Tìm kiếm theo tiêu đề

Tìm kiếm Google

Quảng cáo

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (04) 66 745 632
  • 0166 286 0000
  • contact@bachkim.vn

Chương 3: Quá trình quản lý tài chính

Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trần Thị Nga (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:04' 13-05-2008
Dung lượng: 826.0 KB
Số lượt tải: 43
Số lượt thích: 0 người
1
Chương III: Quá trình quản lý tài chính Giáo dục




TS. Phạm Quang Sáng
GĐ Trung tâm Thống kê & Dự báo GD
CQ: 04 9424980; DD: 0913507867
Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục
2
Mục tiêu của chương III
Tìm hiểu và phân tích:
Lập kế hoạch tài chính GD
Cách thức cung cấp tài chính cho GD
Phân cấp trong QLTC của GD
Hệ thống thông tin tài chính GD
3
Chương III: Quá trình quản lý tài chính Giáo dục
Các nội dung chính
Mục tiêu và những chức năng cơ bản của QLTC GD
Dự toán NS và kế hoạch tài chính GD
Phân bổ và cấp phát ngân sách cho GD
Phân cấp về tài chính nhằm tăng quyền tự chủ và trách nhiệm
Phát triển thông tin về tài chính và giám sát
4
I. Mục tiêu và những chức năng cơ bản của QLTC GD
Mục tiêu cơ bản của quản lý tài chính GD:
Mở rộng các nguồn tài chính để đảm bảo các chi phí về đầu vào cần thiết
Sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả
Thúc đẩy tính công bằng trong GD
Quản lý tài chính - một bộ phận cấu thành của quản lý GD. Các cơ sở GD/ các cấp quản lý GD nếu không được hoặc thiếu kinh nghiệm hay quản lý tài chính tồi dễ dẫn đến việc không hoàn thành các mục tiêu của giáo dục.
5
Những chức năng cơ bản của QLTC GD
ứng dụng cách tiếp cận tác nghiệp để phân tích QLTC GD
Xem xét quản lý như là một quá trình hay sử dụng các chức năng của người quản lý giúp cho việc tổ chức kiến thức quản lý hữu ích hơn.
Các chức năng cơ bản của người quản lý: Lập kế hoạch; xây dựng tổ chức; xác định biên chế; lãnh đạo; kiểm tra; (Harold Koontz)
6
Những chức năng cơ bản của QLTC GD (tiếp)
Các chức năng này liên quan qua lại với nhau và phối hợp thực chất của quản lý (Paul Hersey)

7
II. Dự toán NS và kế hoạch tài chính GD
Quan niệm và các dạng dự toán NS
Quan niệm: Ngân sách/ ngân quỹ là cách phát biểu các kế hoạch đã định theo các quan hệ bằng con số. Các NS là các điều khoản về các kết quả định trước theo quan hệ tài chính.
Bản chất của việc lập NS: Một công cụ, một phương tiện sử dụng rộng rãi cho kiểm tra
8
Quan niệm và các dạng dự toán NS (tiếp)
Các dạng dự toán ngân sách:
Ngân sách thu và chi chi thường xuyên
Ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản
Ngân sách xây dựng nhỏ và sửa chữa lớn TSCĐ
Ngân sách chương trình mục tiêu
Ngân quỹ biến đổi (tính tới lạm phát, sự tăng của tiền lương: nâng bậc và điều chỉnh lương tối thiểu và bậc của bảng lương)
...
9
Những điểm nguy hiểm trong việc lập dự toán ngân sách
Quá chi tiết trở nên cồng kềnh, kém ý nghĩa và kém hiệu quả (vì tước đi quyền chủ động của các bộ phận)
Đừng biến mục tiêu của NS quan trọng hơn các mục tiêu của GD;
Đôi khi lập NS che dấu những yếu tố phi hiệu quả
Sự lạc hậu của ngân sách (thực tế có thể sử dụng các loại lao động, nguyên vật liệu khác nhau, .)
10
Cách dự toán NS
Có một số cách tiếp cận khác nhau trong dự toán NS. Cách tỏ ra đáng tin cậy, đơn giản hơn, được minh hoạ:
Bước 1: Xác định các chi phí chính trong năm gốc, bằng cách sử dụng đơn giá chi phí chuẩn thường do Bộ Tài chính/ các Bộ khác ban hành. Sử dụng chi phí tiêu chuẩn cho phép ước tính chi phí thống nhất, dễ tính toán, so sánh được, dễ kiểm tra thẩm định.
Bước 2: Dự đoán về diễn biến của từng cấu phần có chi phí trong kế hoạch. Những cấu phần chính gồm: số HS, lớp, GV, CSVC, tài liệu dạy học,...Từng cấu phần có thể chia nhỏ thành từng tiểu cấu phần và thường được ước toán chi phí riêng.
11
Cách dự toán ngân sách (tiếp)
Bước 3: Đánh giá tác động về nguồn lực của từng cấu phần đã được dự đoán. (Ví dụ: tỷ lệ nhập học được ước tính tăng có nghĩa là phải tăng số lượng GV, và điều này lại có nghĩa là phải có thêm nguồn lực cho việc tăng chi phí tiền lương. Hoặc khi áp dụng chương trình mới, cần có các hoạt động tập huấn cho giáo viên, in sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn giáo viên, ... điều này lại đòi hỏi phải có ngân quỹ riêng cho nó.)
Bước 4: ước toán khả năng sẵn có của các nguồn tài chính. (Phải xét tới: i) tỷ lệ NSNN có thể được phân bổ cho ngành GD, ii) khả năng phân bổ NSNN trong nội bộ ngành GD, và iii) đánh giá mức độ nguồn tài chính ngoài NSNN có thể huy động được).
12
Cách dự toán ngân sách (tiếp)
Bước 5: so sánh nguồn lực cần có (bước 3) với nguồn lực sẵn có. Thông thường thiếu hụt, cân nhắc 3 biện pháp:
Các cấu phần chi phí (bước 2, 3) phải được xem xét lại nhằm giảm bớt chi phí hay bằng cách nâng cao hiệu quả chi phí của việc sử dụng nguồn lực, bao gồm cả việc thay đổi chỉ tiêu, ví dụ tỷ lệ nhập học và thay đổi hệ số kỹ thuật của ngành: tỷ lệ HS/ GV.
Cần phải thăm dò các khả năng tăng nguồn tài chính. Điều này bao gồm tăng học phí, giảm trợ cấp trong việc cung cấp tài liệu học tập, ... và khuyến khích thành lập các cơ sở GD ngoài công lập
Phải vận động thuyết phục và thương lượng với các cấp chính quyền để có được tỷ lệ lớn hơn trong NSNN dành cho GD.
13
Kế hoạch tài chính
KH GD sẽ không mang tính thuyết phục nếu không trình bày cách thức cung ứng tài chính. Kinh nghiệm tốt nhất làm điều này là phải trình bày phác thảo các KH tài chính cho các chương trình trong KH. Một bảng mẫu tiêu biểu tóm tắt có thể có dạng sau.
14
Kế hoạch tài chính (tiếp)
Nguồn lực tài chính của ngành GD phải được thể hiện trong tương quan với các ngành khác trong KH phát triển quốc gia. Bởi vậy thông thường khi lập KH GD:
Đề xuất các chương trình GD với giới hạn nguồn lực vừa phải thì mới có thể thực hiện
Cần cung cấp cho nhóm lập KH GD ngay từ khâu đầu về các thông tin: tỷ lệ NSNN cho GD, các hạng mục chi phí chính như lương, tài liệu, ...
Ngành GD thường khó có thể kiếm ngay được hay có sẵn ngay từ đầu khi lập KH về mức độ nguồn lực
15
Các vấn đề tồn tại của dự toán NS và kế hoạch tài chính ở VN
Thiếu sự gắn kết giữa KH phát triển GD với dự toán NS và KH tài chính
Dự toán diễn biến của từng cấu phần (bước 2) và đánh giá tác động về nguồn lực của từng cấu phần (bước 3) làm sơ sài
Dự toán/ KH tài chính chỉ thể hiện nhu cầu về NSNN. Các khoản thu và chi ngoài NSNN cấp không được phản ánh đầy đủ.
Các cơ quan quản lý GD các cấp làm thay các trường, các trường thiếu chủ động về nguồn lực (nhất là tiểu học & THCS)
Thiếu kỹ năng lập KH phát triển GD, dự toán NS và KH tài chính
16
III. Phân bổ và cấp phát ngân sách cho GD
Các cấp tham gia phân bổ NSGD
Tuỳ thuộc vào các việc tổ chức các cấp NS và việc phân cấp trong thu và chi của mỗi cấp NS.
Ngay cả các nước có quy định NSGD thuộc về NS của bang, song đã xuất hiện xu hướng NS liên bang dành một tỷ lệ nhất định cho GD (Mỹ).
Hầu hết các nước việc xác định tỷ lệ NSNN cho GD là phức tạp và được giao cho Bộ TC và Bộ KH chịu trách nhiệm chính. Việc phân bổ trong nội bộ ngành là công việc của Bộ GD.
Đối với các cấp/ bậc GD cao thường có phân bổ NS trong nội bộ trường (các bộ phận trong trường).
17
Một số đặc điểm cơ bản chung về cơ chế phân bổ NS cho GD
Hệ thống GD có các mức độ đáng kể khác biệt về sở hữu và kiểm soát của NN tuỳ thuộc phụ thuộc nhiều hay ít vào NSNN.
Các cơ sở GD ngày càng nhận được vốn nhiều hơn từ hàng loạt nguồn. Các cơ chế phân bổ vốn truyền thống thường tỏ ra kém hiệu quả trong một môi trường cấp vốn đa nguồn.
Hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho GD phụ thuộc đáng kể bởi cơ chế phân bổ NS.
Phương thức xác định được dùng để phân bổ NS: a) định mức; b) hoàn trả
18
Đặc điểm cơ bản chung của cơ chế phân bổ (tiếp)
Việc phân bổ NS cho GD thường được xây dựng theo công thức rõ ràng và trong sáng với các căn cứ chủ yếu: a) số lượng đầu vào/ đầu ra của GD; b) chi phí đào tạo một HS/SV theo từng cấp GD và theo mức độ của phẩm chất (Phẩm chất: "lý tưởng", "mục tiêu hiện nay", "tối thiểu chấp nhận được") ; c) hệ số theo vùng; d) các hệ số khuyến khích (nếu có)
Có 3 cách phân phối NS có thể đảm bảo cho các cơ sở GD nâng cao hiệu quả:
Theo đầu vào
Theo đầu ra
Cấp NS thông qua HS/SV
19
Đặc điểm cơ bản chung của cơ chế phân bổ (tiếp)
Tính có điều kiện
Các yêu cầu của cơ chế phân bổ NS mới:
Sự phân hoá và gia tăng các trường có chất lượng
Một môi trường GD và chương trình GD năng động hơn
Các ưu tiên cho phục vụ kinh tế xã hội
Nhận xét: có 2 vấn đề trọng tâm đối với thiết kế và thực thi cải cách hiện nay:
Cấu hình phân bổ NS theo đầu vào đối lại với theo đầu ra; theo định mức >< hoàn trả;
Sự tương tác giữa các nguồn cung cấp vốn và giữa các cơ quan tài trợ
20
Cấp phát ngân sách cho các cơ sở GD
Thường cấp qua hệ thống kho bạc, thủ tục hành chính gọn nhẹ, đơn giản và nhanh đến trường.
Nhiều nước cấp phát trọn gói để tạo quyền tự chủ cho trường.
Nhiều nước cho phép NS không sử dụng hết trong năm tài chính được mang sang năm sau.
Tóm lại: Cấp NS hiện hành cũng có vấn đề đối lại: cấp trọn gói >< các khoản mục; phải sử dụng hết trong năm >< số dư mang sang năm sau.
21
Các tồn tại chủ yếu về phân bổ và cấp phát ngân sách cho GD ở VN
Thiếu một công thức phân bổ rõ ràng và chuẩn mực tại các địa phương;
Chưa thực hiện được sự công bằng trong phân bổ ngân sách chi thường xuyên
Tỷ lệ chi cho học tập và gỉang dạy là quá thấp, thậm chí có nơi (đối với GDPT) tỷ lệ này hầu như bằng không
22
Thiếu một công thức phân bổ ngân sách rõ ràng và chuẩn mực tại các địa phương
Thiếu thống nhất giưã phân bổ NS cho GD ĐH&CN (SV/HS) với GDPT (DS/ DS độ tuổi)
Các cách thực hiện phân bổ là khác nhau ở mỗi địa phương
Các định mức kinh tế - kỹ thuật bị lạc hậu tương đối so với chương trình giáo dục cơ bản đã thay đổi nhiều
Công thức phân bổ không công khai rộng rãi/ chỉ cơ quan trực tiếp phân bổ biết, cấp trường hầu như không biết được một cách tường minh
23
Chưa thực hiện được công bằng trong phân bổ ngân sách
Tỷ lệ chi ngoài nhân lực (ngoài chi cho con người) khác biệt lớn giưã các địa phương, các vùng
Các vùng khó khan chưa được ưu tiên về tỷ lệ chi ngoài nhân lực trong chi thường xuyên của giáo dục
24
Các vùng khó khan hơn chưa được ưu tiên về ngân sách cho chi ngoài nhân lực
25
Tỷ lệ chi cho học tập gỉang dạy trong chi thường xuyên phân theo vùng (Dự án SMOET; %)
26
có thể có Các thay đổi về chính sách phân bổ nguồn lực TC
Chuyển từ hệ thống phân bổ ngân sách đơn giản can cứ theo đầu dân sang dần hệ thống v?i công thức phân bổ phức tạp hơn
Tỷ lệ chi ngoài nhân lực trong chi thường xuyên sẽ đồng đều hơn gi?a các địa phương, các vùng (nhờ áp dụng các hệ số trong phân bổ)
Nhà nước ưu tiên nguồn NS tang thêm do tang trưởng kinh tế cho việc củng cố phổ cập tiểu học và thực hiện phổ cập THCS
Hệ thống định mức của giáo dục sẽ được thay đổi ít nhất về 2 loại: a) định mức cho phân bổ; b) định mức cụ thể xác định các chuẩn (HS/ lớp, GV/ lớp, giờ giảng của GV/ tuần, bộ đồ dùng dạy học/ lớp, ...)
27
IV. Phân cấp về tài chính nhằm tăng quyền tự chủ và trách nhiệm
Quan niệm chung về phân quyền
Quyền lực chẳng qua là mức độ độc lập trong hoạt động dành cho mọi người trong tổ chức để tạo ra khả năng sử dụng những quyết đoán của họ thông qua việc trao cho họ quyền ra các quyết định hay các chỉ thị.
Phân quyền là xu hướng phân tán các quyền ra quyết định theo cấp bậc của hệ thống tổ chức.
Tập quyền được sử dụng để mô tả các xu thế không có sự phân chia quyền lực
Đã tồn tại một cơ cấu tổ chức, đều có một sự phân quyền nào đó của các cơ quan quản lý nhà nước cho các cơ sở GD, nếu không thì cơ cấu đó không tồn tại.
Mặc dù có liên quan chặt chẽ với việc giao phó quyền hạn, nhưng sự phân cấp còn phản ánh rất rõ một đường lối về tổ chức và quản lý
28
Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ phân quyền về tài chính
Mức độ phân quyền trong quản lý tài chính của GD càng lớn có thể đo bằng các thông số:
Mật độ các quyết định về tài chính được đề ra ở cấp tổ chức thấp
Mức độ quan trọng của các quyết định được đề ra ở cấp thấp
Các chức năng chịu sự tác động bởi các quyết định được đề ra ở cấp thấp
Cơ quan quản lý cấp trên càng ít phải kiểm tra các quyết định của cấp dưới
29
Phân cấp về tài chính nhằm tăng quyền tự chủ và trách nhiệm
Mục đích chủ yếu của việc giao quyền là làm cho hệ thống GD có thể hoạt động một cách có hiệu quả đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của xã hội.
Các dấu hiệu chứng tỏ các cơ sở GD có quyền tự chủ cao về tài chính:
Được khích lệ đa dạng hóa và tăng các nguồn thu.
Được tự quyết định các khoản chi tiêu.
Năng lực và mức độ kiểm tra các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí của chính bản thân cơ sở GD.
Khả năng phân bổ lại các nguồn TC trong nội bộ
30
Phân cấp về tài chính nhằm tăng quyền tự chủ và trách nhiệm (tiếp)
Tăng tính trách nhiệm có ba khía cạnh:
Thứ nhất: Trong điều kiện ngặt nghèo về nguồn lực, cần xác định các yếu tố đầu vào tối thiểu cần thiết để đầu tư và sử dụng NS được hiệu quả.
Thứ hai: Các cơ sở GD có trách nhiệm sử dụng các nguồn NSNN cấp
Thứ ba: Cùng với việc đa dạng hóa các nguồn tài chính, buộc các cơ sở GD phải có trách nhiệm đầy đủ về tính thích hợp của các chương trình đào tạo, đây cũng là khía cạnh quan trọng.
31
Những hạn chế trong phân cấp về tài chính GD
Tính liên ngành và khá phức tạp, có phần cứng nhắc và tập trung mang tính hình thức. Các cơ chế tài chính (TW -ĐP; trách nhiệm và quyền hạn) thiếu tính chuẩn mực và thống nhất giữa các địa phương;
Chưa có khuôn khổ thể chế để theo dõi và kiểm soát việc thực hiện ngân sách của GD trên địa phương và toàn quốc;
Các cơ sở GD được tự chủ về các nguồn thu ngoài NSNN cấp; song chính sách học phí đang cần phảI liên kết với các yếu tố: hương thức phân bổ NSNN cho GD; HS/SV thuộc các gia đình có thu nhập thấp; việc sử dụng các nguồn thu ngoài NSNN cấp;
Phân cấp trong nội bộ trường: thiếu việc "định nghĩa" rõ ràng về quyền và chức năng của phòng tài vụ, quyền hạn và trách nhiệm của trưởng các đơn vị/ bộ phận được phân cấp;
Các nhà quản lý và các cán bộ chuyên môn chưa được đào tạo để có các kỹ năng cần thiết; chưa được trang bị các phần mềm trong xử lý thông tin một cách thích hợp và nối mạng;
32
Xu hướng thay đổi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực
Tang quyền chủ động cho các nhà quản lý giáo dục cấp tỉnh, cấp huyện và các hiệu trưởng về phân bổ và sử dụng nguồn lực
Các cơ quan quản lý giáo dục sẽ dùng các định mức đầu vào mới được xây dựng như HS/ lớp, GV/ lớp hoặc HS/GV, ... để giám sát các trường trong việc sử dụng nguồn lực

33
Giao quyền tự chủ về tài chính cho các trường
Nghị định số 10/2002/ NĐ -CP đã qui định:
Cấp NS chi thường xuyên ổn định theo định kỳ trong 3 nam và hàng nam có tang thêm
Cấp trọn gói vào Mục 134 "Chi khác" của mục lục NSNN
Trường được điều chỉnh dự toán thu, chi phù hợp với thực tế
Trường được quyết định mức chi qủan lý, chi cho học tập gỉang dạy cao hơn mức chi do Nhà nước quy định
Số dư ngân sách chi thường xuyên được chuyển sang nam sau
34
V. Phát triển thông tin về tài chính và giám sát
Phát triển thông tin về tài chính
Các thông tin về tài chính (báo cáo quyết toán quý hoặc năm, các số liệu thu - chi của các cuộc điều tra chuyên môn, NSNN, ...) phải được kết nối với các số liệu khác, xử lý & phân tích nhằm cung cấp cho các nhà quản lý GD khi ra quyết định và xã hội.
Yêu cầu về đầu vào của thông tin: Các số liệu đồng nhất và so sánh được của tất cả các trường về:
Số nhập học (số HS/SV) theo các chương trình đào tạo khác nhau
Số cán bộ giáo viên, trình độ và tuổi
Loại chương trình và số giờ tiếp xúc trung bình
35
Yêu cầu về đầu vào của thông tin (tiếp)
Số văn bằng tốt nghiệp đã trao
Thu nhập theo nguồn
Chi tiêu theo loại chi phí
Thông tin về học phí, lệ phí; học bổng; chi phí và thu nhập của hộ gia đình/ SV.
Thông tin về cơ sở vật chất: trang bị và sử dụng
36
Phát triển thông tin về tài chính (tiếp)
Yêu cầu về đầu ra của thông tin:
Các chỉ số thực hiện về đào tạo và tài chính cho từng trường và cả hệ thống, theo các biến: ngành đào tạo, vùng, trình độ đào tạo, nhóm trường,...
Phân tích các hoạt động tài chính của các trường và hệ thống, so sánh với các số liệu của các năm để xác định khuôn dạng và xu thế.
Phân tích chính sách định giá (học phí trong mối liên hệ với học bổng, cho vay; chi phí đơn vị)
Phân tích tình trạng và hiệu suất sử dụng CSVC
...

37
Giám sát tài chính (tiếp)
Để tăng cường hiệu lực quản lý của nhà trường/ nhà nước về tài chính của GD cần có các hoạt động:
Kiểm tra
Kiểm toán Nhà nước (thực hiện chức năng kiểm tra, xác định tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN cấp)
Kiểm toán độc lập (là loại kiểm toán do các kiểm toán viên độc lập thuộc các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp tiến hành. Thực chất kiểm toán độc lập là loại dịch vụ kiểm toán và tư vấn tài chính được pháp luật thừa nhận và bảo hộ).
Một trong những nguyên tắc thường áp dụng khi phân bổ, cấp phát NSNN cho các cơ sở GD đòi hỏi các cơ sở phải chứng minh được đơn vị mình đã được kiểm toán
38
Những nguyên tắc chính trong giám sát
Phát hiện những sai lệch với mục tiêu đặt ra
Việc giám sát có hiệu quả: dành sự chú ý trước hết vào những điểm trọng yếu
Mở rộng các kênh thông tin, trừ phi các thông tin là bí mật.
Giám sát phải đảm bảo tương xứng giữa quyền hạn và trách nhiệm của các cơ sở GD
39
Ví dụ: Thiết kế về tính tự chủ và mức độ giám sát theo các loại chi tiêu thường xuyên của GD
40
Các chỉ số có thể sử dụng để giám sát


41
Các chỉ số có thể sử dụng để giám sát
(tiếp)
42
Những hạn chế cơ bản về thông tin và giám sát tài chính GD VN
Về thông tin tài chính GD
Thiếu tính chuẩn xác, nhất quán có thể so sánh được.
Cung cấp thông tin thô, chưa có hệ thống chỉ số thực hiện một cách ổn định
Thông tin khép kín, phân tán. Chưa phổ biến thông tin rộng rãi cho các tổ chức và mọi người cùng sử dụng.
Chưa có hệ thống máy tính và phần mềm thích hợp, thiếu hệ thống nối mạng nhằm thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kịp thời.
Đội ngũ làm công tác thông tin yếu cả về kiến thức và kỹ năng
43
Những hạn chế cơ bản về thông tin và giám sát tài chính GD VN (tiếp)
Về giám sát tài chính GD
Thiếu hụt một hệ thống chỉ số cấp quốc gia về các tiêu chuẩn tối thiểu: tài chính - đào tạo - giáo viên - cơ sở vật chất
Thiếu các chuẩn mực để giám sát
Không có cơ quan nào giám sát được toàn bộ NS cho GD một cách thường xuyên, nặng về kiểm tra thanh tra theo các vụ việc.
Kiểm tra nội bộ yếu kém.
 
Gửi ý kiến