Thư mục

Dành cho Quảng cáo

  • ViOLET trên Facebook
  • Học thế nào
  • Sách điện tử Classbook
  • Xa lộ tin tức

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    CHƯƠNG 3. RỄ

    (Bài giảng chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Minh Thơ
    Ngày gửi: 13h:02' 21-05-2010
    Dung lượng: 792.0 KB
    Số lượt tải: 322
    Số lượt thích: 0 người

    GV: Nguyễn Thị Minh Thơ
    TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM SÓC TRĂNG
    HỌC PHẦN:HÌNH THÁI- GIẢI PHẪU HỌC THỰC VẬT
    Chương 3 – CƠ QUAN SINH DƯỠNG (RỄ)

    Chương 3 – CƠ QUAN SINH DƯỠNG
    I. MỤC TIÊU
    - Khái niệm chung về cơ quan sinh dưỡng của thực vật bậc cao (rễ thân, lá). Vai trò của cơ quan sinh dưỡng trong sinh trưởng và phát triển của thực vật.
    - Đặc điểm hình thái, cấu tạo giải phẫu, biến dạng của rễ, thân, lá cây Hai lá mầm và cây Một lá mầm. Qua đó chứng minh cấu tạo phù hợp với chức năng của chúng.
    I. MỤC TIÊU

    - Sự giống nhau và khác nhau trong cấu tạo rễ, thân, lá cây hai lá mầm và cây Một lá mầm; trong cấu tạo sơ cấp và cấu tạo thứ cấp của rễ, thân cây Hai lá mầm.
    - Vận dụng kiến thức đã học để giải thích một số hiện tượng thực tế, sản xuất có liên quan đến cơ quan sinh dưỡng.
    - Hướng dẫn, giảng dạy những kiến thức về cơ quan sinh dưỡng trong các bài học SGK SH6.
    1. KHÁI NIỆM CHUNG
    Cơ thể thực vật có hoa gồm hai loại cơ quan: cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản.
    Cơ quan sinh dưỡng gồm: rễ, thân, lá; chúng tiến hoá theo hướng tăng bề mặt cơ thể, làm cho diện tiếp xúc với các điều kiện dinh dưỡng tăng, giúp quá trình hấp thu ánh sáng, chất dinh dưỡng nhanh, nhiều và hiệu quả.
    2. CƠ QUAN SINH DƯỠNG
    2.1. Rễ
    2.1. Rễ
    2.1.1. Định nghĩa
    Rễ là một bộ phận cơ quan sinh dưỡng của cây, thường mọc ở dưới đất. Chức năng chủ yếu của rễ là hút nước, các ion khoáng; rễ néo chặt cây vào đất; một số rễ còn làm chức năng dự trữ chất dinh dưỡng cho cây. Rễ có thể mang chồi nhưng không bao giờ mang lá.
    2.1.2. Hình thái rễ
    Cấu tạo của rễ rất đa dạng, phù hợp với chức năng sinh lý, thích nghi với các môi trường sống khác nhau nơi cây sinh trưởng và phát triển.
    Rễ thường có hình trụ, đầu hơi nhọn, phân nhánh mang nhiều rễ con, lông hút, làm tăng diện tiếp xúc với môi trường.
    Hình 3.1. Các kiểu rễ
    A. Rễ cọc; B. Rễ chùm; C. Rễ phụ ở Chi Ficus
    2.1.2.1. Các kiểu rễ
    a. Rễ cọc (rễ trụ)
    Rễ cọc đặc trưng cho các cây thuộc nhóm Hai lá mầm, gồm rễ chính và các rễ bên. Rễ chính phát triển từ rễ mầm trong phôi, đâm thẳng xuông đất (hướng trọng lực dương). Rễ chính còn gọi là rễ cấp 1, phân nhánh thành những rễ bên gọi là rễ cấp 2, từ rễ cấp 2 lại phân nhánh thành rễ cấp 3 ...
    a. Rễ cọc (rễ trụ)
    Sự hình thành các rễ bên theo thứ tự hướng ngọn nghĩa là rễ non nhất phát sinh ở gần đỉnh ngọn, đẩy các rễ già về phía gốc rễ. Tất cả những rễ trên tạo thành hệ rễ trụ.
    Ví dụ: cải, cà chua, ớt, táo, ổi, chanh, mít, lim ...
    b. Rễ chùm
    Đặc trưng cho các cây thuộc lớp Một lá mầm, không có rễ chính, gồm nhiều rễ con có hình dạng và kích thước tương đối đồng đều; không có khả năng sinh trưởng thứ cấp. Tất cả các rễ trong hệ rễ chùm được mọc ra từ gốc thân sau khi rễ mầm chết sớm.

          Hình thái của rễ, chiều ăn sâu, lan rộng của rễ phụ thuộc vào điều kiện sống và đặc tính di truyền của từng loài cây. Chúng có thể phát triển theo hướng đâm sâu vào lòng đất hay mọc ngang lan rộng ra xung quanh hoặc cả hai hướng.
    2.1.2.2. Các miền của rễ
    - Miền chóp rễ: có màu sẫm hơn các miền khác, gồm các tế bào có vách ngoài hóa nhầy che chở cho mô phân sinh tận cùng khỏi bị hư hỏng và xây xát khi rễ đâm vào đất.
    - Miền sinh trưởng: nằm ngay trên chóp rễ, là nhóm tế bào mô phân sinh, phân chia liên tục làm cho rễ dài ra. Khi miền sinh trưởng bị gảy thì rễ không dài ra nữa, tại đó mọc ra nhiều rễ con.
    2.1.2.2. Các miền của rễ
            - Miền hấp thụ: là miền quan trọng nhất của rễ có chức năng hấp thu nước và muối khoáng, có mang nhiều lông hút sống và hoạt động trong thời gian nhất định, chết và rụng đi.
            - Miền trưởng thành: có lớp biểu bì bao ngoài hóa bần, trong trụ có các mạch dẫn làm chức năng dẫn truyền.
     
    2.1.3. Biến dạng của rễ
     
    A B
    A. Rễ củ ở cây sắn; B. Rễ bám ở cây trầu không;
      
        
    C
    D
    E
    C. Rễ thở ở cây bụt mọc;
    D. Rễ chống ở cây đước;
    E. Rễ khí sinh ở cây phong lan
    2.1.3. Biến dạng của rễ
            - Rễ củ (củ cải, củ sắn, cà rốt, củ đậu…)
            - Rễ móc (rễ bám) (trầu không, tiêu, vạn niên thanh…)
            - Rễ thở (rễ hô hấp) (bần, mắm, bụt mọc)
            - Rễ mút (giác mút) (dây tơ hồng, các cây trong họ Tầm gửi)
            - Rễ chống (đước, dà)
            - Rễ cột (rễ cây đa)
            - Rễ khí sinh (rễ không khí) (rễ các cây trong họ Lan)
    2.1.4. Cấu tạo giải phẫu của rễ
    2.1.4.1. Chóp rễ
    Chóp rễ là phần tận cùng của rễ. Phù hợp với chức năng bảo vệ mô phân sinh ngọn, các tế bào ở phía ngoài thường có vách hoá nhày, hoá bần có tác dụng giảm bớt ma sát khi rễ đâm vào đất.
    Các tế bào chóp rễ là những tế bào sống, thuộc mô mềm, bên trong thường chứa tinh bột.
    2.1.4.2. Miền sinh trưởng
    Mô phân sinh ngọn nằm trong miền sinh trưởng, phân hoá cho ra 3 loại mô phân sinh sơ cấp của rễ.
    - Ngoài cùng là mô phân sinh bì (lớp nguyên bì): cho ra biểu bì của rễ.
    - Giữa là tầng sinh vỏ (mô phân sinh cơ bản): sinh ra các tế bào của vỏ sơ cấp và vỏ trong.
    - Trong cùng là tầng sinh trụ (tầng trước phát sinh): cho ra trụ giữa chứa mô dẫn, tầng phát sinh và vỏ trụ.
    2.1.4.3. Cấu tạo sơ cấp của rễ
            - Biểu bì: gồm các tế bào dài, có vách mỏng, xếp sát nhau, có thể hóa cutin hoặc hóa bần. Biểu bì rễ thường có một lớp, ở rễ không khí (họ Lan) biểu bì rễ có nhiều lớp gọi là lớp velamen gồm những tế bào có màng dày, khi trời hanh chúng chứa đầy không khí, khi trời mưa chúng chứa đầy nước. Đây là mô hấp thu và dự trữ nước.
            Trên biểu bì của rễ có các lông hút, lông hút mọc thêm ở phần non và chết đi ở phần già nên độ dài của đoạn rễ mang lông hút không đổi.
    Hình. Sự phát triển của lông hút
    b. Vỏ sơ cấp
    Vỏ ngoài: gồm một hoặc nhiều lớp tế bào dưới biểu bì, vách tế bào thấm bần. tế bào vỏ ngoài đôi khi cũng có đai caspari và phiến suberin ở phía trong vách sơ cấp. Phiến suberin này có khi rất dày có khi hóa gỗ.
    b. Vỏ sơ cấp
    Mô mềm vỏ: gồm các tế bào vách mỏng bằng xenlulozơ, sắp xếp đồng đều thành các dãy xuyên tâm hay xen kẽ nhau thành các vòng đồng tâm đều đặn. Tế bào thường chứa chất dự trữ, không chứa diệp lục, chỉ ở rễ khí sinh của phong lan mới có diệp lục.
            Ở các cây sống dưới nước, lớp mô mềm vỏ ở phía ngoài có các khoảng gian bào lớn làm chức năng trao đổi không khí.
     
    b. Vỏ sơ cấp
    - Vỏ trong (nội bì): là lớp trong cùng của vỏ sơ cấp, có nguồn gốc từ tầng sinh vỏ.
    Chức năng chính của vỏ trong là làm giảm bớt sự xâm nhập của nước vào trụ giữa. Chức năng này được thực hiện nhờ đai caspari.
    Đối với cây Hai lá mầm, đai caspari là một khung hoá bần tại các vách xuyên tâm của tế bào vỏ trong; còn với cây Một lá mầm, khung hoá bần có hình chữ U do vách tế bào trong dày lên đáng kể ở cả 3 phía.
    b. Vỏ sơ cấp
    - Trụ giữa (trung trụ)
            + Vỏ trụ: ở rễ non, vỏ trụ gồm các tế bào mô mềm có vách mỏng.
    Ở các cây Hạt trần và Hạt kín, tế bào vỏ trụ có khả năng phân chia tạo thành rễ bên, đôi khi tham gia vào hình thành tầng sinh trụ và tầng sinh vỏ.

            Vỏ trụ có thể hóa cứng từng phần hay toàn bộ (rễ già các cây Một lá mầm). Ở các cây Hạt trần vỏ trụ có nhiều lớp, ở các cây Hạt kín vỏ trụ chỉ có một vài lớp.
     
          
    b. Vỏ sơ cấp
    + Hệ thống dẫn: gồm các bó gỗ và bó libe xếp thành dải riêng biệt xen kẽ nhau, nằm dưới vỏ trụ và xếp thành vòng quanh trụ giữa. Cũng có khi gỗ giữ vị trí trung tâm và hình thành những dải lồi ra phía ngoài vào mô mềm ruột.
    b. Vỏ sơ cấp
            Gỗ phân hóa hướng tâm, gỗ trước xuất hiện đầu tiên nằm dưới vỏ trụ, quanh trụ giữa, gỗ sau nằm phía gần giữa.
    Libe cũng phân hóa hướng tâm như gỗ. Chỗ xuất hiện đầu tiên của gỗ và libe trước gọi là cực trước, số lượng cực gỗ và cực libe thường bằng nhau.
     
            Ở một số cây Một lá mầm, toàn bộ phần giữa của rễ chỉ có một bó mạch dẫn lớn duy nhất (hành, tỏi).
    b. Vỏ sơ cấp
    Libe trước nằm ở phía ngoài không có tế bào kèm, libe nằm ở phía trong có tế bào kèm bên cạnh mạch rây, ngoài ra còn có cả mô mềm và sợi libe (sợi libe chỉ gặp ở một số cây họ Đậu, họ Na, họ Bông…)
            Ở các cây Hạt trần, libe ở rễ mới chỉ có các tế bào rây chứ chưa có mạch rây.
            Ruột của rễ gồm các tế bào mô mềm. Ở rễ trưởng thành, các tế bào mô mềm của các yếu tố dẫn thường biến thành thể cứng (những tế bào đá đặc biệt).
    Hình. Cấu trúc sơ cấp của rễ
    Biểu bì; 2. Vỏ; 3. Vỏ trong với đai Caspari;
    4. Libe; 5. Gỗ
    . Rễ lưỡi đòng
    Rễ chuối
    Rễ đậu xanh
    Rễ cây si
    2.1.4.4. Cấu tạo thứ cấp của rễ
    Hình . Cấu tạo thứ cấp rễ cây cúc biển
    1. Vỏ thứ cấp; 2. Trụ thứ cấp
    2.1.4.4. Cấu tạo thứ cấp của rễ
    Cấu tạo thứ cấp của rễ do sự hoạt động của 2 tầng phát sinh: tầng sinh vỏ và tầng sinh trụ
    2.1.4.4. Cấu tạo thứ cấp của rễ
    Tầng phát sinh vỏ: sinh ra phía ngoài là lớp bần và phía trong là lớp tế bào vỏ lục.
    Bần hoạt động làm cho nội bì và vỏ sơ cấp chết đi, bong ra và được thay thế bằng lớp chu bì. Tầng sinh vỏ chỉ hoạt động một thời gian rồi ngừng, sau đó xuất hiện tầng sinh vỏ khác.
    Tập hợp tất cả các mô nằm bên ngoài tầng sinh vỏ mới xuất hiện tạo thành thụ bì.
    2.1.4.4. Cấu tạo thứ cấp của rễ
            - Tầng phát sinh trụ (mô phân sinh bên, mô phân sinh thứ cấp)
            Tầng sinh trụ hoạt động hình thành nên libe thứ cấp ở phía ngoài và gỗ thứ cấp ở phía trong.
    Ngoài ra nó còn sinh ra tia ruột thứ cấp gồm các tế bào có vách mỏng bằng xenlulozơ làm chức năng trao đổi chất và trao đổi khí giữa mô mềm ruột với các tổ chức bên ngoài.
    2.1.4.4. Cấu tạo thứ cấp của rễ
    Cấu tạo thứ cấp của rễ gồm:
    - Vỏ thứ cấp:
    Vỏ thứ cấp là toàn bộ phần tách ra khỏi gỗ, có giới hạn trong cùng là tầng sinh trụ. Thành phần chủ yếu của vỏ thứ cấp là libe thứ cấp. Các tế bào mô mềm libe có kích thước lớn, tích luỹ tinh bột, inulin, tinh thể ... Ngoài ra, trong libe thứ cấp còn có các sợi.
    Do sự hoạt động của tầng sinh vỏ mà bên ngoài rễ xuất hiện lớp chu bì hay thụ bì, còn bên trong là lớp vỏ lục.
    2.1.4.4. Cấu tạo thứ cấp của rễ
    - Gỗ thứ cấp:
    Gồm các yếu tố mạch, quản bào (yếu tố dẫn), sợi gỗ và mô mềm gỗ. Các mô mềm chứa nhiều chất dự trữ, phát triển nhiều hơn các mạch dẫn.
    Trong rễ thứ cấp chủ yếu là gỗ thứ cấp, nó thực hiện chức năng dẫn truyền, chống đỡ và dự trữ các chất dinh dưỡng
    No_avatar
    Chán vãi!
    No_avatarf
    uh cung duoc
    No_avatarf
    sao k thay noi diem giong va khac nhau giua re 1 la mam, 2 la mam va than 1 la mam voi than 2 la mam nhiNgây thơ
    No_avatarf
    Sao k thấy nói chi tiết giải phẫu của các loại biến dạng của rế nhỉ. -.-
     
     
     
    Gửi ý kiến
    print