phải hít hơi ngạt của bọn "bôsơ"(3), nhưng lại nhiễm phải những luồng khí độc đỏ ối của người Pháp; đằng nào cũng thế thôi, vì những kẻ khốn khổ ấy cũng đã khạc ra từng miếng phổi, chẳng khác gì đã hít phải hơi ngạt vậy.
    Tổng cộng có 700.000 người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, 80.000 người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa!


    Tiết 105, 106 Văn bản THUẾ MÁU
    (Trích Bản án chế độ thực dân)
    Nguyễn Ái Quốc
    II. Đọc hiểu văn bản
    1. Nhận xét về tên văn bản và các phần
    Tên văn bản: “Thuế máu”: người dân thuộc địa phải gánh chịu nhiều thứ thuế bất công vô lí → gợi lên số phận thảm thương của người dân thuộc địa bao hàm lòng căm phẩn, thái độ mỉa mai đối với tội ác của chính quyền thực dân.
      -Tên các phần trong văn bản: gợi lên quá trình lừa bịp, bóc lột đến cùng kiệt xương máu của nhân dân, chứng tỏ tinh thần đấu tranh mạnh mẽ, sự phê phán triệt để của Nguyễn Ái Quốc.
    a. Thái độ của quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa.
    Trước chiến tranh
    Khi chiến tranh xảy ra
    - Họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, những tên “An-nam- mit” bẩn thỉu, chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn.
    - Họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiền”,
    - Được phong danh hiệu cao quí là “chiến sĩ bảo vệ công lý và tự do”.
    => Số phận bi thảm.
    => Khinh thường miệt thị bị xem là giống những người hạ đẳng.
    Thái độ, giọng điệu trào phúng, châm biếm, đả kích lên án thủ đoạn lừa bịp của chính quyền thực dân.
    > <
    2. Chiến tranh và “Người bản xứ”.
    Tình cảnh người dân thuộc địa trước khi chiến tranh xảy ra
    b. Số phận của dân thuộc địa trong cuộc chiến tranh phi nghĩa 
    - Ngoài chiến trường:
    + Đột ngột xa lìa vợ con, bỏ ruộng, bỏ vườn, bỏ quê hương
    + Phơi thây trên bãi chiến trường
    + Xuông tận đáy biển bảo vệ tổ quốc của loài thủy quái
    + Bỏ xác tại miền hoang vu
    + Đưa thân cho người ta tàn sát
    + Lấy máu tưới những vòng nguyệt quế
    + Lấy xương chạm những chiếc gậy cho các ngài thống chế
    →Giọng châm biếm, mỉa mai có sức tố cáo mạnh mẽ. Người dân bản sứ phải đánh đổi cả tính mạng vì chiến tranh phi nghĩa.
    2. Chiến tranh và “Người bản xứ”.
    - Ở hậu phương:
    + Làm đến kiệt sức
    + Nhiễm phải những luồng khí độc
    → 8 vạn người chết.
    → Giọng điệu giễu cợt, mỉa mai, hình ảnh tương phản, biện pháp liệt kê đã cho ta thấy rõ bộ mặt tàn bạo, đểu cáng của bọn quan cai trị thực dân.
    2. Chiến tranh và “Người bản xứ”.
    Số phận của những người lính ở địa phương ra sao?
    Phơi thây trên các chiến trường
    Châu Âu, bỏ xác tại những miền hoang vu,..
    ? h?u phuong, h? b? nhi?m d?c
    kh?c ra
    t?ng mi?ng ph?i.
    Kết quả: Trong số 70 vạn người thì
    8 vạn người không bao giờ nhìn thấy mặt trời
    quê hương nữa
    3 . Chế độ lính tình nguyện
    a. Những thủ đoạn bắt lính
    + Tiến hành những cuộc lùng ráp lớn.
    + Người bị bắt đều bị nhốt vào trại lính
    + Chúng tóm ....xì tiền ra.
    + Xích tay điệu về tỉnh lị....đạn lên nòng sẵn.
    - Khen thưởng: ban hàm phẩm, truy tặng những người hy sinh
    - Lời lẽ bịp bợm của bọn cai trị: “tấp nập đầu quân”, “không ngần ngại rời bỏ quê hương”. 
    →Giọng châm biếm, giễu cợt, sử dụng dẫn chứng sinh động, câu chuyện thực tế.
    => Lại một lần nữa tác giả phơi bày bộ mặt giả nhân, giả nghĩa, lời lẽ bịp bợm trơ trẻn của phủ toàn quyền Đông Dương.
    Em hãy nêu những thủ đoạn bắt lính ở thuộc địa của pháp.
    Những cuộc vây bắt, cưỡng bức người dân đi lính…
    Đàn áp người dân khi phản đối…
    3 . Chế độ lính tình nguyện
    b. Phản ứng của những người bị bắt lính
    Những người nghèo khổ chịu chết không còn kêu
    Được.
    Những người giàu thì xì tiền ra…họ tìm mọi cơ
    hội để trốn thoát.
    Thậm chí làm cho mình nhiễm những bệnh nặng
    nhất để trốn đi lính.
    1
    2
    3
    - Dẫn chứng sinh động mang nội dung tố cáo mạnh mẽ
    -Giọng điệu giễu cợt rồi phản bác lại bằng những thực tế hùng hồn, làm lộ rõ sự bịp bợm trơ trẽn của bọn thực dân →Thực tế không hề có sự tình nguyện hiến dâng xương máu như lời lẽ rêu rao,bịp bợm của bọn cầm quyền.
    VUA DUY TÂN
    TRẦN CAO VÂN
    TÔN ĐỨC THẮNG
    LƯƠNG NGỌC QUYẾN
    ĐỘI CẤN
    Rêu rao về lòng tự nguyện đầu quân của người dân thuộc địa(“không ngần ngại”, “hiến xương máu”, “dâng cánh tay”…)
    Nhưng sự thật thì họ “bị xích tay”, “bị nhốt”…nhiều cuộc biểu tình, bạo động nổ ra.
    Bằng giọng điệu giễu cợt cùng những câu hỏi đanh thép, những dẫn chứng hùng hồn, tác giả đã vạch vạch trần thủ đoạn lừa dối, mị dân của chính quyền thực dân.
    3. Chế độ lính tình nguyện
    c. Luận điệu của chính quyền thực dân
    Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi thì những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyền bỗng dưng im bặt…Tất cả họ từng được tâng bốc giờ mặc nhiên trở lại “Giống người bẩn thỉu”
     Sự hi sinh vô ích
    “Người ta đã lột hết tất cả của cải của họ từ chiếc đồng hồ, bộ quần áo mới…“Bây giờ chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi!”
     Bị đối xử tàn tệ
    =>Bộ mặt vô nhân đạo, tráo trở, tàn nhẫn.
    4. Kết quả của sự hi sinh
    a. Sự hi sinh của những người dân thuộc địa

    - Với những thương binh người Pháp bị mất một phần thân thể và vợ con của tử sĩ người Pháp “đều được cấp môn bài bán lẻ thuốc phiện”.
    => Chúng thật bỉ ổi đã không ngần ngại đầu độc cả chính dân tộc mình để vơ vét cho đầy túi tham.
    4. Kết quả của sự hi sinh
    b. Sự mất mát của những người lính Pháp lương thiện.
    2. Nghệ thuật châm biếm, đả kích tài tình
    - Xây dựng một hệ thống hình ảnh sinh động, giàu tính biểu cảm có sức tố cáo
    - Ngôn từ, giọng điệu đậm sắc thái giễu nhại, châm biếm
    - Nghệ thuật phản bác tài tình
    - Dùng liên tiếp, dồn dập những câu hỏi để nêu lên bộ mặt xảo trá, bịp bợm, tàn nhẫn của bọn thực dân
    3. Yếu tố biểu cảm của đoạn trích :

    Từ ngữ biểu cảm (“chiến tranh vui tươi”, “con yêu”,…)
    Hình ảnh biểu cảm ( “ phơi thây”,…)
    Biện pháp biểu cảm ( lối so sánh, ẩn dụ sắc sảo…)
    => Tác dụng : Lật tẩy bộ mặt bịp bợm, xảo trá của thực dân Pháp.Tăng hiệu quả châm biếm sâu cay.
    Tiết 105, 106 Văn bản THUẾ MÁU
    (Trích Bản án chế độ thực dân)
    Nguyễn Ái Quốc
    Tìm hiểu chung

    II.Đọc hiểu văn bản
    5. Ý nghĩa văn bản:
    Văn bản có ý nghĩa như một bản án tố cáo thủ đoạn và chính sách vô nhân đạo của bọn thực dân đẩy người dân thuộc địa vào các lò lửa chiến tranh.
    *Ghi nhớ: SGK/ 92
    Bài tập củng cố
    Chọn câu trả lời đúng
    (a,b,c hoặc d)
    Câu 1: Văn bản “Thuế máu” thuộc kiểu văn bản nào?
    a. Tự sự
    b. Miêu tả
    c. Chính luận
    d. Hành chính

    Câu 2 : Giọng điệu chủ đạo trong phần (I):CHIẾN TRANH VÀ “NGƯỜI BẢN XỨ” là gì?
    a. Lạnh lùng, cay độc
    b. Giọng thân mật, suồng sã
    c. Giọng mỉa mai, hài hước và
    cảm thương, xót xa
    d. Giọng đay nghiến chua chát
    Câu 3 : Bố cục văn bản “Thuế máu” được chia làm mấy phần?

    a. 2 phần
    b. 3 phần
    c. 4 phần
    d. 5 phần
    Theo em,chiến tranh gây ra cho loài người như thế nào? Chúng ta có nên lên án các cuộc chiến tranh phi nghĩa hay không? Vì sao ?
    THẢO LUẬN NHÓM
    5. Hướng dẫn học bài ở nhà
    - Học kĩ toàn bộ nội dung bài học
    - Học thuộc ghi nhớ
    - Đọc lại chú thích.
    - Tìm hiểu tác dụng của các từ trái nghĩa được sử dụng trong văn bản.
    - Sưu tầm một số tranh ảnh lịch sử minh họa cho nội dung bài học.
    - Soạn bài “Đi bộ ngao du”
    + Tìm các luận điểm trong văn bản, nhận xét cách sắp xếp các luận điểm.
    + Em có suy nghĩ gì về con người, tư tưởng, tình cảm của nhà văn Ru-xô qua văn bản.
     
    Gửi ý kiến