Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Giáo án ĐT Người lái đò sông Đà khá hay


    (Bài giảng chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Dương Đức Thắng
    Ngày gửi: 20h:50' 17-12-2011
    Dung lượng: 551.0 KB
    Số lượt tải: 984
    Số lượt thích: 0 người

    NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
    Nguyễn Tuân
    I. Tìm hiểu khái quát
    1. Tỏc gi? ( 1910 - 1987 )
    - Người trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Lòng yêu nước ẩn đằng sau những bức tranh thiên nhiên, những giá trị văn hóa cổ truyền…
    + Tài hoa: Thường nhìn nhận và khám phá sự vật, hiện tượng ở phương diện thẩm mĩ và miêu tả con người ở góc độ tài hoa nghệ sĩ.
    + Uyên bác: Văn đầy ắp những biểu hiện phong phú, đa dạng về nhiều lĩnh vực khác nhau từ nghệ thuật ( hội họa, điện ảnh... ) cho đến lịch sử, địa lí, quân sự, thể thao...
    - Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa và uyên bác.
    2. Hoàn cảnh sáng tác, tùy bút “Sông Đà”

    - “Người lái đò sông Đà” -> tập tùy bút “Sông Đà” (1960) – thành quả đẹp đẽ của NT trong chuyến đi gian khổ và hào hùng tới miền TB rộng lớn của tổ quốc.
    - “Sông Đà” gồm 15 thiên tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. Tùy bút ghi lại:
    + Phong cảnh Tây Bắc vừa uy nghiêm hùng vĩ, vừa thơ mộng trữ tình.
    + Con người Tây Bắc dũng cảm, lao động cần cù - > “Thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở tâm hồn người dân Tây Bắc.
    3. Thể loại tùy bút:
    Chủ quan, tự do, phóng túng, giàu hình ảnh, nhạc điệu, từ ngữ phong phú, nhiều cách so sánh liên tưởng…
    -> Thể loại dễ thăng hoa cảm xúc và tư tưởng
    II. Đọc hiểu “ Người lái đò sông Đà”
    Theo các em, trong tác phẩm: " Người lái đò Sông đà", Nguyễn Tuân tập trung vào những hình tượng nào?
    Hình tượng con sông Đà
    Xem đoạn phim
    Hình tượng người lái đò
    1. Hình tượng sông Đà.
    a. Sông Đà – con sông “hung bạo” ở miền Tây Bắc.
    Theo các em, Nguyễn Tuân đã quan sát và ghi lại những biểu hiện hùng vĩ và hung dữ nào của Đà giang?
    Đá bờ sông dựng vách thành
    Mặt ghềnh Hát Loóng
    Những cái hút nước
    Thác đá sông đà
    Phân công làm việc theo nhóm:
    Tổ 1: Đá bờ sông dựng vách thành
    Tổ 2: Mặt ghềnh Hát Loóng
    Tổ 3: Những cái hút nước
    Tổ 4: Thác đá sông đà
    * Cảnh đá bờ sông “dựng vách thành”
    - “Mặt sông chổ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới thấy mặt trời”
    - > hình dung độ cao của đá hai bên bờ sông, diễn tả cái lạnh lẽo âm u của những khúc sông có đá dựng vách thành
    - Hình ảnh so sánh:
    + “ Vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”.
    + “Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá...”
    + “Có quãng con nai, con hổ đã có lần vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia
    -> Diễn tả một cách hình ảnh sự nhỏ hẹp của dòng chảy
    - Sự liên tưởng độc đáo: “Ngồi trong khoang đò qua quảng ấy...vừa tắt phụt đèn”
    - > Nhà văn so sánh cái cảm giác của con người giữa thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ với mội khoảnh khắc của đời sống hiện tại giữa chốn thị thành -> Độc đáo, thú vị.
    * “Quãng mặt ghềnh Hát Loóng”
    - “ Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”
    -> Thủ pháp điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp - > Âm hưởng dữ dội, nhịp điệu khẩn trương, dồn dập.
    - “Gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào”
    -> Nhân hóa con sông như một kẻ chuyên đi đòi nợ dữ dằn.
    - “ Quãng này mà khi khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra”

    * Những “cái hút nước”
    - Những cái hút nước giống như: “ cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”, “ nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào” - > Hàng loạt các so sánh, liên tưởng độc đáo, -> tô đậm mức độ khủng khiếp của những cái hút nước
    * Những “cái hút nước”
    - Những cái hút nước giống như: “ cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”, “ nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”
    - > Hàng loạt các so sánh, liên tưởng độc đáo -> tô đậm mức độ khủng khiếp của những cái hút nước
    - Nhà văn ví những con thuyền phải qua những vùng xoáy nước thật nhanh như: “ô tô sang số nhấn ấn ga cho nhanh để vút qua”. Nhà văn tưởng tượng anh bạn quay phim táo tợn đã: “dũng cảm ngồi vào một cái thuyền... Thế rồi thu ảnh”
    - Những cái thuyền bị cái hút nước hút xuống: “thuyền trồng ngay cây chuối...tan xác ở khuỷu sông dưới” - > Hình ảnh đầy chất hiện thực diễn tả sự “tàn nhẫn” của những cái hút nước SĐ.
    ? Những tri thức thuộc các môn khoa học khác nhau được sử dụng?
    - > Những tri thức về nhiều lĩnh vực khác nhau ( giao thông, điện ảnh ) giúp NT có cái nhìn đa chiều về một hiện tượng -> gây ấn tượng cho bạn đọc.
    Thác nước
    * Những thác nước
    - Âm thanh: “nghe như là oán trách” lúc thì “van xin”, khi thì “khiêu khích, giọng gằn như chế nhạo”, có lúc “rống lên như một ngàn con trâu mộng...”
    -> Nhân cách hóa con sông - > một sinh thể dữ dằn, gào thét trong những ấm thanh ghê sợ.
    - Diện mạo: Tên nào “trông cũng ngỗ ngược”, “nhăn nhúm”
    -> Trông như những tên lính thủy hung tợn sẵn sàng giao chiến. Cả một trận địa đá -> sẵn sàng dìm chết con thuyền.
    - Tiềm năng thủy điện to lớn của SĐ. Nhà văn nghĩ đến “tuyếc – bin thủy điện”-> Dự cảm được vị trí, vai trò của Đà giang trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

    => Dưới ngòi bút của người nghệ sĩ ngôn từ, sự hùng vĩ và hung bạo của Đà giang đã hiện ra ở nhiều vẻ khác nhau

    * Những thác nước
    Nhà văn đã từng viết: “Tôi có bay tạt ngang sông Đà mấy lần,...thêm cho mình một góc độ nhìn về con sông TB hung bạo và chữ tình”.
    Từ trên cao nhìn xuống: “ Con SĐ tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai...” - > SĐ hiện lên như người thiếu nữ TB với vẻ đẹp trữ tình, trẻ trung, duyên dáng.
    Những sắc màu tươi đẹp và đa dạng của con sông:
    b. Sông Đà – con sông “trữ tình” của vùng Tây Bắc.
    + “Mùa xuân, dòng xanh ngọc bích”.
    + “Mùa thu, lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa…”
    NT “nhìn sông Đà như một cố nhân”, thấy được cái chất “đằm đằm ấm ấm” thân quen của con sông.
    Vẻ đẹp hết sức đa dạng và nên thơ của cảnh vật ven sông:
    + Một vẻ đẹp tĩnh lặng, yên ả, thanh bình mang dấu tích của lịch sử cha ông: “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ...lặng tờ đến thế mà thôi”.
    + Vẻ đẹp tươi mới tràn trề nhựa sống: “nương ngô nhú lên mấy lá non đầu mùa”, “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp”, “đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”.
    + Vẻ đẹp hoang sơ, cổ kính: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một niềm cổ tích xưa”
    - Hai bên bờ sông : “lặng tờ”…
    + “Hoang dại như một bờ tiền sử…”
    +” Hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”…
    NT đã rất kì công, lao tâm khổ tứ khi tìm hiểu và miêu tả con sông Đà, vì sao NT lại phải kì công, lao tâm như vậy?
    - Vì ông có tình yêu tha thiết đối với thiên nhiên đất nước.
    - Đối với NT, thiên nhiên cũng là một NT vô giá của tạo hóa, cần phải trân trọng và làm phác lộ những vẻ đẹp đó.
    - Vì thiên nhiên chính là phông, nền cho sự xuất hiện và tzôn vinh vẻ đẹp con người mà ở đây la người lái đò.
    2. Hình tượng người lái đò SĐ
    Câu hỏi: NT đã làm thế nào để khắc họa và làm nổi bật hình tượng người lái đò SĐ?
    Câu hỏi: Tương quan giữa hai bên như thế nào?
    -> Nhà văn đã sáng tạo ra một đoạn văn tràn đầy không khí trận mạc, tưởng tượng ra cuộc chiến ác liệt giữa người lái đò với “bầy thủy quái SĐ”:
    - Một cuộc chiến không cân sức bởi một bên là thiên nhiên lớn lao, dữ dội và hiểm độc: sóng, nước, đá, gió…còn bên kia chỉ là con người bé nhỏ và vũ khí trên tay chỉ là những chiếc cán chèo.
    -> Trong cuộc chiến không cân sức đó, chiến thắng đã thuộc về người lái đò:
    - Ông lái đò tuy nhỏ bé nhưng lại sừng sững hiện lên như một viên tướng trí dũng trước con thủy quái với tư thế của người đã nắm chắc “binh pháp của thần sông, thần đá”
    - Cho dù thác đá có bày thế trận, ông vẫn bình tĩnh “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên” và mặc dù thác đá “đánh đến đòn hiểm độc nhất” “nhưng ông vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuốc lái”, tiếng chỉ huy của ông vẫn “ngắn gọn, tỉnh táo”.
    - Vòng vây thứ hai có cả những cái bẫy cửa sinh, cửa tử. Người LĐ ”không một phút nghỉ nghỉ tay, nghỉ mắt, phá luôn vòng vây thứ hai và đổi chiến thuật”, “ông ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh”. Dù bọn thủy quái định xô ra níu thuyền lôi vào cửa tử thì “ông vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh..., đứa thì ông đè sấn lên...”.
    -> Người lái đò vượt qua thác dữ đã có một chiến thắng ngoạn mục.
    Câu hỏi: Nhưng cuộc chiến đó, ai mới là người chiên thắng?
    - Đó là chiến thắng của sự ngoan cường, lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm vượt qua những thử thách khốc liệt của cuộc sống.
    - Đây là chiến thắng của tài trí con người, của sự hiểu biết, và kinh nghiệm của những người đã từng nhiều năm gắn bó với nghề sông nước.
    => Sau cuộc chiến ác liệt với con SĐ, “chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua” - > Ngợi ca vẻ đẹp của những người LĐ bình thường, âm thầm giản dị nhưng đã và đang làm nên những kì tích lớn lao trong cuộc chiến với thiên nhiên hung dữ.
    Câu hỏi: Ng. nhân nào làm nên chiến thắng của người lái đò?
    Câu hỏi: NT là nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp. Các nhân vật trong những sáng tác của ông thường mang những phẩm chất của người nghệ sĩ tài hoa. Ông lái đò liệu có phải là một trường hợp ngoại lệ?
    -> Dù đoạn trích không có nhiều trang viết tô đậm nét tài hoa nghệ sĩ của người LĐ nhưng người đọc vẫn cảm thấy tư cách nghệ sĩ, sự tài hoa trong từng động tác rất thuần thục của ông lái đò.
    => Người LĐ trí dũng và tài hoa trên dòng sông hung dữ và trữ tình. Vẻ đẹp của những người LĐ – vẻ đẹp bình dị, thầm lặng nhưng đầy trí tuệ và sức mạnh. Đó còn là vẻ đẹp về nghị lực, tài năng và tài hoa, có khả năng chinh phục thiên nhiên. Vẻ đẹp đó chính là “chất vàng mười” của người TB nói riêng và người LĐ VN nói chung trong thời kì mới.
    III. Tổng kết.
    - “NLĐSĐ” là bài ca ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên và con người TB – thiên nhiên hùng vĩ, trữ tình và đầy tiềm năng cùng những người LĐ bình dị nhưng có thể làm nên những chiến công phi thường trong công cuộc chinh phục thiên nhiên.
    - Tác phẩm cho thấy công phu LĐ NT nghiêm túc, khó nhọc; sự tài hoa, uyên bác của NT.
    - NT đúng là người nghệ sĩ ngôn từ.
    Toàn cảnh sông Đà
    từ trên máy bay nhìn xuống
    Vách đá hai bên bờ sông
    “Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè như muốn đòi nợ xuýt một chiếc thuyền nào qua đó”.
    Những hút nước lòng sông
    Thac nuoc
    + “Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình”
    + “Mùa xuân, dòng xanh ngọc bích”.
    + "Mựa thu, l? l? chớn d? nhu da m?t ngu?i b?m di vỡ ru?u b?a."
    - Hai bên bờ sông : “lặng tờ”…
    + “Hoang dại như một bờ tiền sử…”
    +” Hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”…
    Một số hình ảnh về sông Đà
    Bình minh trên sông Đà
    Hoàng hôn trên sông Đà
    Du ngoạn trên sông Đà
    Dọc theo triền sông Đà
    Cảnh vượt thác sông Đà
     
     
     
    Gửi ý kiến
    print