Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    giáo dục học

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Bích Huệ
    Ngày gửi: 09h:06' 21-10-2010
    Dung lượng: 578.5 KB
    Số lượt tải: 456
    Số lượt thích: 3 người (Phạm Thị Thu Lợi, trần đức quốc hùng, Nguyên Sinh)
    CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ GIÁO DỤC TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON


    III. NHIỆM VỤ GIÁO DỤC TRẺ LỨA TUỔI MẦM NON



    1.1. Khái niệm và ý nghĩa của giáo dục thể chất cho trẻ lứa tuổi mầm non

    a) Khái niệm
    Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non là quá trình tác động đến nhiều mặt vào cơ thể trẻ, tổ chức cho trẻ vận động và sinh hoạt hợp lý nhằm bảo vệ và làm cho cơ thể trẻ được khỏe mạnh, phát triển hài hòa, cân đối tạo cơ sở cho sự phát triển toàn diện của trẻ.
    Đó là quá trình sư phạm hướng vào việc hoàn thiện cơ thể con người về mặt hình thái và chức năng, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản trong đời sống, phát triển các phẩm chất và khả năng thể lực con người, hình thành lối sống lành mạnh trong cuộc sống, lao động và học tập.
    1. GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO TRẺ MẦM NON
    ) Ý nghĩa của giáo dục thể chất
    - Giáo dục thể chất là một mặt quan trọng trong giáo dục nhân cách của con người phát triển toàn diện, làm cho con người phát triển và hoàn thiện về mặt thể chất để có thể tham gia vào các mặt của đời sống xã hội.
    - Ở tuổi mầm non, giáo dục thể chất là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của gia đình và trường mầm non, bởi vì, quá trình tăng trưởng diễn ra rất nhanh, nhưng cơ thể của trẻ còn non yếu, sức đề kháng kém nên dễ mắc các bệnh nguy hiểm. Sự phát triển lệch lạc về thể chất dễ để lại hậu quả suốt đời và sửa lại rất khó khăn.*
    - Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này đặt cơ sở cho sự phát triển thể chất suốt đời sau này của trẻ, đồng thời nó ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển tâm lý và nhân cách của trẻ.
    - Cơ thể khỏe mạnh sẽ giúp trẻ trở nên hoạt bát hơn, có những xúc cảm, thể chất lành mạnh với mình và người khác, với thế giới xung quanh.
    Ý nghĩa của giáo dục thể chất

    - Giáo dục thể chất gắn liền với giáo dục trí tuệ cho trẻ: Bởi vì, cơ thể phát triển khỏe mạnh, hệ thần kinh thăng bằng, các giác quan tinh tường… sẽ giúp trẻ tích cực tiếp xúc và làm quen với môi trường xung quanh, nhờ đó mà hoạt động nhận cảm phong phú và chính xác hơn, tư duy trở nên nhạy bén.
    - Trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, khéo léo sẽ say sưa, hứng thú hơn trong quá trình tri giác cái đẹp của thế giói xung quanh, biết tạo ra cái đẹp và sống theo cái đẹp.
    - Trẻ khỏe mạnh, sẽ thích lao động thích làm những việc tự phục vụ mình và giúp đỡ bạn bè, người lớn xung quanh.**
    Tóm lại, giáo dục thể chất cho trẻ nhà trẻ là rất quan trọng, các bậc cha mẹ, những người nuôi dạy trẻ cần phải đặt giáo dục thể chất lên nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình nuôi dạy trẻ.
    1.2. Nhiệm vụ, nội dung và phương pháp của giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi nhà trẻ.
    1.2.1. Nhiệm vụ (3 nhiệm vụ giáo dục thể chất)
    a) Tiếp tục bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho trẻ.
    Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất của của giáo dục trẻ em tuổi nhà trẻ, bởi vì, ở tuổi này cơ thể phát triển nhanh, nhưng sức đề kháng yếu, các cơ quan còn non yếu, cần phải chăm sóc đặc biệt. Nhiệm vụ bao gồm:
    - Nuôi dưỡng trẻ một cách khoa học: Cho ăn bằng sữa mẹ khoảng 6 tháng tuổi, cho ăn đủ chất, đủ lượng, theo chế độ sinh hoạt khoa học.
    - Chăm sóc hợp lý: tắm rửa, quần áo …
    - Rèn luyện một cách khoa học: vận động, trò chơi đi dạo …
    b) Phát triển và hoàn thiện các vận động của trẻ
    - Khi kỹ năng vận động được hình thành, phát triển và hoàn thiện: đó là hoạt động lẩy, bò, ngồi, đứng, đi, chạy và vận động của bàn tay, ngón tay, khả năng phối hợp thị giác, thính giác và vận động.
    c) Hình thành một số thói quen văn hóa, vệ sinh ban đầu cho trẻ
    - Thói quen ăn uống, vệ sinh cá nhân, sinh hoạt, tự phục vụ. Những thói quen này được hình thành trong khi nuôi dưỡng, chăm sóc và rèn luyện theo một chế độ sinh hoạt khoa học và diễn ra thường xuyên, liên tục.

    1.2.2. Nội dung và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
    a) Tổ chức chế độ sinh hoạt hàng ngày hợp lý
    - Chế độ sinh hoạt hàng ngày và ý nghĩa của nó
    + Đây là một quy trình khoa học nhằm phân phối thời gian và trình tự hoạt động hàng ngày (ăn uống, nghĩ ngơi), để đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển.
    + Chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ được xây dựng dựa trên sinh lý và tâm lý của trẻ, nếu xây dựng hợp lý và thực hiện nghiêm túc sẽ có ý nghĩa lớn đối với giáo dục thể chất cho trẻ.
    + Chế độ sinh hoạt hợp lý vừa là nội dung vừa là phương tiện để phát triển tâm lý trẻ. Trước hết nó thỏa mãn nhu cầu ăn uống, ngủ, hoạt động thoải mái, vui vẻ, đồng thời hình thành cho trẻ nền nếp, thói quen tốt trong cuộc sống.
    Để có được một chế độ sinh hoạt hàng ngày hợp lý cần quán triệt một số yêu cầu sau:
    + Chế độ sinh hoạt phải thỏa mãn nhu cầu phát triển phù hợp với độ tuổi.
    + Đảm bảo điều kiện vệ sinh cho trẻ và tạo ra cảm giác an toàn.
    + Phải xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của trẻ, không gò ép, áp đặt.
    + Khi thực hiện phải linh hoạt, mềm dẻo dựa trên hoàn cảnh, điều kiện và đặc điểm của từng trẻ
    + Đảm bảo cho trẻ hoạt động tích cực và nghĩ ngơi thoải mái.
    + Đảm bảo theo trình tự tạo nếp và thói quen cho trẻ.
    + Phải phù hợp với khí hậu từng mùa, từng vùng và điều kiện kinh tế.
    - Nội dun
    Nội dung chủ yếu trong chế độ sinh hoạt của trẻ tuổi nhà trẻ và cách thực hiện.
    1) Tổ chức ăn uống cho trẻ
    2) Tổ chức ngủ cho trẻ
    3) Tổ chức chơi – tập cho trẻ
    Tùy lứa tuổi mà có sự khác nhau trong tổ chức ăn, ngủ, chơi–tập.
    * Tổ chức ăn uống cho trẻ
    - Ăn uống là nhu cầu thiết yếu cho sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của trẻ, vì vậy cần cho trẻ ăn uống đủ chất dinh dưỡng và đủ nước theo nhu cầu của từng độ tuổi. Khi ăn uống cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
    + Cần cho trẻ ăn uống hợp lý và đúng giờ, bảo đảm dinh


    dưỡng, hợp vệ sinh và hợp khẩu vị của trẻ
    + Khi ăn cần tạo bầu không khí thoải mái, vui vẻ để trẻ ăn ngon miệng
    + Thức ăn của trẻ phải đa dạng về khẩu vị và dinh dưỡng để tăng cường sức khỏe cho trẻ.
    + Bú mẹ là tốt nhất đối với trẻ năm đầu. Ngoài ra trẻ còn ăn các thức ăn khác như: hoa quả tươi, rau tươi, thức ăn chế biến từ sữa, từ lỏng đến rắn dần.
    + Không nên kéo dài thời gian ăn bột, hoặc ăn cơm quá sớm (trước 18 tháng)
    - Quá trình cho trẻ ăn uống và những yêu cầu cơ bản khi cho trẻ ăn uống
    + Trước khi cho trẻ ăn uống: cần vệ sinh chân tay, mặt mũi và đeo yếm, thức ăn phải nấu chín, không quá nóng, không quá lạnh, bát, chén, muỗng phải khô sạch, bàn phải vừa tầm thước của trẻ; phải tạo cho trẻ tâm thế thoải mái, vui vẻ.
    + Trong quá trình ăn: phải tạo cho trẻ có cảm giác ngon miệng, động viên trẻ ăn hết xuất; quan tâm, quan sát theo dõi khi trẻ ăn để có giải pháp khi cần thiết, chú ý đến trẻ lười ăn hoặc chưa xúc cơm được cần giúp đỡ kịp thời.
    + Sau khi cho trẻ ăn: cần giúp trẻ vệ sinh miệng, chân tay và uống nước tráng miệng; không để trẻ vận động mạnh, không cho trẻ ngủ ngay, mà cần có thời gian để trẻ xuôi cơm.
    Giấc ngủ rất cần thiết cho mọi người. Ở trẻ nhỏ hệ thần kinh còn yếu dễ mệt mỏi vì vậy giấc ngủ rất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ.
    - Những yêu cầu cơ bản khi tổ chức cho trẻ ngủ:
    + Tạo điều kiện khách quan và chủ quan để trẻ ngủ sâu, ngon giấc trong một thời gian hợp lý.
    Trẻ dưới 4 tháng tuổi: từ 18 – 20 giờ mỗi ngày
    Trẻ từ 4 – 5 tháng tuổi: từ 14- 16 giờ mỗi ngày
    Trẻ từ 6– 12 tháng tuổi: từ 16- 18 giờ mỗi ngày
    Trẻ từ 12 – 24 tháng tuổi: từ 12- 14 giờ mỗi ngày
    Trẻ từ 24 – 36 tháng tuổi: từ 10- 12 giờ mỗi ngày
    Không nên cho trẻ thức khuya cùng người lớn
    + Tập cho trẻ có thói quen ngủ đúng giờ, đủ giấc và ngủ sâu tạo cho trẻ có thói quen nằm xuống là ngủ ngay
    - Quá trình tổ chức cho trẻ ngủ và những yêu cầu khi cho trẻ ngủ
    + Trước khi đi ngủ: cho trẻ đi vệ sinh trước, tạo cho trẻ cảm giác thoải mái, yên ổn, an toàn, không để trẻ chơi đùa quá nhiều, không dọa nạt, kể chuyện gây sợ hãi cho trẻ, chỗ ngủ của trẻ phải thoáng mát, hợp vệ sinh *
    Khi trẻ ngủ, đặt cho trẻ nằm theo tư thế nằm ngửa hoặc nghiêng, không nên để trẻ nằm sấp.
    + Trong khi trẻ ngủ: để trẻ ngủ một cách nhẹ nhàng cần tạo ra một không gian yên tĩnh, đầm ấm, an toàn, cô cần sự vỗ về, hát ru cho trẻ ngủ là rất cần thiết khi cho trẻ ngủ
    + Sau khi ngủ: khi thức dậy nhiều trẻ thường khóc nếu không thấy người lớn ở gần. Do đó, cô phải có mặt trong thời gian trẻ thức tỉnh, khi trẻ thức tỉnh không cho trẻ dậy ngay mà cần cho trẻ nằm chơi một mình. Sau đó cho trẻ đi vệ sinh và rữa mặt.
    * Tổ chức vệ sinh cá nhân cho trẻ
    Tập cho trẻ dưới 3 tuối biết vệ sinh cá nhân là rất cần thiết nhằm góp phần giữ gìn và bảo vệ sức khỏe cho trẻ và là cơ sở để hình thành nếp sống có văn hóa vệ sinh và những nét tính cách tốt sau này.
    Nội dung: vệ sinh thân thể, răng miệng, mắt, tai, mũi họng..., vệ sinh quần áo, tập cho trẻ đi tiểu, tiện có giờ giấc, đúng nơi quy định.**
    * Tổ chức chơi- tập cho trẻ
    Trong chế độ sinh hoạt hằng ngày, chế độ chơi tập vừa là nội dung, vừa là phương tiện để GD thể chất cho trẻ. Chế độ chơi tập chỉ có ý nghiã đối với sự phát triển cho trẻ khi nó được tính toán một cách hợp lý sự luân phiên giữa hoạt động tĩnh và hoạt động động, phát huy được hoạt động chân tay, trí nảo phù hợp với sự phát triển của từng độ tuổi.
    Cần rèn cho trẻ có chế độ thích nghi tốt hơn với điều kiện sống, nên cho trẻ hoạt động ngoài trời, được tiếp xúc với môi trường thiên nhiên, qua đó trẻ dày dạn hơn, tăng cường sức đề kháng của cơ thể.
    - Yêu cầu: rèn luyện thường xuyên và chú ý đến sức khỏe của mỗi trẻ
    b) Tổ chức tập luyện và phát triển vận động cho trẻ nhà trẻ
    - Vận động là nhu cầu tự nhiên của con người, nó giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống của trẻ tuổi nhà trẻ. Sự phát triển vận động của trẻ không chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển thể chất mà kéo theo sự phát triển tâm lý của trẻ,
    - Sự phát triển vận động là kết quả của sự trưởng thành về cơ thể và sự dạy dỗ
    - Đối với trẻ dưới 3 tuổi cần phát triển các vận động cơ bản sau:
    Năm 1: lật, trườn, bò, xoay người, ngồi, chựng. Năm 2: đi, chạy. Năm 3: chạy nhảy, leo trèo, bước qua chướng ngại vật …
    - Trong ba năm đầu người lớn cần tạo điều kiện cho trẻ vận động một cách tích cực, phù hợp với độ tuổi và phải quán triệt các nguyên tắc sau:
    -
    các nguyên tắc
    + Khi luyện tập chọn bài tập, trò chơi có tác dụng chung đến sự vận động của cơ thể, đặc biệt là vận động cơ bắp
    + Chọn các bài tập và trò chơi gây hứng thú và đặt ra nhiệm vụ vừa sức để phát triển các vận động của trẻ
    + Khi tổ chức buổi tập luyện phải tính đến độ tuổi, đặc điểm cá nhân của trẻ mà đề ra yêu cầu luyện tập khác nhau*
    + Luyện tập thường xuyên có hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Động viên, khuyến khích mỗi trẻ tích cực vận động thoải mái. Tránh cho trẻ vận động quá sức vượt quá khả năng của trẻ.
    + Dụng cụ vận động phải phù hợp cho trẻ vận động, hấp dẫn thu hút trẻ và an toàn.
    1.3. Nhiệm vụ, nội dung và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

    1.3.1. Nhiệm vụ
    - Tiếp tục bảo vệ và tăng cường sức khỏe, rèn luyện cơ thể, bảo đảm sự tăng trưởng hài hòa
    + Bảo đảm chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt hợp lý, tích cực phòng bệnh, phòng tai nạn, làm tốt vệ sinh môi trường, thân thể, không để trẻ làm việc quá sức, căng thẳng.
    + Tổ chức rèn luyện cơ thể, tăng cường sức khòe, cân đối hình dạng và các chức năng của cơ thể, khả năng thích ứng với thời tiết thay đổi và môi trường bên ngoài.
    - Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản và những phẩm chất vận động
    + Hình thành, phát triển và hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản (đi, chạy, nhảy, leo trèo); rèn luyện năng lực phối hợp các cảm giác (thị giác, thính giác); các năng lực vận động của các bộ phận cơ thể với nhau (đầu mình, tay chân); năng lực định hướng vận động (trái, phải, trên dưới … )
    + Từng bước rèn các phẩm chất vận động, giúp trẻ vận động ngày càng nhanh nhẹn, bền bỉ, dẻo dai, khéo léo, linh hoạt ngày càng chính xác hơn (không có động tác thừa như: thè lưởi, mím miệng, nghoẹo cổ).
    - Giáo dục nếp sống, kỹ năng, và thói quen vệ sinh
    + Rèn cho trẻ có nếp sống có giờ giấc, có thói quen ăn, ngủ, thức đúng giờ và dễ thích nghi khi thay đổi các hoạt động, làm cơ sở để trẻ dễ thích nghi với thời khóa biểu học tập sau này ở trường tiểu học.
    + Giáo dục kỹ năng, kỹ xảo vệ sinh có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ sức khỏe và tăng cường thể lực. Các kỹ năng, kỹ xảo vệ sinh về thân thể, về ăn uống, quần áo …. có thể hình thành ở trẻ và từng bước trở thành thói quen của trẻ.
    1.3.2. Nội dung và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo
    a) Giáo dục các kỹ năng và thói quen vệ sinh
    Đây là nội dung quan trọng trong giáo dục thể chất và hinh thành nhân cách cho trẻ, cần rèn những nội dung sau:
    + Vệ sinh thân thể: có thói quen giữ gìn sạch sẽ thân thể như rửa tay, súc miệng, dùng khăn …
    + Vệ sinh ăn uống: rửa tay trước khi ăn, nhai kỹ, không bốc, làm rơi vãi thức ăn, ăn xong súc miện, lau miệng.
    b) Tổ chức ăn cho trẻ
    Cần cho trẻ ăn đủ lượng và chất, vì vậy cần có chế độ ăn phù hợp cho từng độ tuổi (mầm, chồi, lá)
    Cần chăm sóc bữa ăn cho trẻ thật tốt cả về chất lẫn tinh thần, có như vậy mới phát triển tốt thể chất của trẻ
    - Một số yêu cầu khi tổ chức bữa ăn cho trẻ mẫu giáo
    + Phòng ăn sạch sẽ, thoáng mát, bàn ghế thuận lợi cho trẻ ngồi xuống đứng lên,
    + Bàn ăn, bát đĩa phù hợp với lứa tuổi và xếp có thẩm mỹ,
    + Trước khi ăn khoảng nửa giờ cần kết thúc các trò chơi hay đi dạo có tính căng thẳng, tránh gây ra căng thẳng thần kinh hoặc sự giận dỗi của trẻ,
    + Cho trẻ rửa tay, rửa mặt trước khi ăn, khi ngồi vào bàn là ăn ngay.
    Hình thành cho trẻ có thói quen ăn có văn hóa: không ăn vội vàng, nhai kĩ, cầm thìa đúng động tác, lấy đủ thức ăn.
    + Phát hiện nguyên nhân trẻ ăn không ngon miệng và đưa ra biện pháp khắc phục,
    + Cần tìm hiểu kĩ nguyên nhân làm trẻ ăn không ngon miệng, thậm chí ghê sợ bữa ăn, để tìm cách khắc phục hợp lý. Các nguyên nhân rất đa dạng, có thể là:
    Các nguyên nhân
    Thức ăn khô, khó nuốt
    Do sức khỏe trẻ không bình thường
    Do thức ăn lạ, không thích hợp với trẻ vì gia đình chưa bao giờ cho ăn
    Do được nuông chiều ở nhà, dỗ dành khi ăn …
    Nhà giáo dục cần đưa ra biện pháp tích cực nhất, trao đổi với cha mẹ các cháu về vấn đề ăn uống để phối hợp tốt cho việc xây dựng chế độ ăn uống
    c) Tổ chức cho trẻ ngủ
    - Hàng ngày trẻ tham gia nhiều hoạt động nên dễ mệt mỏi, vì vậy cần cho trẻ ngủ đủ giờ để phục hồi khả năng làm việc của tế bào thần kinh
    Một giấc ngủ sâu, đủ độ dài là phương tiện cơ bản để ngăn ngừa tình trạng mệt mỏi của hệ thần kinh và cơ thể. Nếu ngủ nông, không đủ giấc có liên quan đến chức năng hệ thần kinh. Một giấc ngủ tốt vừa là điều kiện căn bản vừa là một dấu hiệu của sức khỏe của trẻ.
    Từ lúc mới sinh đến 7 tuổi các thông số khác nhau về giấc ngủ có thay đổi
    + Sự hình thành giấc ngủ, độ dài chung của giấc ngủ, số giấc ngủ trong ngày đêm giảm đi
    + Nhịp độ luân phiên giữa ngủ và thức cũng thay đội. Ngủ nhiều về đêm và tăng thời gian thức ban ngày.
    - Tổ chức cho trẻ ngủ
    + Rèn cho trẻ có tháo độ tích cực đối với giấc ngủ
    + Tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho trẻ ngủ nhanh, ngủ sâu vào những giờ giấc đã định cho giấc ngủ,
    + Tạo ra trạng thái yên tĩnh trước lúc ngủ, không làm ồn. Không nên có những hình thức xúc cảm tiêu cực, gây hứng phấn cao ở trẻ,
    + Cho trẻ ngủ đúng giờ để tạo phản xạ có điều kiện nhằm hình thành thói quen ngủ nhanh và sâu,
    + Phòng ngủ phải yên tĩnh thoáng mái vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông, sạch sẽ,
    + Cho trẻ đi vệ sinh trước khi đi ngủ.
    - Chăm sóc cho trẻ lúc ngủ
    + Có thái độ ân cần cho trẻ ngủ, giúp trẻ nằm đúng tư thế (không nằm sấp, không nằm co ro đầu gối),
    + Giúp đỡ riêng cho trẻ yếu.
    Nên cho trẻ ngủ và thức dậy theo nhóm không nên làm đồng loạt vì có sự khác biệt cá nhân của trẻ. Cần phối hợp với gia đình để hiểu rõ các phương pháp đúng đắn để tổ chức giấc ngủ cho trẻ.
    d) Sự phát triển vận động
    - Giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo cần thực hiện trong hai nhóm: nhóm phương tiện là chế độ sinh hoạt hằng ngày và nhóm phương pháp là các vận động của trẻ.
    - Vận động giữ vai trò quan trọng trong giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo, làm cho cơ bắp và toàn bộ cơ thể hoạt động, do đó tăng cường hoạt động các hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, tăng cường trao đổi chất và sức khỏe.
    - Sự phát triển vận động gắn chặt với sự phát triển toàn bộ cơ thể và tâm lý của trẻ. Vì vậy khi lập chương trình phát triển thể chất cẩn dựa trên những cơ sở:
    + Ưu tiên lựa chọn bài tập, trò chơi vận động có tác dụng chung đến cơ thể và nhiều cơ bắp tham gia.
    + Chọn bài tập, trò chơi gây hứng thú và phải vừa sức.
    + Tăng cường các nhóm cơ bắp còn yếu về mặt sinh lý và giáo dục tư thế đúng.
    + GD kĩ năng hành động và vận động trong tập thể,
    + Các trò chơi vận động, trò chơi thể thao là những hình thức hoạt động hấp dẫn trẻ em và có tác dụng giáo dục nhiều vận động cơ bản và sự kết hợp các vận động ấy.
    Các hình thức vận động,
    + Các bài tập thể dục quy định trong chương trình, giờ tập thể dục buổi sáng, trò chơi vận động, hệ thống bài tập giúp trẻ nắm được kỹ năng vận động đúng,
    + Thể dục buổi sáng giúp trẻ hoàn thiện các vận động cơ bản, trò chơi vận động giúp trẻ phát triển vận động cơ bản và rèn các tố chất vận động.
    + Tổ chức cho trẻ đi dạo ngoài trời
    Hàng ngày cần tổ chức cho trẻ đi dạo ngoài trời để trẻ thích nghi với môi trường: ánh sáng, không khí, nước …. nhất là ánh sáng buổi sáng có sinh tố D ảnh hưởng tốt đến sự phát triển hệ cơ, xương của trẻ, ra ngoài trời vận động làm cho máu lưu thông sẽ ảnh hưởng tốt đến sức khỏe
    1.4. Phương tiện GD thể chất cho trẻ tuổi mầm non
    Phương tiện giáo dục thể chất cho trẻ mầm non rất đa dạng và phong phú. Trong đó có những phương tiện cơ bản sau:
    - Chế độ sinh hoạt hợp lí, phù hợp với từng độ tuổi.
    Đó là chế độ ăn, ngủ, chơi tập, vệ sinh cá nhân … được sắp xếp một cách khoa học. *
    - Môi trường thiên nhiên xung quanh trẻ:
    Ánh sáng, không khí và nước là những yếu tố thiên nhiên rất cần thiết cho con người. Tận dụng các yếu tố này trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ sẽ góp phần nâng cao sức khỏe và khả năng thích ứng của cơ thể trẻ đối với môi trường thiên nhiên, nâng cao sức đề kháng …
    - Các bài tập luyện, các hình thức tổ chức hoạt động:
    Giúp cho trẻ phát triển và hoàn thiện các vận động cơ bản như: lẩy, bò, ngồi, đi, đứng, chạy, cử động ngón tay, bàn tay … đó là các bài tập xoa bóp, các bài tập phát triển vận động và những trò chơi vận động cho trẻ ở từng độ tuổi.
    2. GIÁO DỤC TRÍ TUỆ CHO TRẺ EM MẦM NON
    2.1. Khái niệm và ý nghĩa của GD trí tuệ cho trẻ mầm non
    2.1.1. Khái niệm
    Giáo dục trí tuệ là một quá trình sư phạm được tổ chức một cách đặc biệt nhằm hình thành những tri thức và kỹ năng sơ đẳng, phát triển những năng lực và nhu cầu hoạt động trí tuệ ở trẻ em.
    Sự phát triển trí tuệ của trẻ mầm non được diễn ra qua các hoạt động đa dạng: giao tiếp hoạt động với đồ vật, hoạt động vui chơi, đi dạo và sinh hoạt hằng ngày.
    2.1.2. Ý nghĩa giáo dục trí tuệ ở tuổi mầm non
    - Giáo dục trí tuệ đặc biệt là giáo dục và phát triển hoạt động nhận cảm, hoạt động tư duy, tưởng tượng cho trẻ em là điều rất quan trọng, đây là cơ hội để trẻ rèn luyện các giác quan. Việc tổ chức các hoạt động đa dạng giúp trẻ có những kinh nghiệm về cuộc sống, có khả năng định hướng trong môi trường, tích cực khám phá những điều mới lạ đối với sự vật hiện tượng.
    - Nhờ sự giúp đỡ của người lớn kinh nghiệm của trẻ ngày càng phong phú hơn. Đó là những biểu tượng sơ đẳng về thiên nhiên, xã hội và mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên … trên cơ sở đó trẻ hình thành các phẩm chất như: óc quan sát, năng lực phân biệt và khái quát các sự vật hiện tượng.
    - Giáo dục trí tuệ có liên quan mật thiết với các mặt giáo dục khác
    + Giáo dục trí tuệ gắn liền với giáo dục đạo đức cho trẻ nó là cơ sở cho việc hình thành những biểu tượng về thế giới xung quanh, giáo dục đạo đức, tình cảm cho trẻ em.**
    + Giáo dục trí tuệ góp phần quan trọng vào việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ. ***
    2.2. Nhiệm vụ, nội dung và phương pháp giáo dục trí tuệ cho trẻ em nhà trẻ
    2.2.1. Nhiệm vụ giáo dục trí tuệ cho trẻ em nhà trẻ
    - Hình thành và phát triển hoạt động nhận cảm (cảm giác, tri giác) cho trẻ thông qua tổ chức các vận động, các hoạt động chơi-tập, nhằm hình thành ở trẻ chuẩn cảm giác: màu sắc, mùi vị. Trên cơ sở đó, hình thành và phát triển khả năng định hướng trong không gian cho trẻ, bằng thị giác và thính giác.
    - Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua việc cung cấp vốn từ. Giúp trẻ thông hiểu ngôn ngữ một cách đơn giản và tập diễn đạt bằng ngôn ngữ về nhu cầu, nguyện vọng của mình cho người khác hiểu được.
    - Hình thành những biểu tượng sơ đẳng về thế giới xung quanh và phát triển tư duy trực quan hành động cho trẻ.
    Giải quyết được các nhiệm vụ trên sẽ thúc đẩy tâm lý, trí tuệ trẻ phát triển.
    2.2.2. Nội dung và phương pháp giáo dục trí tuệ cho trẻ em lứa tuổi nhà trẻ
    a) Giáo dục và phát triển hoạt động nhận cảm cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
    * Ý nghĩa của việc giáo dục và phát triển hoạt động nhận cảm
    - Ở tuổi nhà trẻ tâm lý, trí tuệ phát triển nhanh chóng. Hoạt động nhận cảm là hoạt động chiếm ưu thế, đánh dấu sự khôn lớn của trẻ. Thoạt đầu là phản xạ không điều kiện, rồi đến phản xạ định hướng; từ cảm giác bất phân đến cảm giác phân định; từ thao tác mang tính tình cờ khi cầm đồ vật đúng tầm với, đến hoạt động có đối tượng với đồ vật mà trẻ thích … là những dấu hiệu phát triển trí tuệ của trẻ. Do các kích thích bên ngoài tác động vào cơ quan nhận cảm, thúc đẩy trẻ vận động, nhờ đó mà hoạt động nhận cảm của trẻ phát triển.
    - Nếu người lớn không chú ý hoặc bỏ qua giai đoạn này của trẻ là đã bỏ qua một cơ hội vàng để phát triển trí tuệ cho trẻ và khó có thể bù đắp lại vào những giai đoạn sau. *
    - Nhận thức cảm tính là cơ sở của nhận thức lý tính, cảm giác là viên gạch đầu tiên để xây dựng lâu đài nhận thức.
    Như vậy, ta khẳng định rằng, giáo dục và phát triển hoạt động nhận cảm cho trẻ nhà trẻ là vô cùng quan trọng góp phần giáo dục trí tuệ và giáo dục toàn diện cho trẻ.
    * Nội dung, phương pháp giáo dục và phát triển hoạt động nhận cảm cho trẻ nhà trẻ
    - Căn cứ vào đặc điểm phát triển và độ tuổi, người ta xác định nội dung chủ yếu của việc giáo dục và phát triển hoạt động nhận cảm cho lứa tuổi nhà trẻ.
    + Trong năm đầu: phát triển và giáo dục nhận cảm vận động, thông qua hoạt động lẩy, bò, ngồi, tập đi và cử động của ngón tay bàn tay; phát triển xúc giác (cảm giác da), thị giác, thính giác; luyện tập cho trẻ biết phối hợp thị giác, thính giác với vận động
    + Trong năm 2 và 3: Hình thành và phát triển năng lực nhận cảm như phân biệt độ lớn, màu sắc, hình dáng, âm thanh của đồ vật, vị trí không gian của đồ vật so với các đồ vật khác; tiếp tục phát triển cảm giác vận động, **
    Hình thành chuẩn cảm giác, khả năng định hướng không gian, thời gian.
    Những nội dung giáo dục trên cần được tiến hành tổ chức trong các hoạt động đa dạng, phù hợp với lứa tuổi.
    - Các con đường giáo dục và phát triển nhận cảm cơ bản cho trẻ
    + Tổ chức hoạt động giao tiếp giữa trẻ với những người xung quanh
    + Tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ trong các giờ chơi – tập, chơi tự do
    + Tổ chức cho trẻ thực hiện các bài luyện tập giác quan nhằm phát triển cảm giác, tri giác, vận động cho trẻ.
    + Đồ dùng, đồ chơi cũng là phương tiện giáo dục và phát triển hoạt động nhận cảm cho trẻ, vì hoạt động với đồ vật giúp trẻ nắm được các thuộc tính bề ngoài của chúng (màu sắc, hình dạng…) và giúp trẻ hiểu được các chức năng sử dụng của chúng, người lớn giúp trẻ “khám phá những bí ấn”, của đồ dùng, đồ chơi.
    Khi hướng dẫn luyện các giác quan cho trẻ cần giúp trẻ biết cách quan sát và nhận ra đồ vật, phân biệt vật này với vật khác, cho trẻ được trực tiếp với đồ vật, làm mẫu để trẻ bắt chước (không làm thay trẻ).
    b) Phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
    * Ý nghĩa của việc phát triển ngôn ngữ đối với việc phát triển trí tuệ
    - Đối với trẻ nhỏ, giáo tiếp bằng ngôn ngữ với người lớn xung quanh là một nhu cầu bức thiết và nẩy sinh từ rất sớm, nếu người lớn không đáp ứng kịp thời sẽ khó hình thành tính tích cực giao tiếp bằng ngôn ngữ đối với trẻ
    - Trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ đứa trẻ tiếp nhận ngôn ngữ mà người lớn thường giao tiếp với nó, lúc đầu trẻ bập bẹ đầu tiên để thể hiện mong muốn nhằm thỏa mãn nhu cầu. Khi trẻ nhận ra rằng, ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp với người lớn từ đó trẻ tích cực giao tiếp với người lớn bằng ngôn ngữ.
    - Nhờ giao tiếp với người lớn mà trẻ nắm được tên gọi của đồ vật, vị trí không gian của nó so với các vật khác và trình tự thời gian (trước sau) của sự vật.
    Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ dưới ba tuổi có liên quan đến phát triển tư duy trực quan hành động, đến chú ý và trí nhớ. Khi tiếp xúc với đồ vật, người lớn giúp trẻ bước đầu khái quát, phân biệt các dấu hiệu đặc trưng, riêng biệt của đồ vật, lúc đầu là chú ý không chủ định về sao chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định được hình thành.*
    * Nội dung và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ
    - Trong năm đầu
    + Hình thành và phát triển nhu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ
    + Tập cho trẻ nghe và phát âm những từ quen thuộc, dạy trẻ nói được một số từ và làm được một số động tác đơn giản theo lời nói của người lớn
    - Trong năm 2 và 3
    + Củng cố nâng cao nhu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ cho trẻ,
    + Phát triển vốn từ, giúp trẻ hiểu và làm theo lời nói của người khác; dạy trẻ diễn đạt ý muốn của mình bằng những câu đơn giản.
    Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ nhỏ được biểu hiện ở 2 mặt cơ bản
    Hiểu được lời nói của người khác; nói cho người khác hiểu được ý mình.
    Hiểu được lời nói của người khác là trẻ hiểu được lời nói trong chính hoàn cảnh giao tiếp tức là sự vật xảy ra trước mắt **
    Nói cho người khác hiểu ý mình là một bước phát triển mới về ngôn ngữ, trí tuệ của trẻ, điều này trẻ hiểu được ngôn ngữ của người khác không cần kèm theo tình huống cụ thể nào? Thoạt đầu, câu chỉ có một từ, 2 từ có kèm theo cử chỉ trong một tâm cảnh cụ thể. Sau đó là những câu 2, 3, 4 từ và đầy đủ người nào cũng hiểu được.
    - Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ, người lớn cần:
    + Hình thành và phát triển nhu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ cho trẻ càng sớm càng tốt.
    + Thường xuyên nói chuyện với trẻ để trẻ thông hiểu ngôn ngữ của người lớn.
    + Tổ chức hoạt động với đồ vật, tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với người lớn, để trẻ được nói, nghe và hiểu khi người lớn nói.
    + Trong cuộc sống những điều trẻ biết nên hỏi trẻ để trẻ tự trả lời. Khi trẻ không trả lời được người lớn nhắc cho trẻ nói lại. Khi người lớn yêu cầu trẻ nói, nếu trẻ chưa nói được thì người lớn nói cho trẻ nghe.
    + Tập cho trẻ nói rõ ràng, mạch lạc, không nên cho trẻ nói câu quá dài và nói quá nhiều lần một câu.
    + Trong sinh hoạt người lớn cần nói những câu thanh lịch, có hình ảnh để trẻ bắt chước như nói đúng từ, rõ câu, lời nói có hình ảnh …
    c) Hình thành biểu tượng sơ đẳng về thế giới xung quanh và phát triển năng lực tư duy trực quan hành động cho trẻ
    Trong quá trình tổ chức các hoạt động và giao tiếp với trẻ giáo viên cần hình thành những biểu tượng sơ đẳng về đồ vật, hiện tượng thiên nhiên, xã hội quanh trẻ (tên gọi, đặc điểm của nó…) *
    Trong quá trình tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động, tạo ra các tình huống, nhiệm vụ nhận thức và kích thích trẻ thực hiện các thao tác, hành động phù hợp để giải quyết các tình huống, nhiệm vụ mà cô đặt ra, qua đó tư duy trực quan hành động phát triển.
    2.3. Nhiệm vụ, nội dung và phương pháp giáo dục trí tuệ cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
    2.3.1. Nhiệm vụ
    a) Hình thành cho trẻ những biểu tượng sơ đẳng về cuộc sống xung quanh và về bản thân
    - Giúp trẻ tiếp xúc và khám phá thế giới hiện thực để có được hình ảnh chung về thế giới tự nhiên, xã hội, con người, hình ảnh về thế giới xung quanh, trên cơ sở đó hình thành thái độ đúng đắn đối với cuộc sống xung quanh.
    - Tăng cường vốn tri thức cho trẻ có hệ thống, giúp trẻ có những biểu tượng sơ đẳng về sự vật xung quanh, chức năng và một số phẩm chất của chúng; về một số hiện tượng tự nhiên và mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng mang tính quy luật; giới thiệu cho trẻ về một số hiện tượng và sự kiện xã hội (lao động của con người, đất nước, thủ đô ….)
    b) Phát triển các quá trình tâm lý nhận thức ở tuổi mẫu giáo
    - Phát triển các quá trình cảm giác, tri giác, ghi nhớ, tưởng tượng, tư duy và phát triển ngôn ngữ
    - Giáo dục cảm giác thông qua việc tổ chức cho quan sát sự vật, hiện tượng qua các hoạt động ở trường mầm non
    - Hình thành năng lực ghi nhớ có ý thức, rèn ghi nhớ có chủ định
    - Phát triển tưởng tượng, hình thành năng lực tưởng tượng sáng tạo
    - Phát triển tư duy trực quan hành động, hình tượng, tư duy lôgic, tư duy khái niệm.
    - Phát triển ngôn ngữ, vì ngôn ngữ là phương tiện của tư duy, của giao tiếp
    Nhiệm vụ của trường mầm non là phát triển ngôn ngữ ở trẻ, làm phong phú vốn từ, hình thành hệ thống ngữ pháp, biết đặt câu, phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
    c) Phát triển lòng ham hiểu biết và năng lực trí tuệ
    - Lòng ham hiểu biết là phẩm chất của trẻ em, nó biểu hiện ở sự tích cực khám phá và nhận thức thế giới xung quanh, nhu cầu và hành động.
    - Giáo viên mầm non phải biết khích lệ lòng ham hiểu biết ở trẻ mẫu giáo, bằng cách tổ chức cho trẻ quan sát, hướng trẻ vào trả lời câu hỏi … trên cơ sở đó hình thành hứng thú nhận thức.
    - Giáo dục trí tuệ có nhiệm vụ phát triển các kỹ năng, kỹ xảo hoạt động trí tuệ như:
    + Quan sát các sự vật hiện tượng
    + Phân biệt các dấu hiệu cơ bản và không cơ bản, so sánh với các vật khác
    + Phân tích tổng hợp các sự vật hiện tượng
    Các kỹ năng này là các thành phần tạo thành hoạt động nhận thức, giúp trẻ nắm vững tri thức.
    2.3.2. Nội dung và phương pháp giáo dục trí tuệ cho trẻ em tuổi mẫu giáo
    a) Nội dung và phương pháp hình thành và phát triển những tri thức về các đối tượng và hiện tượng xung quanh
    Những tri thức sơ đẳng cần hình thành và phát triển cho trẻ mẫu giáo.
    - Những biểu tượng sơ đẳng về các đồ vật trong cuộc sinh hoạt gần gũi: Cô dạy trẻ biết tên gọi, tính chất, chức năng, cách sử dụng những đồ dùng quen thuộc.
    - Những biểu tượng sơ đẳng về các hiện tượng tự nhiên*.
    - Những biểu tượng sơ đẳng về thực vật, động vật: dạy trẻ biết tên gọi, đặc điểm, tác dụng và cách chăm sóc … mối quan hệ của chúng với các sự vật, hiện tượng xung quanh.
    - Những biểu tượng sơ đẳng về các sự kiện hiện tượng xã hội như lao động của người lớn, các phương tiện giao thông, ngày hội, ngày lễ, các công trình văn hóa, di tích lịch sử, các miền của đất nước, thủ đô, lãnh tụ, về quốc kỳ, quốc ca…
    - Hình thành những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ; giúp trẻ nắm được những mối quan hệ, những thuộc tính của chúng về số lượng, kích thước, hình dạng, vị trí của chúng trong không gian, cụ thể:
    Hình thành những biểu tượng toán học sơ đẳng
    + Hình thành cho trẻ những biểu tượng tập hợp và số lượng trong phạm vi 10, phân biệt sự khác nhau về số lượng giữa các nhóm đối tượng.
    + Hình thành những biểu tượng về kích thước: to, nhỏ, dài, ngắn, rộng, hẹp của đồ vật.
    + Hình thành những biể
     
    Gửi ý kiến
    print