Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Sơ cấp LLCT


    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đỗ Hồng Phong
    Ngày gửi: 14h:28' 13-07-2012
    Dung lượng: 4.2 MB
    Số lượt tải: 423
    Số lượt thích: 0 người
    CHƯƠNG TRÌNH
    SƠ CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
    LỊCH SỬ VÀ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG
    CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM



    BI 1
    KHI LU?C
    L?CH S? D?NG C?NG S?N VI?T NAM

    Ngày

    3.2.1930

    Đảng

    CSVN

    ra

    đời
    Là kết quả của sự chuẩn bị đầy đủ về
    tư tưởng, chính trị và tổ chức
    Là sự vận dụng và phát triển sáng tạo
    chủ nghĩa Mác - Lênin
    Sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa
    Mác - Lênin với phong trào công nhân
    và phong trào yêu nước
    Đáp ứng nhu cầu lịch sử của đất nước ta

    phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
    I. Hoàn cảnh lịch sử ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam
    1. Hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

    a, Sự xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc
    - Từ cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (đế quốc chủ nghĩa). Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường. Dẫn tới các cuộc chiến tranh xâm lược.

    Thuộc địa Anh
    Thuộc địa Pháp
    Phong trào đấu tranh của GCCN phát triển mạnh
    Giữa thế kỷ 19
    b, Ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin

    Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ giai cấp công nhân chỉ có thể giải phóng được mình nếu đồng thời giải phóng cho các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội. Muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải lập ra Đảng Cộng sản.

    Sự ra đời Đảng Cộng sản là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống áp bức, bóc lột.
    c, Tác động của Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản
    Mở đầu thời đại mới: “thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”
    Thúc đẩy sự ra đời nhiều Đảng Cộng sản
    Cách mạng
    Tháng Mười
    Thành công
    Đảng Cộng sản
    Đức, Hungari (1918)
    Đảng Cộng sản
    Mỹ (1919)
    Đảng Cộng sản
    Trung Quốc,
    Mông Cổ
    (1921)
    Đảng Cộng sản
    Nhật Bản (1922)
    Đảng Cộng sản
    Anh, Pháp (1920)
    - Tháng 3/1919 Quốc tế Cộng sản được thành lập
    Năm 1920 tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản
    Lênin công bố: “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”

    2. Hoàn cảnh trong nước
    a) Xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp
    - Chính sách cai trị của thực dân Pháp
    Thực dân Pháp xâm lược nước ta năm 1858, Sau khi tạm thời dập tắt được các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, chúng thi hành chính sách cai trị thực dân tàn bạo trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa.
    Lính Pháp hành quân
    Toàn quyền Pháp
    Thống đốc
    Khâm xứ
    Công sứ
    người Pháp
    Phó công sứ
    Chánh, phó Đốc Lý
    và Hội đồng thành phố
    Đốc Phủ xứ, Tri Phủ, Tri Huyện
    Xã, Làng
    đứng đầu là Lý trưởng, Phó lý trưởng, Hội đồng Kỳ Hào,Kỳ mục
    Bị đày đi Châu Phi
    Từ năm 1902-1912 thực dân Pháp kết án 24.380 người

    Bị xử trảm (1908)
    Về chính trị
    Trực tiếp nắm
    giữ các chức vụ
    chủ chốt trong
    bộ máy
    nhà nước
    Cấu kết giữa
    chủ nghĩa đế
    quốc và phong
    kiến tay sai là
    đặc trưng của
    chế độ
    thuộc địa.
    Thi hành chính
    sách cai trị
    chuyên chế.
    Về kinh tế
    Thực hiện
    chính sách độc quyền,
    kìm hãm sự phát triển
    nền kinh tế độc lập
    của nước ta
    Đặt ra hàng trăm
    thứ thuế vô lý,vô nhân đạo,
    tăng cường vơ vét tài nguyên
    và bóc lột nặng nề,
    làm cho nhân dân ta, bị bần
    cùng, nền kinh tế bị
    què quặt
    Về văn hoá - xã hội
    Chúng thực hiện chính sách ngu
    dân
    khuyến khích văn hoá nô dịch,
    các hoạt động mê tín dị đoan,
    đồi phong bại tục.
    Mọi hoạt động yêu nước đều bị
    cấm đoán

    Nhằm kìm hãm nhân
    dân ta trong vòng
    tăm tối dốt nát,
    lạc hậu, phục tùng
    sự cai trị của chúng
    - Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam.

    Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hoá sâu sắc.
    Giai cấp địa chủ
    Giai cấp địa chủ đã tồn tại hơn ngàn năm. Chủ nghĩa tư bản thực dân được đưa vào Việt Nam và trở thành yếu tố bao trùm, song vẫn không xóa bỏ mà vẫn bảo tồn và duy trì giai cấp địa chủ để làm cơ sở cho chế độ thuộc địa. Tuy nhiên, do chính sách kinh tế và chính trị phản động của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ càng bị phân hóa thành ba bộ phận khá rõ rệt: tiểu, trung và đại địa chủ.
    Vốn sinh ra và lớn lên trong một quốc gia dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, lại bị chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép về kinh tế, nên một bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa chủ không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai.


    Những người chết đói
    - Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam chiếm khoảng 90% dân số, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề.
    - Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, tập trung nhiều ở các thành phố và vùng mỏ như: Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Quảng Ninh.
    Đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, giai cấp công nhân đã phát triển nhanh chóng về số lượng, 10 vạn (năm 1914) tăng lên hơn 22 vạn (năm 1929), trong đó: hơn 53.000 công nhân mỏ (60% là công nhân mỏ than), và 81.200 công nhân đồn điền.
    - Giai cấp tư sản Việt Nam bao gồm tư sản công nghiệp, tư sản thương nghiệp,... Trong giai cấp tư sản có một bộ phận kiêm địa chủ.
    Giai cấp tư sản Việt Nam không đủ điều kiện để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.
    Tư sản mại bản: là những tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế quốc, bao thầu những công trình xây dựng của chúng ở nước ta. Nhiều tư sản mại bản có đồn điền lớn hoặc có nhiều ruộng đất cho phát canh, thu tô. Vì có quyền lợi kinh tế và chính trị gắn liền với đế quốc thực dân, nên tư sản mại bản là tầng lớp đối lập với dân tộc.
    Tư sản dân tộc: là bộ phận đông nhất trong giai cấp tư sản, bao gồm những tư sản loại vừa và nhỏ, thường hoạt động trong các ngành thương nghiệp, công nghiệp và cả tiểu thủ công nghiệp.
    Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, viên chức và những người làm nghề tự do...
    Tiểu tư sản Việt Nam có lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân và chịu ảnh hưởng của những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào. Vì vậy, đây là lực lượng có tinh thần cách mạng cao. "Họ tỏ ra thức thời và rất nhạy cảm với thời cuộc. Được phong trào cách mạng rầm rộ của công nông thức tỉnh và cổ vũ, họ bước vào hàng ngũ cách mạng ngày càng đông và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân, nhất là ở thành thị".
    Như vậy, xã hội Việt Nam xuất hiện hai giai cấp mới là công nhân và tư sản. Trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là: mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Thực tiễn lịch sử Việt Nam đặt ra hai yêu cầu: một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc; hai là, xoá bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.

    b. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng
    phong kiến và tư sản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
    Từ năm 1858 đến trước
    1930 hàng trăm phong
    trào khởi nghĩa nổ
    ra như phong trào Cần
    Vương, Đông Du, Đông
    Kinh -Nghĩa Thục, Duy
    Tân; các cuộc khởi
    nghĩa do Nguyễn Trung
    Trực, Phan Đình Phùng,
    Hoàng Hoa Thám
    Nguyễn Thái Học
    lãnh đạo.
    Kết quả:
    Các cuộc khởi
    nghĩa và phong
    trào đó đều bị
    thất bại và dìm
    Trong bể máu
    Nguyên nhân

    Chưa tìm được
    con đường cứu
    nước phản ánh
    đúng nhu cầu
    phát triển
    của xã hội
    Việt Nam
    * Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến
    - Phong trào Cần Vương kéo dài từ năm 1885 đến năm 1896 .
    Phong trào cần vương được chia làm 2 giai đoạn:
    +) Giai đoạn đầu các phong trào diễn ra dưới sự chỉ huy của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết kéo dài trong 3 năm từ 1885 đến 1888.
    - Giai đoạn này bao gồm hàng loạt các cuộc khởi nhĩa lớn nhỏ khác nhau như:
    .) ở Bình Định có phong trào của Mai Xuân Trưởng.
    .) ở Quảng Nam có phong trào của Trần Văn Dự.
    .) ở Quảng Ngãi có phong trào của Lê Trung Đình.
    .) ở Quảng Trị có phong trào của Trương Đình Hội........
    +) Giai đoạn 2 từ 1888 đến 1896 : các phong trào đấu tranh ở giai đoạn này diễn ra không còn sự chỉ huy của triều đình các cuộc đấu tranh đã được quy tụ vào một số trung tâm lớn như:
    .)Khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hoá) năm 1887- 1892 do Phạm Bành, Đinh Công Tráng chỉ huy.
    .) Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (Thanh Hoá) năm 1887 - 1892 do Tống Duy Tân, Cao Điểm chỉ huy.
    .)Khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1895 ) đây là cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhất trong phong trào cần vương hoạt động trên một địa bàn rộng lớn bao gồm 4 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình do Phan Đình Phùng , Cao Thắng chỉ huy.
    Điều này chứng tỏ rằng thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm trong khuôn khổ ý thức hệ Tư Tưởng Phong Kiến đã chấm dứt, nó không phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ và trở lên lỗi thời về mặt lịch sử.
    Kết cục của các phong trào
    Thủ cấp của Dương Bé, Tư Bình và Đội Nhân bị xử trảm ngày 8 tháng Bảy năm 1908 trong vụ "Hà Thành đầu độc"
    Đại diện của xu hướng bạo động là Phan Bội Châu
    * Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản
    Đại diện của xu hướng cải cách là Phan Châu Trinh
    Nguyễn Tất Thành
    c) Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản
    - Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
    Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội đại biểu
    toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp. 12/1920
    Bản yêu sách 8 điểm

    Con
    ®­êng
    Cøu
    N­íc
    Cña
    NguyÔn
    ¸i
    Quèc

    Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành bắt đầu đi tìm con
    đườngcứu nước. Vừa lao động,học tập, quan sát, nghiên
    cứu lý luận và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

    Cách mạng tháng Mười Nga (1917) nổ ra và
    thắng lợi đã ảnh hưởng rất lớn đến Nguyễn ái Quốc .
    Tháng 7-1920, Nguyễn ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần
    thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc
    địa của Lênin.
    12/1920 Nguyễn ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành
    Và gia nhập Quốc tế Cộng sản
    12/1924 Nguyễn ái Quốc sáng lập Hội Việt Nam
    Cách mạng thanh niên
    Năm 1927 tác phẩm Đường cách mệnh được
    xuất bản. Đó là tập hợp các bài giảng của NAQ
    - Sự phát triển phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản.
    Trong những năm 1919-1925, phong trào công nhân diễn ra dưới các hình thức đình công, bãi công, tiêu biểu như các cuộc bãi công của công nhân Ba Son (Sài Gòn) do Tôn Đức Thắng tổ chức (1925) và cuộc bãi công của công nhân nhà máy sợi Nam Định ngày 30-4-1925, đòi chủ tư bản phải tăng lương, phải bỏ đánh đập, giãn đuổi thợ…
    Trong những năm 1926-1929, phong trào công nhân do đã có sự lãnh đạo của các tổ chức như Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Công hội đỏ và các tổ chức cộng sản ra đời từ năm 1929. Thì Các cuộc đấu tranh của công nhân lúc này đã mang tính chất chính trị rõ rệt; đã có sự liên kết giữa các nhà máy, các ngành và các địa phương. Phong trào công nhân có sức lôi cuốn phong trào dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.
    + Cũng vào thời gian này, phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là phong trào nông dân diễn ra ở nhiều nơi trong cả nước chống đế quốc và địa chủ. Năm 1927, nông dân các tỉnh Rạch Giá, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh… đấu tranh chống bọn địa chủ cướp đất, đòi chia ruộng công... Phong trào nông dân và phong trào công nhân đã hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến.
    - Với sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên. Nó lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản; làm dấy lên cao trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi khắp cả nước, trong đó giai cấp công nhân ngày càng trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Các tầng lớp nhân dân thì đã tin tưởng rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ giành cơm áo, tự do, độc lập cho dân tộc. Chính vì vậy mà lúc này đòi hỏi phải có tổ chức Đảng chính trị để lãnh đạo.

    Bắc Kỳ
    Đông Dương Cộng
    sản Đảng
    Nam Kỳ
    An Nam Cộng sản
    Đảng
    Trung Kỳ
    Đông Dương
    Cộng sản
    Liên Đoàn
    - Sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.
    Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản
    Thời gian
    Từ ngày 3
    đến 7-2-1930,
    họp tại bán
    đảo
    Cửu Long
    (Hương Cảng,
    Trung Quốc
    2 đại biểu
    Đông Dương
    CSĐ
    2 đại biểu
    An Nam CSĐ
    Chủ trì
    Đồng chí
    Nguyễn ái
    Quốc
    Tªn §¶ng
    Thèng nhÊt,
    lÊy tªn lµ
    §¶ng
    Céng s¶n
    ViÖt Nam
    Hội nghị thông qua
    Chánh cương vắn
    tắt, Sách lược
    vắn tắt, Chương
    trình tóm tắt,
    Điều lệ vắn
    tắt của Đảng,
    Điều lệ tóm tắt
    của các hội quần
    chúng...

    Con
    ®­êng
    Cøu
    N­íc
    Cña
    NguyÔn
    ¸i
    Quèc

    Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành bắt đầu đi tìm con
    đườngcứu nước. Vừa lao động,học tập, quan sát, nghiên
    cứu lý luận và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

    Cách mạng tháng Mười Nga (1917) nổ ra và
    thắng lợi đã ảnh hưởng rất lớn đến Nguyễn ái Quốc .
    Tháng 7-1920, Nguyễn ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần
    thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc
    địa của Lênin.
    12/1920 Nguyễn ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành
    Và gia nhập Quốc tế Cộng sản
    12/1924 Nguyễn ái Quốc sáng lập Hội Việt Nam
    Cách mạng thanh niên
    Năm 1927 tác phẩm Đường cách mệnh được
    xuất bản. Đó là tập hợp các bài giảng của NAQ
    2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
    Trong H?i ngh? thnh l?p D?ng C?ng s?n Vi?t Nam dó cú cỏc van ki?n du?c thụng qua nhu: Chỏnh cuong v?n t?t c?a D?ng, Sỏch lu?c v?n t?t c?a D?ng, Chuong trỡnh túm t?t c?a D?ng h?p thnh Cuong linh chớnh tr? d?u tiờn c?a D?ng C?ng s?n Vi?t Nam.
    - Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là:
    "tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"
    - Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng.
    Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông.

    Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v...) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8 giờ.
    Về văn hoá - xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền,v.v... phổ thông giáo dục theo công nông hoá
    Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh đổ bọn đại địa chủ và phong kiến; phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia; phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v... để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít nhất là làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (như Đảng lập hiến v.v.) thì phải đánh đổ.
    Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng; trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thoả hiệp.
    Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
    Thực tiễn quá trình vận động của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh rõ tính khoa học, cách mạng, tính đúng đắn và tiến bộ của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
    3. ý nghĩa của việc thành lập Đảng
    Là bước ngoặt trọng
    đại trong lịch sử cách
    Mạng Việt Nam, chấm
    dứt cuộc khủng hoảng
    về đường lối cứu nước
    Sự ra đời của Đảng
    ta gắn liền với tên
    tuổi Nguyễn ái Quốc-
    Hồ Chí Minh,người
    sáng lập, rèn luyện
    Đảng ta.

    III. Các kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam

    1. Đại hội lần thứ nhất(28 đến 31/3/1935)
    H?p t?i Ma Cao (Trung Qu?c). Tham d? D?i h?i cú 13 d?i bi?u. D?ng chớ Nguy?n i Qu?c dang cụng tỏc ? Qu?c t? C?ng s?n, d?ng chớ Lờ H?ng Phong d?n d?u don d?i bi?u D?ng ta di d? D?i h?i Qu?c t? C?ng s?n l?n th? VII, nờn khụng tham d? D?i h?i.
    D?i h?i d? ra 3 nhi?m v? ch? y?u c?a ton D?ng trong th?i gian tru?c m?t l c?ng c? v phỏt tri?n D?ng, tranh th? qu?n chỳng r?ng rói, ch?ng chi?n tranh d? qu?c.
    D?i h?i dó b?u ra Ban Ch?p hnh Trung uong D?ng, g?m 13 u? viờn (9 u? viờn chớnh th?c v 4 u? viờn d? khuy?t). D?ng chớ Lờ H?ng Phong du?c b?u lm T?ng Bớ thu.
    Ban Ch?p hnh Trung uong nh?t trớ c? d?ng chớ Nguy?n i Qu?c l d?i bi?u c?a D?ng bờn c?nh Qu?c t? C?ng s?n.

    2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (11 đến 19/02/1951)

    Họp tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên
    Về dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 766.349 đảng viên đang sinh hoạt trong các Đảng bộ toàn Đông Dương. Đến dự Đại hội còn có đại biểu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Xiêm (Thái Lan).
    Sau diễn văn khai mạc của đồng chí Tôn Đức Thắng, Đại hội đã nghiên cứu và thảo luận kỹ các báo cáo trình trước Đại hội. Đã nêu lên mấy nhiệm vụ chính của cách mạng Việt Nam là:
    1. Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
    2. Tổ chức Đảng Lao động Việt Nam.
    Đại hội đã thảo luận thông qua 12 chính sách của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; Điều lệ mới của Đảng Lao động Việt Nam.
    Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 19 uỷ viên chính thức và 10 uỷ viên dự khuyết.
    Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm có 07 uỷ viên chính thức và 01 uỷ viên dự khuyết; bầu đồng chí Hồ Chí Minh là Chủ tịch Đảng; đồng chí Trường Chinh là Tổng Bí thư.
    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta. Đường lối do Đại hội vạch ra đã đáp ứng yêu cầu trước mắt của kháng chiến và yêu cầu lâu dài của cách mạng, đồng thời đóng góp quý báu vào kho tàng lý luận cách mạng nước ta.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III(05 đến 10/9/1960)
    Đại hội được tiến hành ở Thủ đô Hà Nội.

    Có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước đã về dự Đại hội. Gần 20 đoàn đại biểu quốc tế, đại biểu của Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ và các đoàn thể trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tới dự Đại hội.

    Đại hội xác định: Nhiệm vụ cách mạng của nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay là: tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới.

    Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 47 uỷ viên chính thức và 31 uỷ viên dự khuyết.

    Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 11 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng và đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn bế mạc Đại hội. Người nói: "Đại hội lần thứ II đã đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chắc chắn rằng, Đại hội lần thứ III này sẽ là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà".

    2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (14 đến 20/12/1951)

    Đại hội được tổ chức tại Hà Nội sau đại thắng mùa xuân 1975.
    Có 1008 đại biểu thay mặt hơn 1.550.000 đảng viên trong cả nước dự Đại hội. Đến dự Đại hội còn có 29 đoàn đại biểu các đảng cộng sản, đảng công nhân, phong trào giải phóng dân tộc và các tổ chức quốc tế.
    Báo cáo chính trị của Đại hội nêu rõ ý nghĩa lịch sử thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các bài học kinh nghiệm lớn. Đại hội đã phân tích ba đặc điểm lớn của đất nước khi bước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta và đường lối trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xây dựng đảng, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…
    Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 101 uỷ viên chính thức và 32 uỷ viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm có 14 uỷ viên chính thức và 3 uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

    ĐH đổi tên Đảng Lao Động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

    ĐH còn bổ sung Điều lệ Đảng, thay chức danh Bí thư thứ nhất là Tổng Bí Thư, bỏ chức danh Chủ tịch Đảng. ĐH bầu BCH TƯ gồm 101 đồng chí chính thức, Bộ chính trị gồm 14 đồng chí. Đồng chí Lê Duẩn tiếp tục làm Tổng Bí Thư.

    2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (27 đến 31/3/1982)

    Đại hội họp tại Thủ đô Hà Nội.
    Tham dự Đại hội có 1033 đại biểu thay mặt 1.727.000 đảng viên hoạt động trong 35.146 đảng bộ cơ sở. Đến dự Đại hội có 47 đoàn đại biểu quốc tế.
    Báo cáo nêu rõ trong giai đoạn mới của cách mạng, Đảng phải lãnh đạo nhân dân ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: “Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Hai nhiệm vụ chiến lược đó quan hệ mật thiết với nhau.
    Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 116 uỷ viên chính thức và 36 uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết.
    Đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 7-1986, đồng chí Lê Duẩn từ trần, đồng chí Trưởng Chính được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

    2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (15 đến 18/12/1986)

    Đại hội họp tại Thủ đô Hà Nội.
    Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng. Đến dự Đại hội có 32 đoàn đại biểu quốc tế.
    Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học. Từ thực tiễn, Đại hội nêu lên những bài học quan trọng.
    Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình đất nước, tự phê bình về những sai lầm khuyết điểm, đổi mới tư duy lý luận trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn, Đại hội đề ra đường lối đổi mới.
    Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI gồm 124 uỷ viên chính thức và 49 uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ nhất bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ được giao trách nhiệm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

    Đại hội đề xướng và lãnh đạo thành công sự nghiệp Đổi mới. 

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII(24 đến 27/6/1991)
    Thông qua
    Cương lĩnh xây
    dựng đất nước
    trong thời kỳ quá
    độ lên CNXH.
    Chiến lược ổn
    định và phát triển
    KT- XH đến năm
    2000 và Nhiệm vụ
    KT-XH 5 năm
    1991 - 1995
    Quan niệm tổng
    quát nhất về
    XHCN ở Việt
    Nam, khẳng
    định chủ nghĩa
    Mác - Lênin,
    tư tưởng Hồ Chí
    Minh là nền
    tảng tư tưởng
    khẳng định phát
    triển nền kinh
    tế hàng hoá nhiều
    thành phần vận
    động theo cơ chế
    thị trường có sự
    quản lý của Nhà
    nước, theo định
    hướng XHCN
    Công cuộc đổi mới được Đảng ta đề ra từ Đại hội lần thứ VI (12/1986), bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhờ đó mà nước ta đã đứng vững và tiếp tục phát triển.
    Đại hội VIII Đảng (28-6 đến 1-7-1996)
    "Tiếp tục sự nghiệp
    đổi mới, đẩy mạnh
    CNH, HĐH vì mục
    tiêu dân giàu, nước
    mạnh, xã hội công
    bằng, văn minh
    vững bước đi lên
    CNXH"
    Đề ra nhiệm vụ KT- XH từ
    năm 1996 đến năm 2000: Tăng
    trưởng kinh tế nhanh; Giải quyết
    những bức xúc về xã hội; Bảo đảm
    an ninh quốc phòng;Cải thiện
    đời sống nhân dân; Nâng cao
    tích luỹ....vv
    Đại hội khẳng định: nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc
    Nhiệm vụ của đại hội là thực hiện đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá độ lên CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN.


    Đại hội IX của Đảng (19 đến 22/4/2001) đã kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII và khẳng định, trong 5 năm 1996-2000 toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã vượt qua những khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu quan trọng.



    Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội IX trong 5 năm (2001-2005), Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã khẳng định: toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã đạt những thành tựu rất quan trọng.
    Một là, nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và phát triển tương đối toàn diện. Tốc độ tăng trưởng GDP năm sau cao hơn năm trước. Bình quân trong 5 năm 2001-2005 đạt 7,51%, đạt mức kế hoạch đề ra.
    Hai là, văn hoá và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt, việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện.
    Ba là, chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng và an ninh được tăng cường; quan hệ đối ngoại có bước phát triển mới.
    Bốn là, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy.
    Năm là, công tác xây dựng Đảng đạt một số kết quả tích cực.
    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (18 đến 25-4-2006)
    Đây là Đại hội của trí tuệ, đổi mới, đoàn kết và phát triển bền vững. 
    Đảng viên được phép làm kinh tế tư nhân  
    Đại hội X cũng chỉ ra những khuyết điểm và yếu kém
    Một là, tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp.
    Hai là, cơ chế, chính sách về văn hoá - xã hội chậm đổi mới; nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng.
    Ba là, các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số hạn chế.
    Bốn là, tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân chậm đổi mới, bộ máy quản lý Nhà nước các cấp, nhất là ở cơ sở còn yếu kém; hoạt động của Quốc hội còn lúng túng; dân chủ trong xã hội còn bị vi phạm; kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi không nghiêm.
    Năm là, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu:Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở đảng sức chiến đấu yếu.
    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (12 đến 19/01/2011)
    Đây là Đại hội của trí tuệ, đổi mới, đoàn kết và phát triển bền vững.  
    Đại hội họp tại Thủ đô Hà Nội.
    Tham dự Đại hội có 1377 đại biểu thay mặt 3,6 triệu đảng viên.
    Đại hội lần thứ XI của Đảng có ý nghĩa trọng đại của đất nước ta. Trong bối cảnh có rất nhiều sự kiện quan trọng của đất nước cùng diễn ra, trong sự quan tâm của toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế, Đại hội XI của Đảng đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình theo đúng tiến độ, đúng quy chế và đạt được kết quả rất tốt đẹp.
    Đại hội đã tiến hành tổng kết 25 năm đổi mới, tổng kết chiến lược phát triển đất nước, thông qua chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020… đánh giá lại nhiệm kỳ vừa qua.
    Các đoàn đại biểu có hơn 1.400 ý kiến đóng góp, 27 ý kiến phát biểu tại hội trường và 54 bản tham luận. Đại hội đã thông qua các văn kiện với sự thống nhất cao.
    Về công tác đối ngoại, bên cạnh việc kế thừa quan điểm đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, có 2 điểm mới trong chủ trương đối ngoại: Triển khai đồng bộ, toàn diện các hoạt động đối ngoại và chủ động, tích cực trong hội nhập quốc tế.
    Tại Đại hội này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020, đánh giá lại kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X, bàn và quyết định những chủ trương, chính sách lớn trên tất cả các lĩnh vực nhằm đưa đất nước tiếp tục phát triển nhanh, bền vững.
    - Đại hội bầu 175 đồng chí Ủy viên Ban Chấp Hành trung Ương chính thức và 25 đồng chí Ủy viên Ban Chấp Hành trung Ương dự khuyết
    Bộ chính trị khóa XI có 14 đồng chí, trong đó có 9 đồng chí là Ủy viên Bộ Chính Trị khóa X tái cử và 5 đồng chí lần đầu tham gia gồm các đồng chí : Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Lê Hồng Anh, Lê Thanh Hải, Tô Huy Rứa, Phạm Quang Nghị, Trần Đại Quang, Tòng Thị Phóng, Ngô Văn Dụ, Đinh Thế Huynh, Nguyễn Xuân Phúc.

    Đồng chí nguyễn Phú Trọng được Ban Chấp Hành trung Ương tín nhiệm bầu làm Tổng Bí Thư Ban Chấp Hành trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa XI.





    Xin cảm ơn các đồng chí
     
    Gửi ý kiến
    print