Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa cuối thế kỉ XIX


    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thành Tuấn
    Ngày gửi: 10h:42' 09-07-2012
    Dung lượng: 885.5 KB
    Số lượt tải: 145
    Số lượt thích: 0 người
    ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HỢP ĐỒNG TRONG DẠY HỌC TÍCH CỰC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG LỚP 8
    Giáo viên : Lê Thị Luyến- Tổ KH Xã hội
    Trường THCS Lê Quang Trường- Hoằng Tiến- Hoằng Hóa
    BÀI: “THANH HÓA TRONG PHONG TRÀO
    CẦN VƯƠNG CUỐI THẾ KỈ XIX”
    Vua Hàm Nghi
    Tôn Thất Thuyết
    Chiếu ra ngày 13/7/1885
    HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN
    * Các nhiệm vụ 2, 3, 8, 9 là nhiệm vụ bắt buộc mà nhóm nào cũng phải làm
    * Các nhiệm vụ 1, 4, 5, 6, 7 là nhiệm vụ tự chọn mà các nhóm có thể chọn
    để thực hiện theo ý thích
    *LƯU Ý :
    - Mỗi nhóm chọn 2 nhiệm vụ tự chọn để thực hiện
    - Nhóm nào chọn nhiệm vụ 4 thì không chọn nhiệm vụ 7
    - Nhóm nào chọn nhiệm vụ 5 thì không chọn nhiệm vụ 6
    * Thời gian thực hiện tất cả các nhiệm vụ và trưng bày sản phẩm là 13 phút
    * Sau khi thực hiện xong mỗi nhiệm vụ, cần ghi thời gian thực hiện nhiệm vụ
    vào cột thứ 7 của bản hợp đồng.
    * Sau khi tìm hiểu đáp án của GV, các nhóm tự đánh giá vào cột thứ 8
    - Làm đúng, không vượt thời gian cho phép: Loại giỏi
    - Làm sai ít, đảm bảo thời gian : Loại khá
    - Làm sai một nửa, vượt thời gian : Loại TB
    - Làm sai nhiều, vượt thời gian : Loại yếu


    CHÚC CÁC EM THÀNH CÔNG
    Trần Xuân Soạn
    Nguyễn Quý Yên
    Nguyễn Phương
    Lê Ngọc Toản
    Cầm Bá Thước
    Các thủ lĩnh đầu tiên của phong trào
    Cần Vương ở Thanh Hóa :
    Các địa phương tham gia trong buổi đầu
    phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa :
    Tỉnh lị Thanh Hóa, Quảng Xương, Hoằng Hóa, Nông Cống,
    Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn, Tĩnh Gia, ...
    6. Hà Văn Mao
    7. Tống Duy Tân
    8. Phạm Bành
    9. Hoàng Bật Đạt
    10. Tôn Thất Hàm
    NHIỆM VỤ 1
    Nga
    Sơn
    Nông
    Cống
    Thường
    Xuân
    Tĩnh
    Gia
    Như
    Thanh
    Yên
    Định
    Hoằng
    Hóa
    Quảng
    Xương

    Trung
    NGHỆ AN
    THANH
    HÓA
    Hoằng
    Hóa
    CHÚ GIẢI
    Các địa phương
    tham gia trong
    buổi đầu
    phong trào
    Cần Vương
    Đánh thành Thanh Hóa ngày 12/3/1886
    THANH
    HÓA
    LƯỢC ĐỒ THANH HÓA TRONG BUỔI ĐẦU PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG
    Như
    Xuân
    Vĩnh Lộc
    Mường Lát
    Quan Hóa
    Quan Sơn
    Bá Thước
    Đông
    Sơn
    Thiệu Hóa
    Lang Chánh
    Triệu Sơn
    Bỉm Sơn
    Thọ Xuân
    Cẩm Thủy
    Ngọc Lặc
    Thạch
    Thành
    Hậu Lộc
    Sầm
    Sơn
    Chân dung Trần Xuân Soạn trên tem Việt Nam
    TRẦN XUÂN SOẠN, NGƯỜI PHỤ TRÁCH PHONG TRÀO
    CẦN VƯƠNG Ở THANH HÓA
    NHIỆM VỤ 2
    =
    Nga
    Sơn
    Nông
    Cống
    Thường
    Xuân
    Tĩnh
    Gia
    Như
    Thanh
    Yên
    Định
    Hoằng
    Hóa
    Quảng
    Xương

    Trung
    NGHỆ AN
    THANH
    HÓA
    Như
    Xuân
    Vĩnh Lộc
    Mường Lát
    Quan Hóa
    Quan Sơn
    Bá Thước
    Đông
    Sơn
    Thiệu Hóa
    Lang Chánh
    Triệu Sơn
    Bỉm Sơn
    Thọ Xuân
    Cẩm Thủy
    Ngọc Lặc
    Thạch
    Thành
    Hậu Lộc
    Sầm
    Sơn
    Lược đồ các trung tâm
    Cần Vương ở Thanh Hóa
    NHIỆM VỤ 3
    Các cuộc khởi nghĩa
    lớn nhất
    Phong trào đấu tranh
    ở miền núi,
    các căn cứ phụ trợ

    TRUNG
    BA ĐÌNH
    NGA VINH
    NGA THẮNG
    NGA TRƯỜNG
    Vị trí căn cứ Ba Đình trên bản đồ huyện Nga Sơn
    Khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887) là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa. Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa là Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt...Căn cứ được xây dựng trên địa phận 3 làng Thượng Thọ, Mậu Thịnh, Mỹ Khê ( thuộc xã Ba Đình, Nga Sơn). Đây là công sự phòng thủ quy mô nhất Việt Nam thời kì cuối thế kỉ XIX với nhiều loại vũ khí mới và các căn cứ hỗ trợ ở các địa phương lân cận.
    Ban đầu, nghĩa quân mở các trận đánh nhỏ tiêu diệt sinh lực địch, làm tê liệt đường giao thông của chúng. Tháng 12/1886, nghĩa quân đã đập tan cuộc tấn công lần 1 vào căn cứ do Metzingơ và Đôt cầm đầu
    Ngày 6 tháng Giêng năm 1887, tiếp tục đánh bại cuộc tấn công lần 2 của quân Pháp do Brixơ chỉ huy
    Ngày 15 tháng Giêng năm 1887, quân Pháp cắt đứt liên lạc của nghĩa quân với bên ngoài, đốt căn cứ bằng xăng. Đêm 20 tháng Giêng, Ba Đình thất thủ. Nhóm nghĩa quân cuối cùng rút lên căn cứ Mã Cao. Tại đây, nghĩa quân tiếp tục xây dựng thành lũy và chiến đấu quyết liệt với quân Pháp, song trước thế giặc mạnh, nghĩa quân tiếp tục rút lui. Đinh Công Tráng bị phản bội và hi sinh trên đường vào Nghệ An tháng 10/1887
    Thời kì đầu của phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa kết thúc
    Tên Ba Đình được dùng để đặt cho quảng trường lớn ở TP Hà Nội, nơi vào ngày 2/ 9/ 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
    NHIỆM VỤ 5
    Sơ đồ
    công sự
    phòng thủ
    Ba Đình (thuộc địa phận 3 làng Thượng Thọ, Mậu Thịnh, Mỹ Khê, xã Ba Đình,
    Nga Sơn, Thanh Hóa)
    Nghĩa quân cuộc khởi nghĩa Ba Đình bị bắt
    Phụ nữ nông dân bị bắt trong khởi nghĩa Ba Đình
    Vị trí căn cứ khởi nghĩa Hùng Lĩnh
    trên bản đồ huyện Vĩnh Lộc
    VĨNH HÙNG
    VĨNH MINH
    VĨNH THỊNH
    VĨNH TÂN
    Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1887-1895) do Tống Duy Tân, Cao Điển lãnh đạo. Căn cứ của cuộc khởi nghĩa đóng tại các làng Bồng Trung, Bồng Thượng, Bồng Hạ, Đa Bút ( Vĩnh Lộc)
    Khác với các thủ lĩnh của khởi nghĩa Ba Đình, Tống Duy Tân không xây dựng thành lũy kiên cố mà lợi dụng địa hình, địa vật tự nhiên sẵn có để phòng thủ, thực hiện chiến tranh du kích. Kỉ luật của nghĩa quân hết sức nghiêm khắc.
    Ban đầu, nghĩa quân chiến đấu chống các cuộc càn quét của địch, đánh thành Thanh Hóa, làm phân tán lực lượng của địch, không cho chúng thực hiện ý đồ lập chính quyền tay sai
    Tống Duy Tân đã liên hệ và có phối hợp chiến đấu với thủ lĩnh phong trào hai miền Trung, Bắc ( các tỉnh Hà Tây, Bắc Giang, Nghệ An, Hà Tĩnh)
    Những thắng lợi vang dội của nghĩa quân Hùng Lĩnh là trận Vân Đồn (Triệu Sơn), trận Đa Bút, trận Vạn Lại (Thọ Xuân), trận đánh huyện lị Nông Cống, phục kích ở Yên Thái, bao vây đồn Thị Long ( Nông Cống ).
    Do sự phản bội của Cao Ngọc Lễ, Tống Duy Tân bị bắt và bị chém đầu tại tỉnh lị Thanh Hóa. Cao Điển cũng bị bắt tại Bắc Giang và bị kết án tử hình
    Với 8 năm tồn tại, hoạt động trên một địa bàn rộng lớn trong tỉnh, phối hợp chiến đấu với nghĩa quân trong và ngoài tỉnh cùng sự tiến bộ trong tổ chức và kỉ luật, khởi nghĩa Hùng Lĩnh xứng đáng là bước phát triển mới trong phong trào yêu nước chống Pháp ở Thanh Hóa cuối thế kỉ XIX
    NHIỆM VỤ 6
    Tống Duy Tân
    trong phẩm phục
    tiến sĩ tân khoa
    năm 1875
    Đền thờ
    Cầm Bá Thước
    (Thường Xuân )
    Nằm cách trung tâm thành phố Thanh Hóa chừng 60 km về phía tây, đền thờ danh nhân Cầm Bá Thước tọa lạc trên một dải đất cao thuộc địa bàn xã Xuân Mỹ, huyện Thường Xuân, Thanh Hóa. Nơi đây trong tương lai không xa khi công trình thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt hoàn chỉnh sẽ tạo thành một quẩn thế danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp, không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh mà cả du lịch sinh thái đối với người dân và du khách thập phương.
    Lễ hội Căm Mương, xã Mường Kỉ, Văn Nho, Bá Thước
    Lễ hội Căm Mương, xã Mường Kỉ, Văn Nho, Bá Thước
    ĐẶC ĐIỂM,
    VỊ TRÍ, Ý NGHĨA LỊCH SỬ
    CỦA PHONG TRÀO YÊU NƯỚC
    CHỐNG PHÁP Ở THANH HÓA
    CUỐI THẾ KỈ XIX
    V? TR
    Nêu cao
    chủ
    nghĩa
    anh hùng,
    là niềm
    cổ vũ
    lớn lao
    cho lớp
    người
    sau
    tiếp tục
    đấu tranh
    ĐẶC ĐIỂM
    Bùng nổ
    sớm,kéo
    dài liên
    tục và
    bền bỉ
    Diễn ra
    trên diện
    rộng, quy
    mô ngày
    càng lớn
    từ đồng
    bằng, trung
    du lên
    miền núi


    Thể hiện
    tinh thần
    yêu nước
    mạnh mẽ,
    ý chí
    kiên
    cường,
    sức mạnh
    đoàn kết
    hùng hậu
    của nhân
    dân
    tỉnh ta

    Thể
    hiện
    tinh
    thần
    yêu
    nước
    nồng
    nàn,
    sẵn sàng
    hi sinh
    vì độc lập
    dân tộc
    Ý NGHĨA LỊCH SỬ
    TRUNG
    TÂM
    *Dựa chắc
    vào nhân
    dân, khai
    thác tối đa
    điểm mạnh
    của
    địa hình,
    địa vật,
    con người
    *Phương thức
    đấu tranh
    phong phú,
    nhất là
    xây dựng
    làng xã
    chiến đấu
    Lãnh
    đạo
    là sĩ phu,
    văn thân,
    thổ ty,
    lang đạo,
    nông dân,
    những
    người
    có uy
    tín và
    khả năng
    tập hợp
    lực lượng
    Thất bại do
    Phân tán,
    hiếu bộ
    chỉ huy
    thống nhất
    tập trung
    cao độ
    - Phương pháp
    chưa
    đúng đắn,
    khoa học
    -Vũ khí thô sơ
    - Nghĩa quân
    chưa được
    rèn luyện
    chu đáo
    Đánh
    mạnh,
    làm
    chậm
    quá
    trình
    “bình
    định”
    của
    thực
    dân
    Pháp
    NHIỆM VỤ 8
    Trần Xuân Soạn là người làng Thọ Hạc (nay là phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa)
    Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, tòng quân thay cho con một phú hào trong làng để lấy tiền nuôi gia đình. Trong thời gian đi lính, do có công lớn trong việc tiễu phỉ ở đất Bắc nên được thăng chức đề đốc.
    Sau khi vua Kiến Phúc mất, ngày 2 tháng 8 năm 1884, vua Hàm Nghi nối ngôi, Trần Xuân Soạn được điều về Huế để cùng phái kháng chiến lo phòng giữ kinh thành.
    Đêm 4 rạng ngày 5 tháng 7 năm 1885, ông cùng phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đứng đầu, lệnh cho binh sĩ đồng loạt nã đại bác vào tòa Khâm Sứ và đồn Mang Cá, là hai địa điểm đóng quân của quân Pháp. Thất bại, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi chạy ra sơn phòng Quảng Trị, ban dụ Cần Vương; còn Trần Xuân Soạn cùng Phạm Bành, Đinh Công Tráng đi xây dựng cứ điểm Ba Đình (Thanh Hoá), tiếp tục chỉ đạo cuộc kháng chiến. Theo sự phân công, ông đóng quân ở phủ Quảng Hóa để hỗ trợ cho căn cứ Ba Đình, và giữ mối hiện hệ giữa Ba Đình và Mã Cao.
    Đầu năm 1887, Ba Đình và Mã Cao thất thủ ông rút quân lên Điền Lư, châu Quan Hoá (nay là huyện Bá Thước) xây dựng lại lực lượng.
    Thấy Trần Xuân Soạn cứng cỏi quá, quân Pháp đào mồ lấy cốt cha ông thiêu hủy ở giữa đường, cốt để lung lạc ông ra hàng, nhưng không thành công. Ít lâu sau, ông sang Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc) gặp Tôn Thất Thuyết để bàn chuyện xin viện trợ và tổ chức lại lực lượng, nhưng rồi bị mắc kẹt luôn ở bên đó .
    Ở Long Châu, được sự giúp đỡ của một số sĩ phu Hoa Nam, ông đã tổ chức được mấy toán quân, và nhiều lần về hoạt động ở biên giới .
    Năm Quý Hợi (1923), Trần Xuân Soạn mất tại Long Châu, thọ 74 tuổi.
    TRẦN XUÂN SOẠN, NGƯỜI PHỤ TRÁCH PHONG TRÀO
    CẦN VƯƠNG Ở THANH HÓA
    Căn cứ Ba Đình cách huyện lỵ Nga Sơn 4 km, tây bắc giáp huyện Hà Trung, được xây dựng trên địa bàn ba làng Thượng Thọ, Mậu Thịnh và Mỹ Khê.
    Vào mùa mưa, căn cứ này trông như một hòn đảo nổi giữa cánh đồng nước mênh mông, tách biệt với các làng khác. Căn cứ này gọi là Ba Đình vì mỗi làng có một cái đình, từ làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia.
    Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài, Đinh Công Tráng đã cho bao bọc xung quanh căn cứ là lũy tre dày đặc và một hệ thống hào rộng, cắm đầy chông tre. Ở trong là một lớp thành đất cao 3 m, chân rộng 8 đến 10m. Trên mặt thành, nghĩa quân đặt các rọ tre chứa đất nhào rơm xếp vững chắc có những khe hở làm lỗ châu mai sẵn sàng chiến đấu. Thành rộng 400 m, dài 1.200 m. Phía trong thành có hệ thống giao thông hào dùng để vận chuyển lương thực và vận động khi chiến đấu. Ở những nơi xung yếu đều có công sự vững chắc.
    Ở mỗi làng xây dựng một đồn đóng quân. Ở Thượng Thọ có đồn Thượng, ở Mậu Thịnh có đồn Trung và ở Mỹ Khê có đồn Hạ. Ba đồn này có thể hỗ trợ tác chiến cho nhau khi bị tấn công, đồng thời cũng có thể chiến đấu độc lập. Có thể nói rằng căn cứ Ba Đình có vị trí tiêu biểu nhất, là một chiến tuyến phòng ngự quy mô nhất thời kỳ Cần Vương cuối thế kỷ 19. Ba Đình còn có các căn cứ hỗ trợ: căn cứ Phi Lai của Tống Duy Tân và Cao Điển, căn cứ Quảng Hóa của Trần Xuân Soạn, căn cứ Mã Cao của Hà Văn Mao.
    Từ Ba Đình, nghĩa quân có thể tỏa đi các nơi, kiểm soát các tuyến giao thông quan trọng trong vùng, tổ chức phục kích các đoàn xe vận tải của đối phương đi lại trên con đường Bắc-Nam...Chính vì vậy, mà quân Pháp rất quyết tâm đánh dẹp.
    CĂN CỨ BA ĐÌNH






    Tống Duy Tân là một nhà khoa bảng lớn, đã từng bỏ ấn từ quan trước thái độ hèn nhát đầu hàng Pháp của triều đình nhà Nguyễn. Về Thanh Hóa ông dạy học và mưu tính việc cứu nước. Khi Tôn Thất Thuyết nắm binh quyền liền đưa ông trở lại triều đình tham gia chính sự. Khi chiếu Cần Vương ban ra, ông được vua Hàm Nghi phong làm Chánh sứ sơn phòng Thanh Hóa.
             Khi khởi nghĩa Ba Đình thất bại, để thoát khỏi sự truy lùng của Pháp, Tống Duy Tân lánh đi một thời gian. Sau đó về lại Thanh Hóa tập hợp những người yêu nước cũ còn lại như Cao Điển, Tôn Thất Hàm, Cầm Bá Thước… xây dựng lại lực lượng
             Nghĩa quân Hùng Lĩnh được tổ chức rất cơ động, mỗi huyện đều có một cơ lính từ 200 người trở lên và lấy tên huyện để gọi, ví dụ như Tống Thanh cơ (Tống Sơn - Thanh Hóa), Nông Thanh cơ (Nông Cống - Thanh Hóa)… Lãnh đạo nghĩa quân còn chủ động đặt mối liên hệ với nghĩa quân ở một số nơi khác .Trong những năm 1889 - 1891, nghĩa quân Hùng Lĩnh đã chiến thắng nhiều trận, chủ yếu là phục kích đánh địch trên đường hành quân          
    Tháng 5-1892, nghĩa quân Hùng Lĩnh phối hợp với nghĩa quân sông Đà (do Đốc Ngữ chỉ huy) chiến đấu với quân Pháp do Pennơcanh chỉ huy ở Niên Kỷ và giành thắng lợi lớn.
    Sau đó, Pháp tăng cường tấn công càn quét vào căn cứ, Tống Duy Tân lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu cầm cự được một thời gian nữa. Đến tháng 9-1892, nhận thấy hết phương duy trì cuộc chiến đấu, Tống Duy Tân cho hội quân lại nói rõ tình hình và tuyên bố giải tán quân sĩ, khuyên mọi người trở về quê quán làm ăn, chờ thời cơ và không được cộng tác với giặc. Tống Duy Tân cùng Cao Điển và một số nghĩa quân còn lại trú quân trong một hang núi thuộc huyện Bá Thước
          Ngày 3-10-1892, tên việt gian Cao Ngọc Lễ (vốn là học trò cũ của Tống Duy Tân) chỉ điểm cho quân Pháp bắt Cao Điển và Tống Duy Tân. Trong trận đánh trả dữ dội đó, Cao Điển thoát được ra ngoài. Ngày 4-10-1892, Tống Duy Tân bị địch bắt. Pháp cho đóng cũi nhốt ông chở về thị xã Thanh Hóa để mua chuộc. Trong cũi tù ông vẫn ung dung làm thơ. Thất bại trong âm mưu mua chuộc, thực dân Pháp đưa Tống Duy Tân ra chém tại thị xã Thanh Hóa ngày 15-10-1892.
    Người dân Thanh Hóa có câu
    Vô địa khả mai Cao Ngọc Lễ
    Hữu tiền khôn chuộc Tống Duy Tân
    Đến đây, cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh coi như kết thúc.
    TỐNG DUY TÂN, NGƯỜI LÃNH ĐẠO
    KHỞI NGHĨA HÙNG LĨNH
    V? NH
    7103701

    hay nhung ma chu mo qua !Lưỡng lự

     
    Gửi ý kiến
    print