Banner-baigiang-1090_logo1
Banner-baigiang-1090_logo2

MUỐN TẮT QUẢNG CÁO?

Thư mục

Quảng cáo

Các ý kiến mới nhất

  • Dở ...
  • thấy nó thiếu cái gì đó...
  • xàm load lâu vcc...
  • Cảm ơn bn... ...
  • uk kho...
  • uk ...
  • bài j mà ít và ko rõ ràng j cả...
  • Tuyệt vời trên cả tuyệt vời...
  • bài rất hay và có ích em cảm ơn...
  • lấy bài người khác tải lên ko vui tí nào...
  • sao dở quá vậy ...
  • gfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfggfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgffgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgffgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgfgffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggfffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffgggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggffffffffffffffffffffffffffffgggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggggfffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffffhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhdddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddddttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttttthhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbcccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccccxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnnn ...
  • adasad...
  • dở...
  • Các ý kiến của tôi
  • Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tìm kiếm theo tiêu đề

    Tìm kiếm Google

    Quảng cáo

    Quảng cáo

  • Quảng cáo

    Hướng dẫn sử dụng thư viện

    Hỗ trợ kĩ thuật

    Liên hệ quảng cáo

    • (04) 66 745 632
    • 0166 286 0000
    • contact@bachkim.vn

    ViOLET Chào mừng năm học mới

    csvh

    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: lê thị kim châu
    Ngày gửi: 20h:43' 20-04-2017
    Dung lượng: 11.2 MB
    Số lượt tải: 10
    Số lượt thích: 0 người
    KÍNH CHÀO CÔ VÀ CÁC BẠN
    BÀI 1. TƯ TƯỞNG XUẤT PHÁT VỀ BẢN CHẤT CỦA VŨ TRỤ: “TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG”
    1.1. Triết lý âm dương: bản chất và khái niệm
    Những cặp đối lập: “đực – cái”, “nóng – lạnh”, “cao – thấp”
    Hoa màu
    Con người
    Hai cặp đối lập “Mẹ - Cha” và “Đất – Trời”
    Đông tay hơn hay làm
    “ Mẹ - Cha” và “ Đất – Trời
    => Triết lý âm dương
    Đất được đồng nhất với mẹ
    Trời được đồng nhất với cha
    ÂM DƯƠNG
    MẸ - CHA
    mềm (dẻo) – cứng (rắn)
    tình cảm - lí trí / vũ lực
    chậm – nhanh
    tĩnh – động
    hướng nội – hướng ngoại
    Ổn định – phát triển
    ………………………………….
    số chẵn – số lẻ
    hình vuông – hình tròn
    ……………………...............
    ĐẤT – TRỜI
    thấp – cao
    lạnh nóng
    ……………………………………
    phương bắc – phương nam
    mùa đông – mùa hạ
    đêm – ngày
    .......................................
    tối – sáng
    …………………………………….
    màu đen – màu đỏ
    …………………………………….



    Bản chất âm dương
    Âm hay dương ?
    Âm hay dương ?
    1.2. Hai quy luật của triết lí âm dương
    Trong mỗi người đều tìm ẩn chất khác giới nên giới tính có thể biến đổi bằng cơ chế thức ăn (xưa) hoặc giải phẫu (nay)
    Xác định một vật là âm hay dương chỉ là tương đối, trong sự so sánh với một vật khác
    Quy luật về QUAN HỆ: Âm và dương luôn gắn bó mật thiết với nhau và chuyển hóa cho nhau: Âm cực sinh dương, dương cực sinh âm
    Ngày và đêm
    Mưa
    Nắng
    nóng và lạnh
    Xứ nóng (dương)
    Trồng trọt (âm)
    Xứ lạnh (âm)
    Chăn nuôi (dương)
    Nước (âm)
    Băng đá (dương)
    Lạnh
    Biểu tượng âm dương
    1.3. Triết lý âm dương và tính cách người Việt
    Triết lý âm dương
    Tính cách người Việt
    - Ở người Việt Nam, TƯ DUY LƯỠNG PHÂN LƯỠNG HỢP bộc lộ rất đậm nét qua khuynh hướng CẶP ĐÔI ở khắp nơi: từ tư duy đến cách sống, từ các dấu vết cổ xưa đến những thói quen hiện đại
    a) Trên thế giới
    b) Ở Việt Nam (đi theo từng căp)
    Đất Nước
    c) Tổ quốc đối với người Việt Nam
    Việt Nam
    Lửa Nước
    Tây nguyên
    d) Khái niệm vay mượn
    e) Biểu tượng âm dương







    1.3.3: Qui luật của triết lí âm dương:


    “Trong rủi có may, “Trong hoạ có phúc”, “Người có lúc vinh lúc nhục”, HAI QUI LUẬT


    TRONG ÂM CÓ DƯƠNG TRONG DƯƠNG CÓ ÂM

    ---> Ví dụ: Sướng lắm khổ nhiều; Trèo cao ngã đau; Yêu nhau lắm, cắn nhau đau;.....

    ===>Triết lí sống quân bình: trong cuộc sống, gắng không làm mất lòng ai; trong việc ăn ở, gắng giữ sự hài hòa âm dương trong cơ thể và với môi trường xung quanh.....


    VÍ DỤ:
    1.3.4: Hai hướng phát triển của lối sống âm dương:


    a) Lối sống lưỡng nghi: Tôn trọng và đề cao số chẵn:

    --->Thái cực sinh lưỡng nghi; lưỡng nghi sinh tứ tượng; tứ tượng sinh bát quái; bát quái biến hóa vô cùng.



    b) Tư duy số lẻ:
    Hữu ích và thế lợi
    Tóm tắt những tính năng đặc biệt và lợi ích của sản phẩm đang giới thiệu
    Các bước cần làm
    ví dụ: Sướng lắm khổ nhiều; Trèo cao ngã đau; êu nhau lắm, cắn n hau đau;.....
    ----> Triết lí sống quân bình: trong cuộc sống, gắng không làm mất lòng ai; trong việc ăn ở, gắng giữ sự hài hòa âm duowngtrong cơ thể và với môi trường xung quanh.....
    ví dụ
    từ triết lí sống quân bình này tạo ra người Việt có lối sống thích nghi cao với mọi hoàn cảnh, luôn thích nghi với mọi hoàn cảnh, hướng vafo tương lai.


    2.1. Tam tài

    Là một khái niệm bộ ba, "ba phép" (tài = phép, phương pháp): Thiên-Địa-Nhân. Song, có lẽ đây là một tên gọi xuất hiện về sau dùng để gọi sự vận dụng cụ thể một quan niệm triết lí cổ xưa về cấu trúc không gian của vũ trụ dưới dạng một mô hình ba yếu tố. Con đường đi từ âm dương đến, tam tài có lẽ đã diễn ra như sau: với lối tư duy tổng hợp và biện chứng quen thuộc, người xưa sớm nhận ra rằng các cặp âm dương tưởng chừng riêng rẽ như trời-đất, trời-người, đất-người thực ra có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau, tạo nên một loại mô hình hệ thống gồm ba thành tố (hình 2.3). Trong tam tài “Trời-Đất-Người" này, Trời dương, Đất âm, còn Người ở giữa (âm so với Trời, nhưng dương so với Đất). Hình 2.3: Nguyên lí hình thành tam tài Trời – Đất – Người chỉ là một bộ ba điển hình đại diện cho hàng loạt những bộ ba khác: trời-đất-nước (tín ngưỡng Tam phủ), cha-mẹ-con, con người - không gian - thời gian, Sơn Tinh – Thủy Tinh – Mị Nương; bộ ba vợ-chồng-em chết đi biến thành bộ ba trầu-cau-vôi, bộ ba vợ - chồng cũ – chồng mới chết đi biến thành bộ ba ông đầu rau ứng với bộ ba thần đất - thần bếp - thần chợ búa… Trên trống đồng, Trơi-Đất-Người được thể hiện bâng bộ ba Chim-Hươu-Người khắc trên ba vành từ ngoài vào trong. Những chiếc rìu Đông Sơn có các hình trang trí thể hiện con đường chuyến tiếp từ tư duy âm dương (cặp cá sấu - Rồng đang giao nhau) sang tư duy con số 3 - tam tài (một gia đình hươu, một gia đình người - 2 bố mẹ 1 con).

    2.2. Những đặc trưng khái quát của Ngũ hành
    Trong cuộc sống, người nông nghiệp tiếp xúc với đất trồng trọt, cây nuôi sống con người, nước tưới cây, lửa đuổi tro nuôi đất, sắt đá cho ta công cụ lao động nhưng làm cây cối cằn cỗi không mọc được... Từ những vật chất cụ thể và thiết thực ban đầu, ý nghĩa của chúng được phức tạp hóa dần thành các ý niệm trừu tượng, đa nghĩa kết hợp trong hai bộ tam tài "Thuỷ-Hỏa-Thổ" và "Mộc-Kim-Thổ", trong đó có Thổ là yếu tố chung. Kết hợp chúng lại ta được một Bộ Năm với số mối quan hệ đa dạng và phong phú hơn hẳn, trong đó “Thuỷ-Hỏa” là một cặp âm dương đối lập nhau rất rõ rệt, “Mộc-kim” là cặp thứ hai, “Thổ” ở giữa điều hòa (xem hình 2.5). Hình 2.5: Nguyên lí hình thành Bộ Năm từ 2 bộ Tam tài Do có mức độ trừu tượng hóa cao, Ngũ hành không phải là “5 yếu tố”, mà là 5 loại vận động (hành = sự vận động); Thủy, Hỏa... không chỉ và không nhất thiết là "nước", "lửa" mà còn là rất nhiều thứ khác. Đó là những khái niệm với nội hàm riêng biệt, những khái niệm không thể dịch được.
    2.3. Hà Đồ - cơ sở của Ngũ hành

    Hà Đồ
    Giải mã Hà Đồ
    Xuất hiện triết lý âm dương: Các chấm trắng - các số dương (số lẻ)
    Các chấm đen - các số âm ( số chẵn )
    Hà Đồ là sản phẩm mang tính triết lí sâu sắc của lối tư duy tổng hợp
    Sự tổng hợp giữa số học và hình học
    Sự tổng hợp giữa số học và hình học
    10 con số được chia thành 5 nhóm
    Mỗi nhóm có một số âm (chẵn) và một số dương (lẻ)
    Mỗi nhóm gắn với 1 phương: Bắc - Nam - Đông - Tây và trung ương (Không có trung ương thì không thể nào xác định các phương)
    Hà Đồ là sản phẩm mang tính triết lí sâu sắc của lối tư duy tổng hợp
    Sự tổng hợp giữa số học và hình học
    Sự tổng hợp cuộc đời các con số với cuộc sống của con người
    Sự tổng hợp cuộc đời các con số với cuộc sống của con người
    Các số nhỏ (1-5) gọi là số sinh, nằm ở vùng trong.
    Các số lớn (6-10) gọi là số thành, nằm ở vòng ngoài
    Như con người, khi mới sinh ra còn quanh quẩn trong nhà, trưởng thành lên mới đi ra ngoài xã hội
    Người nông nghiệp chú trọng nhiều đến các quan hệ, cho nên đặc biệt quan tâm đến chỗ giữa – con số 5 ở chỗ giữa của chính giữa, trung tâm của trung tâm, được gọi là số “tham thiên lưỡng địa” ( 3 trời 2 đất = 3 dương 2 âm )
    Vai trò của con số 5 đối với nền văn hóa nông nghiệp Nam – Á lớn đến mức người Việt Nam ta có tục kính nể con số 5, kiêng con số 5 và kiêng luôn cả các cặp số cấu thành nên nó.
    5
    Mồng 5, mười bốn, hai ba
    Đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn !
    2.4. Ngũ hành theo Hà Đồ
    Hà Đồ đã trở thành cơ sở cho việc tạo nên Ngũ hành

    Mỗi phương – mỗi nhóm số Hà Đồ tiếp nhận một hành tương ứng theo thứ tự như sau:
    Tương ứng “Số Hà Đồ - Phương - Hành”
    Một mô hình 5 yếu tố về cấu trúc không gian của vũ trụ
    Sự sắp xếp các hành theo phương cho thấy rõ nguồn gốc nông nghiệp của Ngũ hành
    Hành Thổ được đặt vào trung ương, cai quản 4 phương ( vị trí của tham thiên lưỡng địa)
    Hành Thủy tương ứng với số 1 của Hà Đồ, là khởi đầu. Thủy là âm nên ở phương bắc
    Hành Hỏa là dương nên ở phương nam
    Hành Mộc là dương ứng với phương đông dương tính

    Hành Kim là âm ứng với phương tây tính
    Thủy – Hỏa – Mộc – Kim – Thổ
    Quan hệ tương sinh
    Hành này hỗ trợ, giúp đỡ hành kia
    Quan hệ này xác định giữa từng cặp (một cặp gồm 2 hành) theo trật tự thuận chiều kim đồng hồ
    Ngũ hành tương sinh thực chất là sự chi tiết hóa của mối quan hệ âm dương chuyển hóa ( Thủy cực âm và Hỏa là cực dương )
    Thủy sinh Mộc

    Mộc sinh Hỏa

    Hỏa sinh Thổ

    Thổ sinh Kim

    Kim sinh Thủy
    Ngũ hành tương sinh theo Hà Đồ
    Quan hệ tương khắc
    Hành này hạn chế, gây trở ngại cho hành kia
    Quan hệ này xác định giữa từng cặp (một cặp gồm 2 hành) theo trật tự ngược chiều kim đồng hồ trên Lạc Thư – bước phát triển tiếp theo của Hà Đồ
    Cả hai loại quan hệ Tương sinh, Tương khắc
    Có thể được ghép lại trình bày trong một ngôi sao lấy Ngũ hành trong Hà Đồ làm gốc và kéo hành Thổ từ trung tâm ra ngoài
    Các mũi kim theo đồng hồ thuận chiều kim đồng hồ biểu thị quan hệ Ngũ hành tương sinh
    Các mũi tên vẽ theo chiều ngôi sao bên trong biểu thị Ngũ hành tương khắc
    Ưu điểm của Ngũ hành
    Số lượng thành tố vừa phải.
    Số lượng thành tố lẻ giúp bao quát được trung tâm.
    Số lượng mối quan hệ tối đa
    ( Trong toán học đã chứng minh, hê thống trung tâm 5
    là hệ thống điều chỉnh ưu việt nhất )
    2.5 Ứng dụng của Ngũ hành

    2.5.1 Ngũ hành có ứng dụng rất rộng. Sở dĩ như vậy là vì, các hành trong Ngũ hành là những khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng, chúng rất đa nghĩa
    Về văn hóa, đáng chú ý là hệ thống các màu biểu và vật biểu theo Ngũ hành.

    Mang tính ước lệ hơn cả là bộ vật biểu .

    Đáng chú ý là trong số vật biểu cho 5 phương thì đã có 3 là những động vật tiêu biểu của vùng phương Nam sông nước đó là Chim, Rồng và Rùa

    Thành ngữ Việt Nam có câu: Nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng.

    - Vật biểu cho phương chính nam là Chim . Đây là loài vật luôn quy tụ về phương nam ấm nắng . Không phải tự nhiên mà người Lạc Việt tự xưng là dòng dõi họ Hồng Bàng ( Hồng Bàng = một loài sếu lớn. Trên các trống đồng là cả một thế giới các loài chim

    - Vật biểu cho phương đông là Rồng
    - Đây là con vật do người Bách Việt tưởng tượng ra trên cơ sở là cá sấu và rắn
    Tính cách trọng tình cảm, hiếu hòa của người nông ngiệp đã biến con cá sấu nguyên mẫu ác độc thành con rồng tưởng tượng cao quý, hiền lành.
    - Con rồng mang đủ tính tổng hợp và linh hoạt của văn hóa nông nghiệp với các đối lập nước/lửa, nước/trời, linh hoạt tới mức không cần có cánh mà vẫn bay lên trời được.
    - Vật biểu cho phương tây là hổ – con vật đại diện rất phù hợp cho văn hóa góc du mục trọng động, trọng sức mạnh
    - Vật biểu cho phương bắc là Rùa. Phương bắc xét trong hệ thống của thuộc vùng văn hóa gốc du mục trọng động, song lại là phương của hành Thủy
    - Nước là cái có tầm quan trọng số một (sau đất) đối với nghề nông lúa nước, mà con rùa thì gắn liền với nước
    - Vật biểu cho trung ương là Người .
    - Con người đứng ở trung tâm cai quản muôn loài , cai quản bốn phương
    - Vật biểu của hành/phương nào thì mang theo vật biểu của hành/phương ấy. Cho nên khi xã hội có vua, vua cai quản con người , con người cai quản muôn loài, thành ra vua mới giành lấy màu vàng ( màu của hành thổ, của trung ương, của con người ) làm của riêng cho mình. Vua mặc áo vàng là vì thế!
    2.5.2 Nhiều ứng dụng của Ngũ hành

    Người Việt trị tà ma bằng bù ngũ sắc(= Ngũ hành ) bằng bức tranh dân gian Ngũ Hổ vẽ 5 con hổ ở 5 phương với 5 màu theo Ngũ hành.
    Với ý nghĩa: Hổ tượng trưng cho sức mạnh, trấn trị ở khắp 5 phương, ta mà không còn lối thoát
    Ở lễ hội sử dụng các lá cờ hình vuông may bằng vải 5 màu theo Ngũ hành.
    Không gian vũ trụ của người Việt Nam là 5 phương theo ngũ hành .

    Ngũ phương chi thần (thần 5 phương trời).
    Ngũ đạo chi thần (thần 5 ngã đường).
    Không phải 8 hướng mà là 9 hướng: Lạy 9 phương Trời, lạy 10 phương đất.
    Không phải ngẫu nhiên mà 6 núi ở Non Nước được quy tụ về 5 để gọi là Ngũ Hành Sơn .
    Ở lăng Trần Thủ Độ (Thái Bình) có đặt tượng hổ đá phía tây, rồng phía đông, phượng phía nam, mộ Trần Thủ Độ ở giữa, theo đúng quy định của vật biểu trong Ngũ hành.
    - Một điều đáng chú ý là trong các ứng dụng dân gian của Ngũ hành, ngoài trung ương là vị trí đặc biệt ra thì phương nam và đông thường được coi trọng hơn bắc và tây.
    Màu đỏ ( phương nam coi là màu của niềm vui và mọi sự tốt lành) ; màu xanh ( phương đông ) được xem là màu của sự sống , màu đen (phương bắc) là màu tang thứ 2
    Người Chàm coi phía bắc là nơi của ma quỷ, phía đông của thánh thần
    Để trừ tà ma trong khi dân gian phương Nam sử dụng Ngũ hành, thì người phương bắc dùng Bát quái làm bùa
    Một hướng khác đi theo con đường phân đôi cặp Lưỡng nghi « Âm-dương» thành Tứ tượng (từ 2 mùa nóng- lạnh thu được bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông; từ 2 phương chính nam-bắc thu được 4 phương nam-bắc-đông-tây. Rồi từ tứ tượng phân đôi tiếp mà thành Bát quái
    Bát quái có 8 quẻ
    (Cản, Đoài, Li, Chấn,Tốn,Khảm,Cấn, Khôn)
    BÀI 3:
    TRIẾT LÍ VỀ CẤU TRÚC THỜI GIAN CỦA VŨ TRỤ: LỊCH ÂM DƯƠNG VÀ HỆ CAN CHI

    84
    3.1. LỊCH VÀ LỊCH ÂM DƯƠNG
    Có 3 loại lịch cơ bản:
    Lịch thuần dương
    Lịch thuần âm
    Lịch âm dương
    Lịch thuần dương:
    - Phát sinh từ vùng văn hóa Ai Cập khoảng 3000 năm TCN
    - Dựa trên chu kỳ biểu kiến của Mặt Trời, mỗi chu kỳ ( 1 năm) có 365,25 ngày
    Lịch thuần âm
    Phát sinh từ vùng văn hóa Lưỡng Hà
    Dựa trên sự tuần hoàn của Mặt Trăng, mỗi chu kỳ ( 1 tháng) có 29,5 ngày, mỗi năm có 354 ngày
    Lịch âm dương
    Là sản phẩm của lối tư duy tổng hợp
    Kết hợp của chu kỳ Mặt Trăng, Mặt Trời
    Phản ánh khá chính xác sự biến đổi có tính chu kỳ của thời tiết
    Việc xây dựng lịch gồm 3 giai đoạn:
    Định các ngày trong tháng theo Mặt Trăng
    Định các tháng trong năm theo Mặt Trời
    Mỗi năm theo Mặt Trời dài 12 tháng, Mặt Trăng là 11 ngày nên cứ sau gần 3 năm phải điều chỉnh cho 2 chu kỳ này phù hợp với nhau ( đặt tháng nhuận)
    Định các ngày trong tháng theo Mặt Trăng
    Định các tháng trong năm theo Mặt Trời
    Điều chỉnh cho hai chu kỳ Mặt Trăng và Mặt Trời phù hợp với nhau
    Cách tính năm nhuận
    Lấy năm dương lịch : 19
    - Nếu số dư là 0, 3, 6, 9, 11, 14, 17 thì năm ấy là năm dương lịch
    VÍ DỤ
    1995 : 19 = 105
    dư 0, năm Ất Hợi ( 1995 ) là năm nhuận
    ( nhuận tháng 8 )
    VÍ DỤ
    1995 : 19 = 105
    dư 0, năm Ất Hợi ( 1995 ) là năm nhuận
    ( nhuận tháng 8 )
    Mặt trăng tác động rõ rệt đến:
    Thủy triều
    Chu kỳ sinh nở của con người và côn trùng và sinh vật khác
    5 ngôi sao tượng trưng cho ngũ hành:
    Thủy
    Hỏa
    Mộc
    Kim
    Thổ
    5 sao tượng trưng cho ngũ hành ( thủy, hỏa, mộc, kim, thổ) là những tinh cầu xoay 1 vòng sao Bắc Đẩu.
    Do đó, theo số lượng, chúng được gọi là thất tinh, còn theo đặc tính chúng được gọi là hành tinh
    - Từ chòm sao Bắc Đẩu kéo dọc xuống nhìn thấy hệ thống 28 ngôi sao cố định hàng ngày xoay quanh chòm Bắc Đẩu. Do đó, theo số lượng chúng được là nhị thập bát tú còn theo đặc trưng chúng được gọi là định tinh.
    Nhị thập bát tú gồm 4 chòm:
    Chòm Huyền vũ( rùa đen)- phương Bắc, mùa đông
    Chòm Chu Tước ( chim sẻ đỏ ) – phương Nam, mùa hạ
    Chòm Thanh Long ( rồng xanh ) - phương đông. mùa xuân
    Chòm Bạch Hổ ( hổ trắng ) – phương Tây, mùa thu
    Chòm huyền vũ:
    Chòm Chu Tước:
    Chòm Thanh Long:
    Chòm Bạch Hổ:
    Hệ Đếm Can Chi
    - Hệ Can(hay còn gọi là thập can) gồm 10 yếu tố:Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỉ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
    - Hệ Chi(hay còn gọi là thập nhị chi) gồm 12 yếu tố: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất,Hợi
    3 .2
    Hệ Can và Hệ Chi có thể dùng độc lập như hai hệ đếm 10 và 12. Hệ Chi phổ biến hơn, Hệ Chi dùng để chỉ 12 giờ trong ngày,12 tháng trong năm.









    Phối hợp giữa Hệ Can và Hệ Chi với nhau, ta được hệ Can Chi gồm 60 đơn vi với các tên gọi như: Giáp Tý Ất Sửu,…, Quý Hợi,

    Khác với hệ đếm 60(giờ,phút,giây) của phương Tây, hệ Can Chi là một hệ đặc biệt được tạo ra trên triết lý Âm Dương theo nguyên tắc chỉ ghép các Can Chi “đồng tính” với nhau (dương với dương,âm với âm)

    Bảng can chi

    Cách đổi năm dương lịch sang năm can chi
    (A1) C = d [(D - 3) : 60]

    Trong đó:
    C - mã số tên năm can chi theo bảng;
    D - năm dương lịch;
    d - số dư của phép chia.
    Chẳng hạn, cần biết tên can chi của năm 2010, ta có: d[(2010 - 3) : 60] = 27 (27 là mã số của năm Canh Dần).
    Bảng can chi








    Ta có thể đơn giản hóa công thức A1 bằng cách đưa phép trừ 3 vào ngay trong Bảng Can chi: Thay vì đánh số từ 1,có thể đánh số các ô trong bảng bắt đầu từ 4, 5, … (tức là mỗi số trong bảng đều được cộng thêm 3) và kết thúc bằng: … 59, 60, 1, 2, 3. Khi đó công thức (A1) sẽ có dạng (A2)




    (A2)
    C = d (D : 60)
    ví dụ như trên : cần biết tên can chi của năm 2010, ta có: d[(2010 : 60] = 30 ( mã số trong bảng lúc này sẽ cộng thêm 3 => năm Canh Dần).
    Bảng can chi

    Nếu biết năm đầu hội và ký hiệu H là năm cuối hội trước thì ta sẽ có công thức:

    (A3) C = D - H
    Ở ví dụ trên, năm đầu hội là 1984, vậy H = 1983; điền vào công thức, ta có 2010 - 1983 = 27. Tra số 27 trong Bảng Can chi được Canh Dần.



    Trong đó:
    D - năm dương lịch;
    C - mã số tên năm can chi theo bảng;
    h - số hội đã trôi qua (tính đến năm cần tìm).
    Để xác định số hội đã trôi qua, phải biết một năm bất kỳ cùng hội với năm cần tìm, lấy năm đó chia cho 60 sẽ được h.

    Ví dụ: Cần đổi năm Ất Tị (mã số 42) ra năm dương lịch, biết rằng đó là khoảng những năm Mỹ ném bom miền Bắc. Ta lấy, chẳng hạn, 1972 (là năm Mỹ ném bom miền Bắc dữ dội nhất) chia cho 60, được h = 32. Điền các số vào công thức: 42 + 3 + (32 x 60) = 1965 (Ất Tị là năm 1965).
    Cách đổi từ năm can chi sang năm dương lịch
    D = C + 3 + (h x 60)
    (B1)
    Nếu biết năm đầu hội và ký hiệu H là năm cuối hội trước thì ta sẽ có công thức:
         
    (B2)               D = C + H

     Ví dụ: Cần đổi năm Nhâm Thìn (mã số 29) ra năm dương lịch, biết năm đầu hội là 1924, ta có: 29 + 1923 = 1952 (Nhâm Thìn là năm 1952).
    Bài 4: Nhận thức về con người
    4.1 Nhận thức về con người tự nhiên:
    Trong vũ trụ có âm dương, con người cũng vậy.
    Vũ trụ cấu trúc theo ngũ hành, con người cũng có cấu mô hình 5 yếu tố : 5 tạng, 5 phủ, 5 giác quan, 5 chất cấu tạo nên cơ thể đều hoạt động theo nguyên lý Ngũ hành.
    Ứng dụng: trong ăn uống, chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe (theo nguyên lý cân bằng âm dương)
    Ngũ hành trong cơ thể con người
    - Với cơ chế ngũ hành cho ta thấy một mặt các quan hệ hàng ngang giữa các yếu tố cùng loại qua luật tương sinh-tương khắc, mặc khác là quan hệ hàng dọc giữa các yếu tố khác loại nằm trong cùng một cột, ứng với cùng một hành
    => Những mối liên hệ hệ thống ấy chính là cơ sở của cách chuẩn đoán và chữa bệnh đông y
    Y học Việt Nam cho rằng: mọi bệnh tật đều do mất quân bình âm dương mà ra, trong con người quan trọng nhất là trục tâm – thận và thận là trung tâm
    Ông Lê Hữu Trác: “ bách bệnh đều ở tạng thận.”
    4.2 Cách nhìn cổ truyền về con người xã hội
    Xuất phát từ:
    + Sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên.
    + Tư tưởng coi con người và vũ trụ nằm trong một thể thống nhất.
    Mỗi cá nhân được đặc trưng bởi 1 trong 5 hành
    Đối với các thành phần của 1 bộ phận trên cơ thể dựa vào vị trí, đặc điểm.
    Đối với cá nhân trong 1 xã hội dựa vào thời điểm ra đời (hệ can chi)
    => Đặc trưng của hành được gán cho cá nhân ứng với nó. Mối quan hệ được xác định theo quy luật tương tác giữa các hành.

    - Các quy luật tương sinh tương khắc được phổ biến với các luật “tam hợp”, “tứ xung” áp dụng vào việc xem xét các mối quan hệ và cũng tương tự như ở Ngũ hành.
    Xem tử vi (gốc Trung Hoa)
    Cá nhân
    Quan hệ xã hội
    Tử vi
    Lá số
    An sao
    GIỜ
    NGÀY
    THÁNG
    NĂM
    110 sao
    GIẢI ĐOÁN
    Dự đoán
    Xây dựng mô hình đúng
    Không gian
    Thời gian
    Di truyền
    Hiệu quả giải đoán theo tử vi còn thấp
    - Lấy con người làm trung tâm của vũ trụ
    => Dùng những kích cỡ của chính mình để đo đạc tự nhiên và vũ trụ.
    Ví dụ: đo chiều dài bằng thước (1 thước = 2 gang tay); đo bằng thước tầm (đơn vị là đốt gốc ngón tay út).

    Phương Đông: Linh hoạt, chủ quan, tương đối
    - Phương Tây: Nguyên tắc máy móc, khách quan, tuyệt đối.
     
    Gửi ý kiến