Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Dịch tả vịt - Viêm gan vịt


    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Minh Thành (trang riêng)
    Ngày gửi: 10h:39' 19-10-2009
    Dung lượng: 20.7 MB
    Số lượt tải: 116
    Số lượt thích: 0 người
    Vaccin là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh
    Bệnh dịch tả vịt

    Dịch tả vịt là một bệnh cấp tính, gây tử vong cao cho vịt, ngỗng và thiên nga,
    Do virut herpes gây nên. Vịt ngỗng trời cũng như vịt, ngỗng nhà đều mẫn cảm.
    Bệnh này được mô tả lầ đầu tại Hà Lan năm 1942, sau đó các ổ dịch đã được phát hiện tại Trung Quốc, Bỉ, ấn độ, Mỹ , Pháp, Thái Lan.
    Bệnh dịch tả vịt
    . Chỉ có một serotyp virut được biết đến, nhưng nhiều chủng có độc lực khác nhau đã tồn tại trong thiên nhiên.
    Vật bệnh đã thải virút ra theo phân và các chất thải khác của cơ thể.
    Sự loại thải trực tiếp hay gián tiếp các chất ô nhiễm có thể truyền virut cho vật mẫn cảm.
    Bệnh lây lan nhanh hơn trong các đàn sống tại các nguồn nước.
    Bệnh dịch tả vịt
    Vịt mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh.
    Vịt trời có sức đề kháng tương đối cao hơn và có thể mắc thể tiềm tàng và trở nên vật mang bệnh.
    Một số đàn nhiễm không phát bệnh,
    Các triệu chứng bệnh chỉ xuất hiện khi vật chịu đựng một dạng stress nào đó.
    Bệnh dịch tả vịt
    Hiện nay còn chưa rõ virut có truyền qua trứng không.
    Vịt đã khỏi bệnh có miễn dịch nhưng vẫn còn mang virut và có thể được phân lập từ phôi trứng 9-12 ngày
    Bệnh dịch tả vịt
    Virut cường độc "Dịch tả vịt" cũng có thể bị làm giảm độc nhờ tiếp dời trên môi trường tổ chức.
    Trước hết virut được tiếp dời trên nguyên bào sợi phôi vịt (9lần) sau đó trên nguyên bào sợi phôi gà và qua nhiều lần tiếp dời này chúng mất đi tính cường độc đối với vịt, nhưng lại gây miễn dịch cho vịt
    Bệnh dịch tả vịt

    Thời kỳ nung bệnh thường 3-7 ngày.
    đôi khi, lúc mới nổ ra ổ dịch, có thể thấy xác vịt chết nổi trên nước, trước khi triệu chứng bệnh lâm sàng xuất hiện.
    triệu chứng
    Vịt mắc bệnh ủ rũ, ngồi trên đất, đôi cánh sã xuống,
    Cử động một cách khó khăn và tỏ ra không muốn đi lại hoặc bơi lội.
    Nếu vịt buộc phải xuống nước, nó không muốn bơi và chỉ nổi trên mặt nước, và quay trở lại mặt đất
    triệu chứng
    đôi khi, ở vịt thịt, dấu hiệu đầu tiên của bệnh là viêm két mạc.
    Mắt bị ướt và trong nhiều trường hợp cả khu vực quanh mắt bị ướt nhèm, nước mắt chảy ra dính sánh lại
    ở vịt chết mí mắt sưng có thể bị dính lại hoàn toàn.
    ở một số vịt biểu hiện giác mạc mờ đục, nhãn cầu bị thụt sâu vào hốc mắt và dễ bị mù.
    triệu chứng
    đầu sưng
    Viêm kết mạc mắt
    Có triệu chứng hô hấp rõ
    triệu chứng
    Do bệnh tiến triển, nước mũi chảy nhiều lên và ở thời kỳ cuối của bệnh, lỗ mũi bị cáu bẩn.
    ở vịt con mỏ trở nên nhợt màu.
    Lông bị xù và xỉn lại.
    ở vịt bệnh, tiếng trở nên khàn và vịt thở khó, nhất là khi vịt bị hoảng sợ.
    triệu chứng
    Vật hoàn toàn không muốn ăn nhưng khát lại tăng lên.
    Vịt bị ỉa chảy, phân lỏng, màu hơi và lục, đôi khi lẫn máu.
    Vùng quanh lỗ huyệt rất bẩn,
    Có dấu hiệu chứng tỏ vật sợ ánh sáng.
    triệu chứng
    Một số vịt có triệu chứng thần kinh và chúi mỏ xuống đất.
    Cơ qua giao cấu con đực bị sưng và lồi ra,
    ở niêm mạc của cơ quan giao cấu có vết loét nông nhưng đôi khi thấy cả đám màng giả.
    triệu chứng
    ở vịt mái đẻ có hiện tượng sụt trứng rõ rệt, trong vòng một tuần mức sụt có thể từ 80% xuống còn khoảng 16%.
    Dù cho dịch tả vịt ở thể quá cấp tính, cấp tính hay mãn tính, thì quá trình diễn biến của bệnh trong một đàn cũng hơi chậm và thường kéo dài khoảng 3-6 tuần.
    triệu chứng
    Thường có những biến đổi ở mắt, lỗ mũi và quanh lỗ huyệt.
    ở vùng ngực có thể thấy phù thũng dưới da.
    Trong xoang bụng thường có thanh dịch.
    bệnh tích
    Lách thường bị teo nhỏ, nhưng đôi khi có thể hơi sưng to,
    Mặt ngoài hoặc mặt cắt có những đám hoại tử lớn nhỏ và các điểm xuất huyết to nhỏ khác nhau, trông giống như vân đá hoa.
    bệnh tích
    Trong nhiều trường hợp, những đốm xuất huyết được thấy ở khắp cơ thể,
    Ví dụ ở kết mạc mắt, niêm mạc thực quản, ruột, thanh mạc, màng ngoài tim, màng trong tim, cơ tim, phổi, thận và tuỵ.
    bệnh tích
    ở phần lớn vịt các biến đổi đặc trưng được thấy ở đường tiêu hoá,
    đặc biệt là ở thực quản và ổ nhớp.
    Trong các ca quá cấp tính- xuất huyết xuất hiện thành đám dọc theo thực quản và tản mạn ở lỗ huyệt
    bệnh tích
    Trong các ca nhẹ hơn, niêm mạc thực quản cũng bị bao phủ toàn bộ hay từng phần theo chiều dọc một màng giả màu hơi vàng, hơi nâu hoặc hơi lục.
    Niêm mạc lỗ huyệt cũng có thể bị bao phủ một màng giả tương tự. đôi khi màng giả có thể lan tới túi Fabricius, minh quản, manh tràng và trực tràng.
    bệnh tích

    Niêm mạc ruột thường dầy lên và đỏ. ở đây còn có thể thấy nhiều chỗ xuất huyết.

    Chất chứa trong ruột thường lỏng, nhầy và đôi khi lẫn máu.
    bệnh tích

    Buồng trứng bị sưng huyết và trong một số ít trường hợp bị vỡ.

    ở vịt mái đẻ thường thấy viêm màng bụng trứng.
    bệnh tích
    Nếu có hiện tượng chết đột ngột xảy ra ở vịt con 1-6 tuần tuổi thì có thể nghĩ đến các bệnh sau:
    Dịch tả vịt,
    Pasteurelia anatipestifer
    Nhiễm trùng huyết vi khuẩn khác,
    Viêm gan vịt do virut,
    Cầu trùng và nhiễm độc nấm.
    chẩn đoán

    ở vịt trưởng thành , bệnh tụ huyết trùng thể cấp tính qua mổ khám đôi khi có bệnh tích rất giống dịch tả vịt,
    Những biến đổi hoại tử có màng giả đặc trưng xuất huyết ở thực quản và ổ nhớp có thể xác định cho chẩn đoán,
    Hoặc khi cần thiết phải xét nghiệm vi trùng học hoặc virut học.
    chẩn đoán
    Chưa có biện pháp trị bệnh đặc hiệu đối với vịt mắc bệnh.
    Vịt chưa nhiễm bệnh có thể được bảo vệ phòng bệnh bằng tiêm chủng vaccin
    Sử dụng vaccin nhược độc qua phôi gà hoặc vaccin môi trường tổ chức.
    phòng bệnh
    Vịt có thể được tiêm vaccin ngay từ lúc 2-3 tuần tuổi.
    Tiêm sớm trước 2 tuần sẽ bị ảnh hưởng của kháng thể mẹ truyền.
    Tiêm phòng một lần không đủ tạo miễn dịch lâu dài, tiêm phòng lần hai sau 3 tuần là cần thiết. Qua 2 đợt tiêm có thể gây được miễn dịch 6 tháng. Sau đó vịt cần được tiêm lại 6 tháng một lần.
    phòng bệnh
    Vaccin có thể tiêm bắp thịt hoặc dưới da.
    Cho uống không có tác dụng.
    Sau đợt tiêm đầu, ở vịt hiệu giá trung hoà trong huyết thanh tăng không rõ rệt.
    Sự tăng rõ rệt trong hiệu giá trung hoà chỉ đạt được sau lần tiêm thứ 2.
    phòng bệnh

    Những vịt được miễn dịch thì truyền được miễn dịch của mình sang đời con qua lòng đỏ trứng.
    Miễn dịch mẹ truyền thường không cao và sau 2 tuần sẽ không còn nữa.
    Phòng bệnh

    Vaccicn vô hại ngay cả với vịt con mới nở, thường không thấy có phản ứng hoặc giảm mức đẻ khi tiêm vaccin cho gà mái đẻ.
    Ngan, ngỗng cũng có thể tiêm vaccin theo phương thức trên
    Phòng bệnh
    Bệnh dịch tả vịt có thể lây lan nhanh hơn nếu vịt được nuôi trong nước tự nhiên (mương, ao, hồ...)
    Do đó trong trường hợp xảy ra ổ dịch hoặc trong thời gian nguy hiểm của bệnh, sự lây lan bệnh vẫn ít xảy ra nếu vịt được nuôi cách biệt.
    Một số điểm quan trọng trong phòng bệnh
    Một số vịt khỏi bệnh dịch tả vẫn chứa virut trong phủ tạng qua nhiều tháng, có thể reo rắc virut và gây ô nhiễm môi trường.
    Do đó đàn vịt đã bị nhiễm virut cường độc cần được coi như mang bệnh suốt đời
    Một số điểm quan trọng trong phòng bệnh
    Do dịch tả vịt không phải là một bệnh truyền qua trứng, nên có thể tạo được một đàn không có virut dịch tả vịt ngay từ trứng của một đàn mái đẻ đã nhiễm bệnh thể tiềm tàng, bằng cách giữ vệ sinh nghiêm ngặt khi ấp và khi nuôi.
    Một số điểm quan trọng trong phòng bệnh
    Trại vịt cần được cách ly,
    Không để khách hoặc xe cộ ra vào,
    Nếu trong trường hợp không tránh được thì cần cho tiêu độc cẩn thận.
    ở của ra vào cần có khay sát trùng chứa FORMADES .
    Người ra vào cần được tẩy uế giầy và tay, thay quần áo bảo hộ sạch sẽ.
    Một số điểm quan trọng trong phòng bệnh
    Thường xuyên phun thuốc sát trùng trong khi nuôi vịt
    Antisep với liều 3ml/1lít nước phun
    Phun vào lúc thời tiết khô và ấm nhất trong ngày
    Phun 1-2 lần/tuần
    Một số điểm quan trọng trong phòng bệnh
    Một số điểm quan trọng trong phòng bệnh
    Chăm sóc tốt,
    Thường xuyên cung cấp đủ nước uống sạch, giữ vệ sinh
    Tránh nhốt quá đông sẽ giúp cho vịt có sức đề kháng tốt và khoẻ mạnh.
    Cần cọ rửa và tẩy uế tủ ấp giữa các kỳ ấp, chuồng hoặc lều vịt và mọi thiết bị giữa 2 đợt nuôi vịt.
    Vịt con dưới 2 tuần tuổi thường nhạy cảm với lạnh, cần được nuôi những ngày đầu trong nhiệt độ 32oC, đến lúc 14 ngày tuổi, vịt được nuôi không dưới 28oC. ở các nước nhiệt đới, nhiệt độ ban đêm có thể xuống thấp hơn.
    Trong các trường hợp này sưởi ấp bằng đèn hồng ngoại là cần thiết.
    Một số điểm quan trọng trong phòng bệnh
    vaccin
    là biện pháp
    tốt nhất
    phòng bệnh
    dịch tả vịt
    Thank you
    Viêm gan vịt do virut là 1 bệnh nhiễm trùng cấp tính vủa vịt con, được thấy ở hầu hết các nước có nuôi vịt.
    Bệnh gây nên do 1 virut RNA nhỏ (virut Picorna) có sức đề kháng cao và có thể tồn tại thời gian dài trong phân, gây khó khăn cho việc loại trừ bệnh khỏi những chuồng đã nhiễm bệnh.
    Bệnh viêm gan do virus
    Foocmalin và các hợp chất iốt hữu cơ là những chất sát trùng có hiệu lực.
    Formades & antisep
    Chưa có chứng cớ là virut truyền được qua trứng.
    Bệnh viêm gan do virus
    Chỉ vịt con dưới 5 tuần tuổi là mẫn cảm với bệnh,
    Khả năng mẫn cảm cao ở vịt 3 tuần tuổi,
    Sau đó sức đề kháng tăng nhanh theo tuổi đến mức trên 5 tuần tuổi vịt không bị bệnh nữa , kể cả khi gây bệnh nhân tạo.
    Bệnh viêm gan do virus
    Bệnh viêm gan do virus
    Có 2 tuýp virut khác nhau về mặt miễn dịch học và gây 2 dạng bệnh.
    Tuýp I gây dạng bệnh cổ điển, đặc trưng là tiến triển nhanh và tử vong cao (trên 80%) ở vịt dưới 3 tuần tuổi.
    Tuy vậy ở vịt 3-6 tuần tuổi do sức đề kháng tăng nhanh nên tỷ lệ chết thấp hơn nhiều.
    Virut tuýp II tỷ lệ chết thấp hơn ở vịt con, trong khi đó gây chết cao ở vịt lớn hơn (3-6 tuần tuổi).
    2 tuýp virut này khác nhau về mặt huyết thanh học.
    Bệnh viêm gan do virus
    Bệnh ở thể quá cấp tính và vịt con thường chết trong vòng 1-2 giờ sau khi mắc bệnh.
    Thời kỳ nung bệnh đối với tuýp 1 là 1-2 ngày và tuýp II là 3-4 ngày.
    Triệu chứng
    Tỷ lệ chết trong một đàn chịu ảnh hưởng lớn ở khả năng mẫn cảm và tuổi vịt.
    Vịt con dưới 2 tuần tuổi hoặc thiếu kháng thể mẹ truyền, bệnh thường xảy ra đột ngột và tỷ lệ chết cao (20-80%) trong 2-3 ngày
    Triệu chứng
    Vịt có miễn dịch do mẹ truyền và vịt lớn hơn sự thiệt hại lẻ tẻ hơn nhiều.

    Vịt bệnh ủ rũ, kém ăn và không theo kịp những con khác
    Triệu chứng
    Sau một thời gian ngắn chúng đi ngả nghiêng,
    đầu ngoặt phía sau (ưỡn cong) và chân co giật
    đây là triệu chứng điển hình nhất của bệnh
    Triệu chứng
    Những biến đổi bệnh lý thấy ở gan.
    Gan phình to, trên mặt gan có những điểm xuất huyết bằng đầu đanh ghim hoặc to hơn với số lượng thay đổi.
    ở một số vịt không biểu hiện triệu chứng rõ rệt, do đó trong trường hợp nghi ngờ bệnh viêm gan do virut cần mổ khám nhiều vịt (10-20 con)
    bệnh tích
    Tỷ lệ tử vong cao ở vịt con là một lý do đáng để nghi ngờ bệnh viêm gan do virut.
    Nhưng bệnh dịch tả vịt, nhiễm trùng huyết do Pasteurella anapestier, cầu trùng và nhiễm độc nấm cũng gây chết đột ngột ở vịt con.
    Chuẩn đoán phân biệt
    Khi thấy có hiện tượng uỡn cong đặc trưng ở vịt bệnh với xuất huyết điển hình ở gan, cần nghi bệnh viêm gan do virut.
    Trong các trường hợp nghi ngờ cần phân lập virut trong phòng thí nghiệm để giúp xác định
    Chuẩn đoán phân biệt
    Vịt giống phải được tiêm vaccin để tăng sản sinh mức độ kháng thể mẹ truyền.
    Cần tiêm bắp 2 lần, mỗi lần 0,5 -1ml vaccin cách nhau 4-6 tuần,
    Lần thứ 2 tiêm vào lúc vịt bắt đầu đẻ.
    Sau đó trong thời gian vịt đẻ, cứ cách 6 tháng tiêm lại một lần.
    Vaccin phòng bệnh
    Nếu vịt con mới nở không có kháng thể mẹ truyền mà được đưa vào nuôi trong vùng có dịch viêm gan do virut thì cần cho tiêm vaccin trước khi đưa vào.
    Vaccin có thể sử dụng bằng biện pháp chủng màng da hoặc tiêm dưới da.
    Vaccin phòng bệnh
    Do virut tuýp I và II khác nhau về huyết thanh học nên chúng không sinh được miễn dịch chéo cho nhau.
    Các vaccin thương phẩm chủ yếu là biến thể nhược độc của virut tuýp I.
    Nếu virut túyp II gây bệnh thì cần tiêm bằng chủng nhược độc của tuýp II.
    Vaccin phòng bệnh
    formades
    Công dụng
    Diệt virus Gumboro, Newcastle, IB, Marek, Dịch tả vịt , viêm gan vịt,
    Diệt vi khuẩn Mycoplasma, E.coli, Salmonella, tụ huyết trùng, nấm mốc..
    An toàn với vật nuôi và người sử dụng
    Phun thuốc sát trùng
    Khi dang nuôi gà
    Loại thuốc: antisep
    Liều pha 3ml/1lít nước
    Cách phun: Phun sương
    Thời điểm phun: phun vào lúc khô nhất & ấm nhất trong ngày
    Chu kỳ phun: 1-2lần/tuần
    antisep
    Thành phần:
    Iodine 10% Potassium
    Iodide 5%
    antisep
    Công dụng
    Diệt virus, vi khuẩn, nấm mốc
    Trung hoà khí Amoniac làm mất mùi hôi chuồng nuôi
    An toàn, phun được khi đang nuôi gà trong chuồng
    Dùng kháng sinh
    phòng bệnh
    Loại kháng sinh: ENROTRYL 10% oral
    Liều phòng: 5mg/1kg thể trọng/ngày hoặc 1ml/4lít nước uống/ngày hoặc 1ml/20kg thể trọng/ngày dùng trong 3 ngày
    Lịch phòng: dùng liên tục trong 3 ngày tuổi đầu tiên sau đó 10ngày lặp lại 1 lần
    Sau 30ngày tuổi- 1tháng dùng 1lần.

    Thành phần:Enrofloxacin 10%
    Công dụng: phòng và trị các bệnh hen gà (CRD), hen ghép (CCRD), sưnag đầu, khẹc vịt
    Các bệnh tiêu chảy phân xanh, trắng do E.coli, thương hàn, bạch ly.
    Enrotryl
    bổ trợ
    nâng cao sức đề kháng
    Loại thuốc: Unilyte Vit-C pha nước uống với liều 2-3g/1lít nước uống
    Men Bioguard trộn thức ăn với liều 100g/50-100kg thức ăn hỗn hợp
    Dùng liên tục hoặc dùng trong những ngày chủng vaccin
    Unilyte vit-c
    Thành phần:
    Điện giải
    Vitamin A,D,E,B,PP..
    Đặc biệt có Vitamin C
    Glucoza Anhydrate
    Unilyte vit-c
    Công dụng:
    Chống nóng
    Chống mất nước
    Chống ngộ độc
    Hỗ trợ điều trị bệnh
    Dùng trong úm gà, vịt, cút
    Thành phần:
    L.Acidophillus
    L.Sporogenes
    Vitamin A,D,E,B,PP.
    BioGuard
    Công dụng:
    Hạn chế tiêu chảy
    Làm mất mùi hôi chuồng nuôi
    Tăng khả năng hấp thu thức ăn
    Có thể sử dụng cùng kháng sinh trong điều trị bệnh
    BioGuard
    1- Vệ sinh môi trường
    1- Dọn vệ sinh sạch sẽ
    2- Đảm bảo nhiệt độ thích hợp theo lứa tuổi
    3- Sử lý môi trường thoáng
    4- Phun thuốc sát trùng Antisep 1lần/ngày (nếu thời tiết ấm và khô)
    2- dùng kháng sinh theo 5 đúng
    Loại thuốc: MG-200
    Dùng thuốc ngay khi thấy dấu hiệu của bệnh
    Liều 100g/500kg thể trọng/ngày ngày đầu dùng liều tấn công- gấp 1,5 lần liều điều trị
    Dùng toàn bộ lượng thuốc của 1 ngày cho uống làm 2 lần/ngày (sáng-chiều) mỗi lần 2giờ đồng hồ
    Dùng liên tục trong 3-5ngày
    MG-200
    Thành phần: trong 100g
    Tylosin Tartrate: 20g
    Sulphamethxazol: 15g
    Trimethoprim: 3g
    Thuốc rãn phế quản
    Tá dược vừa đủ 100g
    MG-200
    Công dụng:
    Đặc trị bệnh hen gà -CRD
    Đặc biệt hiệu quả cả với bệnh nặng hoặc bệnh ghép
    Giảm cơn hen nhanh chóng nhờ thuốc rãn phế quản
    Liều dùng:
    100g/500kg thể trọng/ngày dùng 3-5 ngày
    3- bổ trợ
    Men BioGuard 100g/50kg thức ăn hỗn hợp

    Unilyte Vit-C 2-3g/1lít nước uống dùng 6-8h/ngày
    Thank you
     
    Gửi ý kiến
    print