Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    triet học

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: thầy Vũ Tình
    Người gửi: Phan Vo Vinh Phuc
    Ngày gửi: 12h:46' 08-10-2011
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 106
    Số lượt thích: 0 người
    VIETNAM NATIONAL UNIVERSITY HOCHIMINH CITY
    CENTRE OF
    POLITICAL SCIENCES
    Prof.Dr. Vũ Tình
    TRIẾT HỌC

    Chương trình dùng cho
    học viên cao học và nghiên cứu sinh
    không thuộc chuyên ngành Triết học

    PHÉP BiỆN CHỨNG DUY VẬT –
    PHƯƠNG PHÁP LUẬN
    NHẬN THỨC KHOA HỌC
    VÀ THỰC TIỄN

    (Học thuyết về các mối liên hệ
    và các quy luật phổ biến
    chi phối sự vận động, phát triển)
    I. PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
    1. Phương pháp

    Phương pháp là hệ thống những yêu cầu, những nguyên tắc mà con người phải thực hiện nhằm đạt đến mục đích của mình.

    2. Phương pháp luận

    Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là các học thuyết về phương pháp.



    3. Các loại phương pháp
    Tùy theo mục đích nghiên cứu, phương pháp có thể chia thành nhiều loại; một trong những cách đó là phương pháp có thể chia thành 3 loại:

    1. Phương pháp riêng (phương pháp ngành);
    2. Phương pháp chung;
    3. Phương pháp chung nhất (phương pháp phổ biến)
    Phương pháp chung nhất là phương pháp triết học.
    4. Những phương pháp triết học cơ bản
    Triết học có nhiều phương pháp; trong đó có 2 phương pháp cơ bản là:

    1. Phương pháp siêu hình
    2. Phương pháp biện chứng.
    4.1. Phương pháp siêu hình
    Phương pháp siêu hình là phương pháp:

    - Nhận thức đối tượng trong trạng thái cô lập, tách rời khỏi những sự vật, hiện tượng khác.

    - Nhận thức đối tượng trong trạng thái tĩnh, nếu có biến đổi thì đấy thuần túy là sự biến đổi về lượng chứ không có sự biến đổi về chất.
    4.2. Phương pháp biện chứng
    a. Khái niệm “biện chứng”

    Trong lịch sử, khái niệm “biện chứng” được hiểu theo nhiều nghĩa; ở đây, “biện chứng” là khái niệm dùng để chỉ các mối liên hệ, sự vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng.


    b. Phương pháp biện chứng
    Phương pháp biện chứng là phương pháp:

    - Nhận thức đối tượng trong các mối liên hệ với những sự vật hiện tượng khác;

    - Nhận thức đối tượng trong trạng thái động nằm trong khuynh hướng chung là phát triển.
    4.3. Phép biện chứng
    Phép biện chứng vừa là lý luận, vừa là phương pháp.

    - Ở góc độ lý luận, phép biện chứng là học thuyết về các mối liên hệ, về các quy luật chi phối sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    - Ở góc độ phương pháp, phép biện chứng là hệ thống những nguyên tắc, những yêu cầu đòi hỏi con người phải nhận thức đối tượng trong các mối liên hệ, trong sự vận động của quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của đối tượng.
    5. Những hình thức cơ bản
    của phép biện chứng

    Phép biện chứng phát triển qua 3 hình thức cơ bản:

    1. Phép biện chứng chất phác.
    2. Phép biện chứng duy tâm.
    3. Phép biện chứng duy vật.
    5.1. Phép biện chứng chất phác
    - Biểu hiện rõ nét ở thời cổ đại.
    - Các nhà triết học đưa ra quan điểm của mình về các mối liên hệ, về trạng thái vận động và phát triển dựa trên cơ sở nhận thức trực quan, nặng tính ngây thơ, chất phác.
    Tiêu biểu cho phép biện chứng chất phác thời cổ đại ở phương Đông là quan điểm về Âm Dương, Ngũ hành, về Dịch ở Trung Quốc.
    Tiêu biểu cho phép biện chứng chất phác thời cổ đại ở phương Tây là quan điểm của Heraclite ở Hy Lạp.
    5.2. Phép biện chứng duy tâm
    Học thuyết về các mối liên hệ, về các quy luật chi phối sự vận động và phát triển của các nhà triết học duy tâm.
    Đỉnh cao của phép biện chứng duy tâm được thể hiện trong học thuyết của nhà triết học cổ điển Đức Hêghen.
    5.3. Phép biện chứng duy vật
    Phép biện chứng duy vật do C.Mác & Ăngghen xây dựng trên cơ sở kế thừa trực tiếp những nội dung hợp lý trong phép biện chứng của Hêghen.

    Đặc trưng cơ bản
    của phép biện chứng duy vật
    Phép biện chứng duy vật là phép biện chứng được xây dựng trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học.

    - Phép biện chứng duy vật không chỉ giải thích về các mối liên hệ, về trạng thái vận động và phát triển của thế giới mà nó còn là công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới.
    NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
    Nội dung của phép biện chứng duy vật rất phong phú nhưng được khái quát thành 2 nguyên lý.

    2 nguyên lý được cụ thể hoá qua các quy luật.

    Các quy luật được chia thành 2 loại:
    1). Các quy luật không cơ bản (còn được gọi là các cặp phạm trù cơ bản của phép BCDV).
    2). Các quy luật cơ bản
    II. HAI NGUYÊN LÝ
    CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

    1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

    1.1. Tóm tắt nội dung nguyên lý

    Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại cô lập, tách rời khỏi những sự vật, hiện tượng khác mà chúng luôn nằm trong mối liên hệ với nhau.
    1.2. Khái niệm “mối liên hệ”
    Mối liên hệ là sự tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc nhau, chuyển hoá lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng.
    1.3. Những tính chất cơ bản
    của các mối liên hệ

    Các mối liên hệ có nhiều tính chất; song có 3 tính chất cơ bản, là:

    1). Tính khách quan.
    2). Tính phổ biến.
    3). Tính đa dạng, phong phú.
    1.4. Ý nghĩa phương pháp luận

    1). Nếu các mối liên hệ có tính khách quan, tính phổ biến thì trong hoạt động của mình, con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện.

    2). Nếu các mối liên hệ có tính đa dạng, phong phú thì trong hoạt động của mình, con người phải
    tôn trọng quan điểm lịch sử – cụ thể.
    2. Nguyên lý về sự phát triển
    2.1. Tóm tắt nội dung nguyên lý

    Mọi sự vật không ngừng vận động nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Nguồn gốc của sự vận động và phát triển là mâu thuẫn của sự vật; cách thức của sự vận động và phát triển là lượng của sự vật đổi dẫn đến chất của sự vật đổi và ngược lại; khuynh hướng của sự vận động và phát triển diễn ra quanh co, phức tạp được thể hiện bằng đường xoáy ốc đi lên; đây là quá trình phủ định của phủ định, trong đó cái mới ra đời thay cái cũ và hết mỗi một chu kỳ sự vật lặp lại dường như cái ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn.


    2.2. Khái niệm “phát triển”

    Phát triển là quá trình vận động theo hướng từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ chưa hoàn thiện cho đến hoàn thiện.

    2.3. Tính chất của sự phát triển
    Phát triển có nhiều tính chất, song có 3 tính chất cơ bản :

    1). Tính khách quan.
    2). Tính phổ biến.
    3). Tính đa dạng, phong phú.
    2.4. Ý nghĩa phương pháp luận
    Nếu phát triển có tính khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng phong phú thì trong hoạt động của mình, con người phải tôn trọng quan điểm phát triển.
    III. NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN
    CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

    1. Khái niệm “quy luật”

    Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, tương đối ổn định, được lặp đi lặp lại và tồn tại khách quan (tồn tại bên ngoài ý thức, không phụ thuộc vào ý thức của con người).
    2. Phân loại quy luật
    1). Xét theo phạm vi tác động của quy luật:
    - Quy luật riêng.
    - Quy luật chung.
    - Quy luật phổ biến.

    2). Xét theo lĩnh vực tác động của quy luật:
    - Quy luật tự nhiên.
    - Quy luật xã hội.
    - Quy luật tư duy.
    3. Quy luật cơ bản thứ nhất
    Quy luật từ những thay đổi về lượng
    dẫn đến những thay đổi về chất
    và ngược lại

    Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại là quy luật về cách thức của sự vận động và phát triển.
    3.1. Tóm tắt nội dung của quy luật
    Mọi sự vật, hiện tượng đều có chất và lượng. Chất tương đối ổn định, còn lượng thường xuyên biến đổi. Lượng biến đổi đến một mức độ nhất định và trong những điều kiện nhất định thì chất sẽ thay đổi. Khi đó sự vật, hiện tượng chuyển hoá. Sự vật, hiện tượng mới ra đời có chất mới, lượng mới. Lượng vẫn thường xuyên biến đổi, nhưng sự biến đổi của lượng mới khác sự biến đổi của lượng cũ. Sự khác nhau này do chất quy định. Như vậy, từ những thay đổi về lượng đã dẫn đến sự thay đổi về chất; và, từ những thay đổi về chất lại đã dẫn đến sự thay đổi về lượng.
    3.2. Phân tích quy luật
    a. Khái niệm “chất”

    Chất là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, làm cho nó phân biệt được với những cái khác.
    b. Khái niệm “lượng”
    Lượng là khái niệm dùng để chỉ tính khách quan vốn có về số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, tốc độ nhanh hay chậm, trình độ cao hay thấp, v.v. của sự vật, hiện tượng.

    Lượng chưa phân biệt được sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác.
    c. Mối quan hệ biện chứng
    giữa chất và lượng
    Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có chất và lượng; trong đó chất tương đối ổn định, còn lượng thường xuyên biến đổi.

    Lúc đầu, lượng biến đổi nhưng chất chưa thay đổi. Song, nếu lượng biến đổi đến một mức độ nhất định và trong những điều kiện nhất định thì chất sẽ thay đổi. Khi đó, sự vật, hiện tượng này sẽ chuyển hoá sang sự vật, hiện tượng khác.
    - Giới hạn mà lượng biến đổi nhưng chất chưa thay đổi gọi là “độ”.

    - Nơi diễn ra sự thay đổi về chất gọi là “điểm nút”

    - Sự chuyển hoá từ chất cũ sang chất mới gọi là “bước nhảy”.

    Bước nhảy thể hiện rất đa dạng: có thể nhanh hay chậm, toàn thể hay cục bộ, liên tục hay đứt đoạn, v.v.
    Sự thay đổi về chất làm sự vật, hiện tượng này chuyển hoá thành sự vật hiện tượng khác.

    Ở sự vật, hiện tượng mới, lượng vẫn thường xuyên biến đổi nhưng sự biến đổi của lượng mới khác sự biến đổi của lượng cũ cả về quy mô, tốc độ, chiều hướng, v.v. Sự khác nhau này do chất mới quy định.
    Như vậy:

    Từ những thay đổi về lượng đã dẫn đến sự thay đổi về chất; và, từ những thay đổi về chất cũng đã dẫn đến sự thay đổi về lượng.

    Đây chính là cách thức của sự vận động và phát triển.


    3.3. Ý nghĩa phương pháp luận
    1). Vì từ những thay đổi về lượng mới dẫn đến sự thay đổi về chất nên trong cuộc sống, muốn có sự thay đổi về chất phải tự giác, tích cực tích luỹ về lượng.

    2). Vì lượng thay đổi đến điểm nút mới dẫn đến sự thay đổi về chất nên trong cuộc sống cần tránh nôn nóng, tránh đốt cháy giai đoạn, tránh muốn có sự thay đổi vế chất khi lượng chưa thay đổi đến mức cần thiết.
    3). Vì điều kiện ảnh hưởng trực tiếp đến bước nhảy nên phải tạo ra những điều kiện cần thiết để bước nhảy được thực hiện.

    4). Vì bước nhảy thể hiện rất đa dạng nên phải vận dụng chúng linh hoạt cho phù hợp với từng bối cảnh cụ thể.

    5). V.v
    4. Quy luật cơ bản thứ hai
    Quy luật thống nhất và đấu tranh
    của các mặt đối lập

    Quy luật này:
    + Được gọi tắt là “Quy luật mâu thuẫn”.
    + Là quy luật về nguồn gốc của sự vận động & phát triển.
    + Được coi là “hạt nhân” của phép biện chứng duy vật.
    4.1. Tóm tắt nội dung của quy luật
    - Mỗi sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất bao gồm những yếu tố khác nhau, liên kết với nhau tạo thành; trong đó có những yếu tố vận động ngược chiều nhau, gọi là những mặt đối lập.
    - 2 mặt đối lập tạo nên 1 mâu thuẫn.
    - Những mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau.
    - Đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến một mức độ nhất định thì mâu thuẫn được giải quyết. Khi đó sự vật, hiện tượng chuyển hóa.

    Như vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển.
    4.2. Phân tích nội dung của quy luật
    a. Khái niệm “mặt đối lập”
    Mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng vận động ngược chiều nhau nhưng là điều kiện, là tiền đề tồn tại của nhau.

    b. Khái niệm “mâu thuẫn”
    Mâu thuẫn là mối liên hệ của 2 mặt đối lập.
    c. Tính chất của mâu thuẫn
    Mâu thuẫn có những tính chất cơ bản sau:

    - Tính khách quan.
    - Tính phổ biến.
    - Tính đa dạng phong phú.
    Các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau lại vừa đấu tranh với nhau.

    d. Thống nhất của các mặt đối lập

    Thống nhất của các mặt đối lập biểu hiện:

    - Các mặt đối lập cùng tồn tại.
    - Các mặt đối lập ràng buộc nhau.

    e. Đấu tranh của các mặt đối lập
    Đấu tranh của các mặt đối lập biểu hiện:

    Các mặt đối lập tác động qua lại theo chiều hướng chuyển hóa nhau, bài trừ nhau, phủ định nhau.
    f. Sự phát triển của mâu thuẫn
    - Đấu tranh của các mặt đối lập phát triển làm mâu thuẫn càng trở nên sâu sắc.

    - Đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến một mức độ nhất định và trong những điều kiện nhất định thì mâu thuẫn được giải quyết, khi đó sự vật, hiện tượng chuyển hóa.

    Sự vật mới, hiện tượng mới ra đời tự nó lại có những mặt đối lập mới, những mâu thuẫn mới, những quá trình thống nhất và đấu tranh mới của các mặt đối lập.

    Đấu tranh của các mặt đối lập lại tiếp tục phát triển để đến một lúc nào đó mâu thuẫn lại được giải quyết, sự vật, hiện tượng lại chuyển hóa.
    4.3. Ý nghĩa phương pháp luận
    1. Vì mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển nên muốn có sự phát triển trước hết phải tìm ra mâu thuẫn, phân loại mâu thuẫn và đánh giá đúng tầm quan trọng của từng mâu thuẫn.

    2. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết trong những điều kiện nhất định nên phải chủ động tạo ra những điều kiện cần thiết để mâu thuẫn được giải quyết.
    5. Quy luật cơ bản thứ ba
    Quy luật phủ định của phủ định

    Quy luật phủ định của phủ định là quy luật về khuynh hướng của sự vận động và phát triển.
    5.1. Tóm tắt nội dung quy luật
    Vận động, phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà là quá trình quanh co, phức tạp được biểu diễn bằng hình xoáy ốc đi lên. Đây là quá trình phủ định của phủ định; trong đó cái mới ra đời thay thế cái cũ và hết mỗi một chu kỳ sự vật, hiện tượng lặp lại như cái ban đầu nhưng ở mức độ phát triển hơn.
    5.2. Phân tích nội dung quy luật
    a. Khái niệm “phủ định”

    Phủ định là sự thay thế trạng thái tồn tại này bằng một trạng thái tồn tại khác trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
    b. Phân loại phủ định
    Phủ định có thể phân thành 2 loại:

    1). Phủ định sạch trơn.
    2). Phủ định biện chứng (phủ định của phủ định)
    c. Phủ định sạch trơn
    Phủ định sạch trơn là phủ định:

    1. Do nguyên nhân bên ngoài gây nên.
    2. Không có tính kế thừa.
    3. Không tạo được tiền đề cho sự phát triển.
    d. Phủ định biện chứng
    (Phủ định của phủ định)
    Là phủ định:

    1. Do nguyên nhân bên trong gây ra.
    2. Mang tính khách quan.
    3. Thực hiện được tính kế thừa.
    4. Có chu kỳ, có cái mới ra đời thay thế cái cũ.
    5. Có sự tự đào thải, tự sàng lọc.
    6. Tạo được tiền đề cho sự phát triển.

    5.3. Ý nghĩa phương pháp luận
    1. Phải thấy vai trò quyết định của nguyên nhân bên trong để phát huy nội lực.
    2. Phải thấy tầm quan trọng của tính kế thừa để tự giác, tích cực, chọn lọc trong kế thừa.
    3. Phải có thái độ đúng đối với cái đang được khẳng định và cái mới.
    4. Phải thấy tính chất phức tạp của qúa trình phát triển để không bi quan trước những khúc quanh trong của sự phát triển.
    5. V.v.
    IV. NHỮNG QUY LUẬT KHÔNG CƠ BẢN
    CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
    Những quy luật không cơ bản của phép biện chứng duy vật còn gọi là “Những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật”. Những cặp phạm trù này là sự cụ thể hóa nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.


    Phép biện chứng duy vật có 6 cặp phạm trù cơ bản, là:

    1. Cái riêng và cái chung.
    2. Nguyên nhân và kết quả.
    3. Tất nhiên và ngẫu nhiên.
    4. Nội dung và hình thức.
    5. Bản chất và hiện tượng.
    6. Khả năng và hiện thực ./.

    No_avatarf

    hay lam

     
    Gửi ý kiến
    print