Tìm kiếm theo tiêu đề

Tìm kiếm Google

Quảng cáo

Quảng cáo

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (04) 66 745 632
  • 0166 286 0000
  • contact@bachkim.vn

Giáo dục Quốc phòng - An ninh Chủ quyền của Việt Nam đối với Vùng đất Tây Nam Bộ

Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Doãn Đình Tránh
Ngày gửi: 16h:02' 11-11-2017
Dung lượng: 32.0 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích: 0 người
MIỀN TÂY NAM BỘ, một vùng đất máu thịt của non sông VIỆT NAM
Chuyên đề
CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM
ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ
Thạc Sĩ DOÃN ĐÌNH TRÁNH
Giúp người học nắm được nội dung cơ bản lịch sử vùng đất Tây Nam Bộ, những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý cũng như quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ. Qua đó nâng cao ý thức trách nhiệm trong tham gia đấu tranh chống những quan điểm phản động, thù địch. Đồng thời tích cực đóng góp cho sự phát triển ngày càng phồn thịnh của vùng đất này.
- Tập trung nghe, ghi chép tốt. Nắm được những nội dung cơ bản của chuyên đề, biết vận dụng vào thực tiễn.
- Chấp hành tốt các quy định của lớp học...
II. Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động chống phá chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ
Báo cáo viên: sử dụng phương pháp thuyết trình, nêu vấn đề kết hợp với trình chiếu Power point.
Người học: Nghe, ghi chép được những nội dung chính và ghi theo ý hiểu những nội dung được phân tích, dẫn chứng.
4. THỜI GIAN: Buổi sáng nay
5. PHƯƠNG PHÁP
I. CƠ SỞ LỊCH SỬ, PHÁP LÝ
KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ
1. Vị trí vùng đất Tây Nam Bộ
Vịnh Thái Lan
Diện tích Miền Tây Nam Bộ là 40.548,2 km2, năm 2011 dân số trên 17.330.900 người, chiếm 21% dân số cả nước.
Có đường biên giới với CPC dài 409km qua bốn tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang (từ Nam Tây Ninh đến mép biển Xà Xía, Kiên Giang); có vùng biển rộng lớn, bờ biển dài 743 km, có 2 huyện đảo là Phú Quốc, Kiên Hải (tỉnh Kiên Giang).
Một số hình ảnh bản đồ của nước Phù Nam cổ
2. Cơ sở lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ
a) Miền Tây Nam Bộ được hình thành gắn với quá trình khai hóa đất hoang của người Việt và việc xác lập chủ quyền của nhà nước phong kiến Việt Nam cách đây hơn 300 năm
Hiện vật văn hóa Óc Eo, ở núi Ba Thê, Thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang.
Chân Lạp
Các tư liệu cổ của Trung Quốc cũng phân biệt rất rõ Phù Nam với Chân Lạp:
Sử ký của nhà Tùy (581-618) chép rằng: nước Chân Lạp ở về phía Tây Nam ChămPa, nguyên là một chư hầu của Phù Nam. Vua nước ấy là Ksatriya Citrasena đã đánh chiếm và tiêu diệt Phù Nam.
Sử ký nhà Đường (618-907) chép: “Nước Phù Nam bấy giờ có thay đổi lớn. Nhà vua đóng đô ở thành Đặc Mục, thình lình bị nước Chân Lạp đánh chiếm, phải chạy trốn về miền Nam, trú ở thị trấn Na Phất Na”, rồi bị Chân Lạp tiêu diệt.
Sau khi chiếm được Phù Nam, vùng đất này được gọi là Thủy Chân Lạp (vùng hạ, thấp, sông nước).
+ Từ năm 1698, chủ quyền thực tế của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ được xác lập. Năm 1759, toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long chính thức đặt dưới hệ thống chính quyền và thuộc lãnh thổ của nhà Nguyễn.
Thế kỷ XVII - XVIII, Nhà Nguyễn tiếp tục thiết lập các đơn vị hành chính, bố trí quan lại, lập sổ sách quản lý dân cư, đất đai và định ra các loại thuế. Sau năm 1744, vùng đất Nam Bộ được chia thành 4 dinh (ở miền Đông có dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, ở miền Tây có dinh Long Hồ, Hà Tiên).
Năm 1759, vua Cao Miên là Nặc Tôn dâng cho Nhà Nguyễn phần đất cuối cùng của Thủy Chân Lạp là đất Tầm Phong Long, tức tỉnh An Giang ngày nay.
Vua Minh Mạng 1791- 1841
Dưới triều Nguyễn, hệ thống hành chính tiếp tục được hoàn thiện và thống nhất quản lý trên quy mô cả nước. Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập sổ địa bạ toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ (trong đó: 3 tỉnh miền Đông gồm Phiên An, Biên Hòa, Định Tường và 3 tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên; trong đó có 10 phủ, 25 huyện, 135 tổng với 1.637 xã, thôn, phường).
Mạc Cửu
1655 - 1735)
Trận Rạch Gầm - Xoài Mút (19/1/1785), là trận phục kích đường sông nổi tiếng của quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, tiêu diệt quân Xiêm xâm lược Miền Tây Nam Bộ.
- Thời Pháp thuộc, 6 tỉnh Nam Bộ, trong đó có 3 tỉnh Miền Tây do thực dân Pháp cai quản (1867-1949).
Gia Định: tỉnh lỵ là Gia Định,

Biên Hòa: tỉnh lỵ là  Biên Hòa,

Định Tường: tỉnh lỵ là Mỹ Tho,

Vĩnh Long: tỉnh lỵ là Vĩnh Long,

An Giang: tỉnh lỵ là Châu Đốc,

Hà Tiên: tỉnh lỵ là Hà Tiên.
Thắng lợi vẻ vang của hai cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc xâm lược (Pháp; Mỹ) và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam đã khẳng định quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, lòng dũng cảm, kiên định, sự hy sinh xương máu của nhân dân ta để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, trong đó có Miền Tây Nam Bộ.
b) Lịch sử hình thành cộng đồng cư dân trên vùng đất Tây Nam Bộ
Miền Tây Nam Bộ hiện nay có nhiều tộc người sinh sống, trong đó có 4 dân tộc chiếm tỉ lệ dân số cao là: người Việt (Kinh); người Khơme, người Hoa, người Chăm. Ngoài ra còn một số tộc người có số lượng ít như Tày, Nùng, Ngái, Mnông, Striêng, Mường, Chơ ro, Châu mạ, K’ho...
Người Khơme có mặt ở Miền Tây Nam Bộ từ rất sớm nhưng số lượng ít, sống rải rác, có tính biệt lập, chưa có quốc gia nào thiết lập quan hệ quản lý hành chính đối với họ.
Đến giữa thế kỷ XIX, người Khơme ở Nam Bộ cũng chỉ có 146.718 người.
Hiện nay, có trên 1,2 triệu người Khơme sinh sống ở Miền Tây Nam Bộ, tập trung nhất là ở các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau.
Người Hoa di cư đến Tây Nam Bộ vào thế kỷ XVII- XVIII:
Người Hoa sống chủ yếu ở các thành thị nơi giao thương nhộn nhịp với nghề thương mại là chủ yếu.
Hiện nay, người Hoa ở Miền Tây Nam Bộ có gần 200.000 người, chiếm khoảng 1,24% dân số toàn vùng Tây Nam Bộ và chiếm khoảng 23,2% số người Hoa trong toàn quốc. Họ sống tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Bạc Liêu, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long, Cà Mau...
Người Chăm ở Tây Nam Bộ còn gọi là người Chàm, người Chiêm, dân Chiêm Thành có nguồn gốc từ miền Trung Trung Bộ, nguyên là cư dân nước Chămpa.
Hiện nay vùng Miền Tây Nam Bộ, đa số người Chăm sống ở An Giang, hiện có trên 14.200 người, hầu hết đều cư trú giáp biên giới CPC.
Người Việt có công lớn nhất trong quá trình khai phá Miền Tây Nam Bộ.
Trang phục của người Việt ở Miền Tây Nam Bộ
3. Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ
a) Chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ được khẳng định bằng các văn bản có giá trị pháp lý, được cộng đồng quốc tế, trong đó có chính phủ Campuchia thừa nhận (10)
7.
Norodom Sihanouk 1922 - 2012
Trước khi Chính phủ Pháp chuẩn bị trao trả lại vùng đất Nam Bộ cho Việt Nam, Chính quyền CPC lúc đó đã đưa ra yêu sách phản đối. 25/6/1945, Quốc vương của CPC Norodom Sihanouk ra tuyên bố về quan điểm về vùng đất Nam Kỳ, ngày 20/01/1948 ông gửi thư cho Cao ủy Cộng hòa Pháp, ngày 02/4/1949, ông gửi thư cho Chủ tịch Liên hiệp Pháp để phản đối ý định của Pháp trả đất Nam Kỳ cho phía Việt Nam.
Ngày 08/6/1949, Chính phủ Pháp gửi thư cho Quốc vương Norodom Sihanouk, khẳng định:
“… Ngoài những lý do thực tiễn, những lý do pháp lý và lịch sử không cho phép Chính phủ Pháp trù tính các cuộc đàm phán song phương với CPC để sửa lại các đường biên giới của Nam Kỳ. Quốc vương hẳn cũng biết rằng Nam Kỳ đã được An Nam nhượng cho Pháp theo các Hiệp ước năm 1862 và 1874...” và “Chính từ triều đình Huế mà Pháp nhận được toàn bộ miền Nam Việt Nam”, trước lúc Pháp có mặt ở Đông Dương, miền Tây Nam Kỳ không thuộc triều đình Khơme”.
10.
b) Những hiệp ước về biên giới, lãnh thổ được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Campuchia
Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa nước Việt Nam và nước Campuchia, 18/02/1979.
Tượng đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia
1.
Hiệp ước này, tại Điều 4 đã thống nhất: "Hai bên cam kết sẽ giải quyết bằng thương lượng hoà bình tất cả những bất đồng có thể nảy sinh trong quan hệ hai nước. Hai bên sẽ đàm phán để ký một hiệp định hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước trên cơ sở đường biên giới hiện tại; quyết tâm xây dựng đường biên giới này thành biên giới hoà bình, hữu nghị lâu dài giữa hai nước”.
Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam – Campuchia, 20/7/1983.
2.
Trong đó đã thống nhất áp dụng hai nguyên tắc:

+ (1) Trên đất liền, hai bên coi đường biên giới hiện tại giữa hai nước được thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương thông dụng trước năm 1954 hoặc gần năm 1954 nhất (kèm theo 26 mảnh bản đồ đã được hai bên xác nhận) là đường biên giới quốc gia giữa hai nước;
+ (2) ở nơi nào đường biên giới chưa được vẽ trên bản đồ hoặc hai bên đều thấy chưa hợp lý thì sẽ cùng nhau bàn bạc, giải quyết trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - CPC, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế.
- Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Campuchia, ngày 27/12/1985.
3.
- Hiệp ước giữa nước CHXHCN Việt Nam và Vương quốc Campuchia bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985, ngày 10/10/2005.
4.
c) Tính khách quan, khoa học, chính xác và đồng thuận trong quá trình phân giới, cắm mốc giữa Việt Nam và Campuchia
Thực hiện các hiệp định nêu trên, hai nước đã tiến hành khảo sát thực tế, vẽ bản đồ và phân định biên giới; đồng thời tổ chức xây dựng hệ thống cột mốc biên giới hoàn toàn dựa trên cơ sở kết quả vẽ bản đồ và phân định trên thực địa đã được hai bên thống nhất, những khu vực còn chưa thống nhất thì tiêp tục nghiên cứu, khảo sát để hoạch định trên nguyên tắc công bằng, bình đẳng, tuân thủ luật pháp quốc tế và các thỏa thuận hai bên đã ký kết.
- Ngày 07/9/2006, đại diện Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Campuchia đã chứng kiến Lễ khởi công xây dựng cột mốc quốc tế đầu tiên tại cửa khẩu Mộc Bài (Tây Ninh).
Sáng 24/6/2012  trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia thuộc địa bàn xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang và xã Rus Xây Sroc Khang Lếch, huyện Kom Pong Trach, tỉnh Kampot, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Thủ tướng Hun Sen dự lễ khánh thành cột mốc biên giới số 314 là cột mốc có số thứ tự cuối cùng trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia.
CỘT MỐC 245
An Giang
Kandal
An Giang
Kandal/Takeo
Kiên Giang
Kampot
Trên Biên giới của Việt Nam có 02 cột mốc đặc biệt
4. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ
Ngay sau khi được thành lập (8/1945), Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã khẳng định chủ quyền đối với vùng đất Tây Nam Bộ - một bộ phận không thể tách rời của toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
Tháng 7/1946, Tại Pari, bên lề Hội nghị Phôngtenbơlô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Nam Bộ là đất của Việt Nam. Nó là thịt của thịt chúng tôi, là máu của máu chúng tôi”.
Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ ngày 31/5/1946, Hồ Chủ tịch đã viết:
“Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.
Những năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng và Nhà nước ta đã tập hợp, động viên được đông đảo các tầng lớp nhân dân, trong đó đồng bào các dân tộc ở Miền Tây Nam Bộ tham gia kháng chiến, kề vai sát cánh cùng quân và dân CPC trong Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - CPC; lực lượng cách mạng hai nước đã thường xuyên phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau, cùng đấu tranh chống xâm lược. Lúc đó, Chính quyền CPC luôn giữ quan hệ đoàn kết, hợp tác, thể hiện sự tôn trọng đường biên giới giữa hai nước.
Trong lúc xảy ra tranh chấp biên giới giữa Chính quyền Việt Nam cộng hòa với Nhà nước CPC, Chính phủ CPC và Quốc vương Norodom Sihanouk kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận đường biên giới hiện tại. Khi đó, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng đã lần lượt ra tuyên bố thừa nhận và cam kết tôn trọng đường biên giới hiện tại của CPC.
Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo quân và dân ta đánh đuổi Khơme đỏ xâm lược.
Quân đội và nhân dân Việt Nam đã không tiếc máu xương, tận tình giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng.
Về đối nội, Đảng, Nhà nước ta luôn thực thi chính sách bình đẳng, đoàn kết các dân tộc, thường xuyên quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng dân cư các dân tộc thiểu số, trong đó có đồng bào Khơme ở Miền Tây Nam Bộ; đã có nhiều chính sách, giải pháp cụ thể để phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Ngày 18/4/1991, Ban Bí thư TW Đảng ban hành Chỉ thị số 68-CT/TW về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơme. Ngày 14/8/2012, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 28-KL/TW về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển KT-XH và bảo đảm ANQP vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020. Ngày 21/11/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2270/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 28-KL/TW của Bộ Chính trị.
Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 35,66% năm 2011 xuống còn 28,11% năm 2014, hiện nay không còn hộ đói; 80% số hộ dân có phương tiện nghe, nhìn.
Một số tỉnh miễn 100% học phí và đóng góp xây dựng trường cho học sinh Khơme. Toàn đồng bằng sông Cửu Long có 167 bác sĩ và 436 y sĩ là người dân tộc Khơme.
II. ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI, PHẢN ĐỘNG CHỐNG PHÁ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ
1. Một số tổ chức hoạt động chống phá chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ
(1). Tổ chức “Khơme tự do” (Khơme Serei) với tư tưởng ly khai dân tộc
Sơn Ngọc Thành, quê ở Trà Vinh là từng giữ chức Bộ trưởng và Thủ tướng trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Campuchia và Cộng hòa Khmer.
(2). “Liên đoàn Khơme Campuchia Crôm thế giới” (KKF)
Thành lập năm 1985 từ một số tàn quân của lực lượng “Khơme tự do” kết hợp với ngụy quân, ngụy quyền Việt Nam và người Khơme Crôm di tản sang Mỹ, trụ sở tại Bang New Jersey, Hoa Kỳ. Cầm đầu hiện nay: Thạch Ngọc Thạch.
- Khẩu hiệu đưa ra là “Con đường hướng về Tổ quốc”, được chia làm hai giai đoạn để thực hiện là đấu tranh đòi nhân quyền cho người Khơme Crôm và tiến tới đòi thành lập khu tự trị cho người Khơme Crôm trên vùng đất Nam Bộ của Việt Nam.
(3). “Cộng đồng Khơme Campuchia Crôm” (KKKC)
Tổ chức đại hội, ra mắt “Cộng đồng Khơme CPC Crôm” tại Phnôm Pênh (10/2002). Tổ chức này đã được Bộ Nội vụ CPC cho phép mở văn phòng và hoạt động trong khuôn khổ của một tổ chức trung lập.
Cầm đầu: Thạch Sê Tha; Sơn SuBe: Thạch Son; Tổng thư ký: Thạch Ngọc Wath.
Tổ chức “Cộng đồng Khơme CPC Crôm” (KKKC): đấu tranh với Việt Nam theo mục tiêu giành chủ quyền vùng đất Nam Bộ cho người Khơme Crôm và sáp nhập thành một bộ phận của CPC, với khẩu hiệu hành động: “Cùng một dân tộc, cùng một quốc kỳ và cùng một lịch sử là người Khơme”.
Họ thực hiện cái gọi là: “Theo dõi sự vi phạm nhân quyền của Việt Nam đối với người Khơme Crôm, nhằm tập hợp tài liệu, nhân chứng, vật chứng kiện lên cơ quan Cao uỷ Liên Hợp quốc về quyền con người để có biện pháp đối với Việt Nam, buộc Việt Nam phải tôn trọng các quyền tự do của người Khơme Crôm”.
Phương châm hành động: Chống phá Việt Nam theo khuynh hướng cực đoan là chủ yếu.
Đảng Cứu quốc CPC (Cứu nguy Dân tộc CPC) là một liên minh bầu cử giữa hai đảng đối lập chính ở CPC là đảng Sam Rainsy và Đảng Nhân quyền, được thành lập vào giữa năm 2012, lúc đầu do Sam Rainsy làm Chủ tịch là một trong các đảng đối lập lớn nhất ở CPC hiện nay.
Chủ trương đòi vùng đất Nam Bộ về CPC, chống phá các Hiệp định biên giới và quá trình phân giới cắm mốc giữa hai nước Việt Nam - CPC; chống phá quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước. Kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, vu cáo và kêu gọi chống Việt Nam.
(4). Đảng Cứu quốc Campuchia (CNRP)
2. Một số vấn đề rút ra từ việc tổ chức và hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch, phản động
- Các lực lượng chống phá cho rằng người Khơme ở Miền Tây Nam Bộ là người CPC, vùng đất Tây Nam Bộ là của CPC. Chủ trương từ bỏ quốc tịch Việt Nam đối với người Khơme ở Tây Nam Bộ. Đòi chủ quyền của tộc người Khơme với vùng đất này. Đấu tranh để thay đổi chủ quyền quốc gia theo quan niệm về nguồn gốc tộc người do họ đề xướng...
- Ý đồ của chúng là kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ khối ĐĐK dân tộc Việt Nam và chia rẽ quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống giữa hai nước Việt Nam - CPC; hạ thấp uy tín, ảnh hưởng của Việt Nam; thu hút sự chú ý của dư luận, cộng đồng quốc tế, kêu gọi can thiệp, giúp đỡ cho “cuộc đấu tranh đòi ly khai, tự trị cho người Khơme ở Miền Tây Nam Bộ” hoặc đòi sáp nhập vùng đất Tây Nam Bộ vào CPC.
- Chúng tiến hành hoạt động chống phá theo hai mũi:
+ Cực đoan, bạo động - do Thạch Sê Tha, Chủ tịch “Cộng đồng Khơme CPC Crôm” cầm đầu;
+ Nghị trường, bất bạo động do Thạch Ngọc Thạch, Chủ tịch “Liên đoàn Khơme CPC Crôm thế giới” cầm đầu.
- Các hoạt động chống phá của các lực lượng này không chỉ nhằm chống Việt Nam mà còn nhằm hạ uy tín của Chính phủ CPC, Đảng Nhân dân CPC (CPP) và Thủ tướng Hun Xen.
  Cả hai mũi tấn công của chúng đều nhằm chung một mục đích là kêu gọi sự chú ý, can thiệp của dư luận, cộng đồng quốc tế; tập hợp lực lượng đấu tranh đòi “tự trị” cho người Khơme Crôm; tách các tỉnh Miền Tây Nam Bộ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam để thành lập “Nhà nước Khơme độc lập” hoặc sáp nhập vào CPC.
3. Trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ
- Thường xuyên nắm chắc tình hình …
- Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục …
- Học tập nắm vững ….
- Tích cực tuyên truyền phản bác những luận điệu sai trái …
- Coi trọng tuyên truyền phát huy những kết quả thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước…
- Xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh;...
- Chủ động phát hiện, ngăn chặn, triệt tiêu từ sớm…
- Cần chủ động nắm tình hình, báo cáo và chấp hành nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, không để bị động, bất ngờ,…
69
KẾT LUẬN CHUNG VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ
1. Đầu Công nguyên các cư dân vùng đất này đã dựng nên nhà nước Phù Nam phát triển rộng lớn.
2. Đầu thế kỷ VII nước Chân Lạp của người Khơme vốn là thuộc quốc của Phù Nam đã tấn công tiêu diệt đế chế Phù Nam.
3. Trong suốt 10 thế kỷ vùng đất Thủy Chân Lạp không được quản lý chặt chẽ. Gần như bị bỏ hoang.
4. Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Dưới sự bảo trợ của các chúa Nguyễn. Người Việt cùng cư dân KhơMe, Hoa, Chăm mở mang phát triển Đồng bằng sông Cửu Long thành vùng đất trù phú.
5. Người Việt đã trở thành chủ thể. Và thật sự quản lý vùng đất này. Đến nay chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam được khẳng định bằng thực tế lịch sử. Và các văn bản pháp lý.
6. Đối với mỗi người Việt Nam: Nam bộ không chỉ là chủ quyền lãnh thổ mà còn là vùng đất của những giá trị truyền thống thiêng liêng.
7. Suốt hơn 300 năm qua nhiều thế hệ người Việt Nam đã đổ biết bao công sức bảo vệ Nam bộ. Mỗi tấc đất nơi đây thấm đẫm mồ hôi và máu của biết bao thế hệ người Việt Nam.
Miền Tây Nam Bộ là vùng đất máu thịt của Việt Nam. Chúng ta có trách nhiệm bảo vệ và quyết tâm giữ vững điều thiêng liêng đó.
TÓM LẠI
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!
CHÚC CÁC ĐỒNG CHÍ
MẠNH KHỎE, HẠNH PHÚC,
CÔNG TÁC TỐT!
 
Gửi ý kiến