Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Chỉ thị sinh học môi trường Nước


    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Đại học KHTN Hà Nội
    Người gửi: Thái Thanh Hà
    Ngày gửi: 09h:26' 12-06-2008
    Dung lượng: 143.0 KB
    Số lượt tải: 494
    Số lượt thích: 0 người
    CHỈ THỊ SINH HỌC MÔI TRƯỜNG NƯỚC
    NHÓM 1
    LÊ BÁ CHẤN
    TRẦN VĂN SÍNH
    ĐỖ THÁI GIANG
    HỆ THỐNG CHỈ THỊ SINH HỌC ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC
    GIỚI THIỆU
    Quần xã sinh vật là một hợp phần sống của hệ sinh sinh thái gồm:
    Sinh vật sản xuất.
    Sinh vật tiêu thụ.
    Sinh vật phân huỷ.
    Trong hệ sinh thái nước có nhiều sinh vật với mức độ phức tạp khác nhau và được xem xét qua các khía cạnh.
    Qua đó, ta tìm được những quần xã quần thể có thể là những sinh vật chỉ thị ô nhiễm.
    Mức độ ô nhiễm được đánh giá thông qua sinh vật chỉ thị.
    Sự thay đổi của các điều kiện môi trường có ảnh hưởng tới thành phần động thực vật trong quần xã. Điều này gây nên sự quần tụ của các quần xã là khác nhau.
    Theo Warren “môi trường tại một địa điểm quyết định phần lớn những cá thể nào có khả năng cư trú ở điểm đó, và những sinh vật ở đó sẽ là những chỉ thị sinh học cho những thay đổi môi trường.
    2.Hệ thống hoại sinh
    Chất lượng nước
    Kolenati và Cohn đã nhận xét, những sinh vật nhất định thể hiện mối quan hệ đối với độ sạch hoặc mức ô nhiễm tương ứng của nước.
    Năm 1983 Mez khi phân tích vsv ở nước đã chia thành bốn loại:
    + Loại có trong nước rất sạch.
    + Loại có trong nước ô nhiễm nhẹ.
    + Loại có trong nước ô nhiễm trung bình.
    + Loại có trong nước ô nhiễm nặng.


    Năm 1902, Ông Kolkwitz và ông Marsson đưa ra khái niệm về “các chỉ thị sinh học của ô nhiễm” trong hệ thống gọi là hệ hoại sinh.
    Hệ này dựa vào những vùng được làm giàu chất hữu cơ khác nhau, mỗi một vùng đó được đặc trưng bởi những loài động và thực vật đặc trưng.
    Khái niệm của các tác giả dựa vào việc phát hiện thấy khi nước thải hoặc các chất thải hữu cơ thối rữa được xả thải vào sông, sẽ dẫn đến chuỗi các hiện tượng và phụ thuộc khoảng cách của dòng sẽ xúc tiến những điều kiện môi trường khác nhau và do đó tạo ra diễn thế những quấn xã ở nước xâm nhập vào sông.
    Từ đó 2 ông đề xuất ra khái niệm tự làm sạch sinh học, thừa nhận 3 mức độ:
    Vùng có những quá trình khử chiếm ưu thế. ‘‘Rất bẩn ’’ .
    Vùng mà các quá trình khử từ từ chấm dứt và chuyển qua những quá trình ôxy hoá.‘‘ Bẩn trung bình ’’.
    Vùng chỉ có những quá trình ôxh. “Ít bẩn’’.
    Để phân chia các vùng sông tiếp nhận chất thải hữu cơ, có nhiều hệ thông đã được đưa ra.
    Tóm lại, tất cả các hệ thống giống nhau về nguyên tắc nhưng khác nhau về danh pháp và định ranh giới vùng.
    Whipple, Fair 1927
    Suter 1922
    Forbes và Richardson 1913
    b.Chỉ thị chất lượng nước.
    Năm 1922 Suter và moore đã chia ra các vùng, diễn biến ô nhiễm ở mỗi phụ vùng theo thời gian tính ra ngày và khoảng cách tính ra dặm tuần tự kí hiệu = các chữ cái a,b,c ….
    Phụ vùng điểm khởi đầu
    a.Một dòng sông thông thường không ô nhiễm được xem là điểm khởi đầu.
    b. Chu trình sống trong một thế cân bằng ổn định, thích hợp.
    c. lượng lớn loài tồn tại, nhưng không một giống hay loài nào chiếm ưu thế.

    d. Các sinh vật đang sống thích ứng với hàng loạt các yếu tố lí hoá thông thường đặc trưng cho vùng.
    Phụ vùng ô nhiễm
    a.Với sự xuất hiện ô nhiễm hữu cơ, một loạt các thay đổi bắt đầu.
    b. Số lượng loài hiện diện có xu hướng giảm cùng với ô nhiễm.
    c. Số lượng các thể mỗi loài có xu hướng tăng cùng với ô nhiễm.
    d. tỉ lệ giữa các loài sinh vật bị đảo lộn do ô nhiễm.
    Phụ vùng mới bị ô nhiễm.
    a.Vùng mới bị ô nhiễmbắt đầu hoạt động xả thải dư thừa các chất hữu cơ.
    b. Tiếp theo là thời kì hỗn hợp các yếu tố vật lí.
    c.Nhiều động thực vật bị chết ngạt hoặc bị che lấp bởi vật liệu lơ lửng.
    d.Với việc cung cấp nhiều vật liệu thức ăn, vi khuẩn và vi sinh vật hoại sinh bắt đầu tăng mạnh.
    e. Sự hạn chế những động vật ăn thịt không chống chịu đã tạo ra sự phát triển mạnh hơn những vi sinh vật hoại sinh và chiếm ưu thế hoàn toàn trong điều kiện này .
    f. Sự phát triển mạnh mẽ những sinh vật, đặc biệt là nấm và vi khuẩn, tạo sức ép mạnh đến oxy tự do hoà tan để hô hấp và có thể hạn chế hô hấp.
    g. Số lượng các chủng loại sinh vật bị giảm thiểu, nhưng số lượng các cá thể của các loài chống chịu có thể tăng.
    Phụ vùng nhiễm trùng
    Một số vị trí cụ thể bắt đầu nhiễm trùng. Nếu nhiễm trùng xảy ra, sẽ biến đổi theo mùa và các hoàn cảnh khác.
    Sự thiếu oxy tự do hoà tan giết hại nhiều vi sinh vật và gần như tất cả động vật thực vật cỡ lớn và lại được bổ sung khối lượng vật liệu hữu cơ chết.
    Các loài sinh vật lớn, nhỏ và các loài không bắt buộc có thể sống không có oxy tự do sẽ chiếm ưu thế.
    d. những sinh vật này tiếp tục ăn những thức ăn phong phú cho đến khi nó bị đình trệ hoạt động.
    e. số lượng các loài sinh vật trở nên tối thiểu, số lượng các cá thể có hoặc không thể đạt đến cực đại.
    phụ vùng phục hồi
    Vùng nhiễm trùng dần hoà nhập vào vùng phục hồi.
    Khi dự trữ thức ăn giảm thì số lượng các sinh vật kị khí và các cơ thể chống chịu ô nhiễm khác cũng giảm.
    c. Khi nhu cầu lớn về oxy giảm thì oxy tự do hoà tan bắt đầu xuất hiện và tương tự là những sinh vật đòi hỏi oxy.
    d. Khi vật liệu lơ lửng giảm và chất dinh dưỡng khoáng dễ tiêu tăng do hoạt động do hoạt đông vi sinh vật tảo bắt đầu tăng và thường rất phong phú.
    e. Quang hợp xảy ra do tảo giải phóng nhiều oxy hơn, cản trở sự phục hồi.
    f. Tảo cần oxy cho hô hấp và sự phát triển mạnh mẽ của tảo sẽ giảm oxy tự do hoà tan vào ban đêm do không được bổ xung bởi quang hợp.
    g. Một cách tuần tự, vùng này được đặc trưng bởi những thay đổi cực trị vào ban ngày về ôxy hoà tan.
    h. Cùng với lượng ôxy tương đối đủ để hô hấp và tảo dùng làm thức ăn, sự tăng trưởng động vât nói chung lại bắt đầu tiếp diễn.
    Dòng sông có thể ở vào thời kỳ có sức sản xuất dồi dào và nó kéo dài đến khi dự trữ năng lượng hoặc thức ăn bị tiêu tan.
    ● phụ vùng nước sạch
    a. Những điều kiện nước sạch lại được xác lập khi sức sản xuất chuyển về trạng thái bình thường


    Ở mức tương đối nghèo và khu hệ động thực vật thay đổi, thế cân bằng tốt lại xuất hiện các điều kiện thường có các đặc trưng như sau.
    b. Các tính chất chung: Giống với nước sạch đầu nguồn ngoại trừ trường hợp hiên tại nó là một dòng sông rộng lớn hơn.
    c. Khu hệ sinh vật đặc trưng: Giống với hệ sinh vật nước sạch đầu nguồn, ngoại trừ các loài bản địa thích ứng với dòng chảy rộng lớn hơn.
    Theo kolwitz, massonva liebmann cho rằng trong đánh giá chất lượng nước, điều cần nhấn mạnh là không nên dựa vào những cá thể sinh vật, ma đó là quần xã sinh vật.

    c. Về số lượng
    Trong tiến trình thiết lập hệ thống hoại sinh nhiều phương pháp đưa ra nhằm phát hiện và giảm thiểu được lượng lớn các số liệu thành các dữ liệu đơn giảnbăng công thức toán học.
    Phương pháp của knopp
    1=chỉ phát hiện được 1 loài đơn giản
    2=chỉ phát hiện được một số
    3=chỉ phát hiện được số lượng ít tới trung bình
    4=phát hiện số lượng trung bình
    5=phát hiện số lượng trung bình đến nhiều
    6=nhiều
    7=phong phú
    Pantle và buck 1995 đề nghị chỉnh sửa chỉ số hoại sinh : s = tổng (s.h)/tổng h.
    S được xếp loại từ 1 đến 4.
    1 là chỉ thị hoại sinh yếu .
    2 là chỉ thị hoại sinh trung bình ß.
    3 là chỉ thị hoại sinh trung bình α.
    4 là chỉ thị hoại sinh mạnh.
    Phương pháp này không tính đến tần số mà chỉ ước đoán.
    Chỉ số hoại sinh s tỉ lệ với môi trường ô nhiễm như sau.
    Zelinka và marvan 1961 đề nghị phương pháp hoại sinh dựa trên việc phân tích sinh vật đáy.
    3.Các hệ thống khác của sinh vật chỉ thị.
    Khác với các hệ hoại sinh chủ yếu tập trung vào các sinh vật nhỏ hầu hết các hệ thống khác sử dụng đvkxs cỡ lớn sống ở đáy là các chỉ chính
    Năm 1928 Richardson phân loại đvkxs theo sức chống chịu của chúng liên quan đến việc xả thải vào nước chảy.
    Ông chia nhỏ các sinh vật thành nhóm ô nhiễm, nhóm cận ô nhiễm và các loài ở nước sạch hơn.
    Mackenthun đã đưa ra phương pháp quan sát bằng mắt của một số đvkxs cỡ lớn dưới đáy chống chịu, mẫn cảm và trung gian.
    Một khái niệm khác của nhà khoa học Wooddiwiss 1964 “Chỉ số sinh học trent” có nội dung là dùng lưới tay thu mẫu. Mẫu vật thu bằng tay và bằng chà đạp,phải lấy vật liệu chứa tất cả đvkxs cỡ lớn và phản ánh láp cắt ngang của khu hệ động vật.
    1970 Chandler đề nghị trong hệ thống cho điểm được gọi là chỉ số bán định lượng 5 mức
    II.Các chỉ số đa dạng
    Quần xã sinh vật luôn thay đổi cùng với môi trường sống. Giảm số lượng các loài tăng số lượng 1 loài là kết quả của việc đưa các chất thải phân huỷ sinh học vào ao hồ.
    Khi những vật liệu độc hại được thải vào môi trường thì quần xã sinh vật thay đổi rất khác nhau và gây nên sự giảm độ đa dạng trong quần xã.
    1962 Kothe đã soạn thảo “ các loài - sự thiếu hụt – phương pháp ’’ như một thủ tục sinh học để đinh lượng.
    Nhiều tác giả đã sử dụng chỉ số đa dạng diversity indises như một chỉ thị sinh học ô nhiễm
    Cairn và các tác giả đã phát triển phương pháp chỉ số so sánh liên hoàn nhằm đáp ứng cho phương pháp đánh số nhanh để đánh giá cho hậu quả sinh học ô nhiễm.
    Phương pháp trắc nhiệm tín hiệu và lí thuyết vận hành. Điều duy nhất có thể là khả năng của nhà nghiên cứu nhận biết được những khác biệt trong hình dạng màu và kích cỡ sinh vật.
    III. Sinh vật chỉ thị phú dưỡng.
    1.Hồ nông.
    Đáy hồ bao phủ thực vật lớn không có sự phân tầng ổn định hàm lượng ôxy đáy = 0.
    2.Hồ sâu.
    Có thể xảy ra 2 khả năng trong điều kiện tương đối đủ ôxy thì Fe, Mn, PO4 sẽ tồn tại ở dạng phức không hoà tan.
    Ôxy ở tầng sâu chỉ đủ cho quá trình phân huỷ hữu cơ trong thời gian ngắn nên nảy sinh tình trạng cực trị
    3.Các dấu hiệu phú dưỡng.
    Thay đổi hệ thực vật.
    Thay đổi hệ động vật.
    Thay đổi lí hoá tính.
    4. Nguyên nhân phú dưỡng.
    Nguyên nhân là các nguồn thải có chứa N và P
    - Nguồn điểm.
    Nguồn diện hay phân tán.
    Dinh dưỡng đa lượng.
    Yếu tố vật lý sinh học.
    Trao đổi trầm tích.
    Xâm nhập các chất dinh dưỡng từ bên ngoài.
    Xâm nhập từ khí quyển.
    Nước xả thải thành phố.
    5.Tác động của phú dưỡng.
    Tích cực:
    Làm tăng sinh khối, cung cấp thức ăn cho cá …
    Tiêu cực:
    Tác động đến con người, nạn thuỷ triều đỏ, tắc nghẽn, mùi khó chịu, mất thẩm mĩ.
    6.Biện pháp kĩ thuật phục hồi phú dưỡng.
    Tạo độ thông thoáng.
    Làm tuần hoàn nước và tạo bong bóng.
    Thu hoạch tảo, vớt rác.
    Tác động đến dòng dinh dưỡng đi vào hồ
    Biện pháp tác động đến chất hữu cơ đi vào
    7.Chương trình giám sát sinh học phú dưỡng.
    Gồm các bước:
    Thu mẫu.
    Xử lí mẫu.
    Xác định các sinh vật.
    Đo đạc.
    Đánh giá số liệu.
    Thể hiện kết quả.
    IV.Giám sát sinh học đối với kim loại nặng trong nước ngọt.
    1.Nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng
    a. Nguồn tự nhiên.
    b. Nguồn nhân tạo.
    2.Chỉ thị sinh học nhờ cá.
    Cá là một chỉ thị rất tốt cho kim loại nặng trong nước.
    Mohamet 1990 sử dụng cá làm chỉ thị sinh học cho ô nhiễm kim loại nặng ở sông Nile.
    Theo Munir Ziya (2005) thì nhiều kim loại nặng có mặt một cách tự nhiên trong môi trường biển và laf những tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước biển khi chúng ở hàm lượng cao.
    Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu sự tích tụ kim loại nặng như sắt, kẽm, cacdimi trong các loại sinh vật thuỷ sinh.
    No_avatar

    minh muon biet ve chi thi moi truong khong khi! ai gui cho minh voi

    No_avatarf

    mình đang muốn làm về chỉ thi môi trường không khí bạn nào có bài gửi giúp mình nhé!

    hangluong89@gmail.com 

    No_avatar

    bạn nào có bài sinh vật chỉ thị úp lên giùm vs ạ..tks ạ.

     
    Gửi ý kiến
    print