Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Nhiệm vụ, yêu cầu đối với hệ thống làm mat

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Cơ Khí 4
    Người gửi: Phạm Chí Dự
    Ngày gửi: 00h:08' 23-03-2013
    Dung lượng: 4.1 MB
    Số lượt tải: 152
    Số lượt thích: 0 người
    Trong quá trình làm việc của động cơ, khi nhiên liệu cháy trong xilanh động cơ có một lượng nhiệt lớn tỏa ra, một phần chuyển thành công, một phần còn lại tỏa ra ngoài không khí, hoặc các chi tiết tiếp xúc với khí cháy tiếp nhận (xilanh, piston, nắp máy,….). Ngoài ra nhiệt lượng con sinh ra do ma sát giữa các bề mặt làm việc của các chhi tiết trong động cơ.
    Như vậy nếu không làm mát hay làm mát không đủ sức thì các chi tiết sẽ nóng lên quá nhiệt độ cho phép gây ra nhiều tác hại như : ứng suất nhiệt lớn, sức bền giảm dẫn đến làm hỏng các chi tiết, tăng tổn thất ma sát vì nhiệt độ lớn làm mất tác dung bôi trơn của dầu nhờn. Ở nhiệt độ (200-3000C) dầu nhớt sẽ bi bốc cháy, nhóm piston có thể bị bó kẹt trong xilanh vì giản nở, hệ số nạp ɳv sẽ giảm, dễ gây cháy kích nổ ở động cơ xăng.
    Vì vậy hệ thống làm mát giữ một vai trò quan trọng giúp động cơ làm việc ổn định.
    Nhiệm vụ, yêu cầu đối với hệ thống làm mát.

    Hệ thống làm mát có tác dụng làm mát động cơ trong quá trình làm việc.
    Vì trong quá trình làm việc nhiệt lượng sinh ra trong quá trình cháy chỉ được sử dụng khoản 25% để chuyển thành cơ năng, khoản 45% mất theo khói xả và ma sát, còn lại 30% mật qua quá trình làm mát động cơ.
    Hệ thống làm mát phải giữ cho nhiệt độ các chi tiết động cơ ở một nhiệt độ nhất định không được quá nóng cũng không quá lạnh.
    Các phương pháp làm mát.

    Hiện nay có hai phương pháp làm mát được ứng dụng rộng rãi đó là làm mát bằng không khí và làm mát bằng chất lỏng:
    Đối với hệ thống làm mát bằng không khí có cấu tạo đơn giản hơn hệ thống làm mát bằng nước (không cần két nước, bơm nước, ống dẫn nước…) giảm trọng lượng động cơ và dễ sử dụng, nhưng khó điều chỉnh nhiệt độ động cơ khi tải trọng thay đổi hiệu quả làm mát thấp

    Hệ thống làm mát bằng chất lỏng (như nước, dầu hay nhiên liệu) nhưng chủ yếu làm mát bằng nước, một số động cơ công suất nhỏ, động cơ hai kì làm mát kiểu không khí. Động cơ ô tô, máy kéo hiện nay sử dụng sử dụng hệ thống làm mát tuần hoàn cưỡng bức một vòng kín vì nó có nhiều ưu điểm như áp suất nước cao, nhiệt độ bốc hơi cao, vì vậy lượng nước bốc hơi chậm, hao nước giảm từ 6 đến 8 lần so với kiểu hở.
    Hệ thống làm mát bằng nước:

    Hệ thống làm mát bằng nước có đặc điểm là hiệu quả làm mát cao nhưng trong quá trình làm việc đòi hỏi phải bổ sung thêm nước làm mát, vì nước làm trung gian tải nhiệt cho các chi tiết nên trong quá tring động cơ làm việc một phần đã bị bốc hơi.
    Tùy thuộc vào tính chất lưu động của nước trong hệ thống làm mát mà ta co thể chia làm các phương án sao:
    Hệ thống làm mát kiểu bốc hơi
    Hệ thống làm mát bằng nước kiểu bốc hơi là loại đơn giản nhất. Hệ thống này không cần bơm quạt.
    Bộ phận chứa nước gồm hai phần : khoang chứa bao quanh thành xylanh, khoang nắp xylanh và thùng chứa nước bốc hơi ở phía trên.







    Hình 2.1: Hệ thống làm mát kiểu bốc hơi
    1.thân máy ; 2.Piiston ; 3.Thanh truyền ; 4.Hộp cacte trục khuỷu ; 5.thùng nhiên liệu ; 6.Bình bốc hơi ; 7.Nắp xylanh.
    Nguyên lý làm việc
    Khi động cơ làm việc, nước nhận nhiệt của thành buồn cháy sẽ tạo thành bọt nước, nổi lên mặt thoáng của thùng chứa và bốc hơi ra ngoài khí trời. Nước nguội trong thùng chứa có tỷ trọng lớn sẽ chìm xuống điền chỗ cho khí nóng đã nổi lên , do đó tạo thành lưu động đối lưu tự nhiên. Căn cứ vào lượng nhiệt của động cơ để thiết kế hệ thống kiểu bốc hơi.
    Do làm mát kiểu bốc hơi nên nước trong thùng chứa sẽ giảm nhanh, cần phải bổ sung nước thường xuyên và kịp thời. Vì vậy kiểu làm mát này không thít hợp cho các động cơ dùng trên các phương tiện giao thông vận tải mà thường dùng cho các động cơ đốt trong có kiểu xylanh nằm ngang trên các máy nông nghiệp cỡ nhỏ.
    Hệ thống làm mát kiểu đối lưu tự nhiên.

    Trong hệ thống làm mát kiểu đối lưu tự nhiên, nước lưu động nhờ chênh lệch áp lực giữa hai cột nước nóng và lạnh.
    Trong hệ thống làm mát kiểu đối lưu tự nhiên, nước lưu động tuần hoàn nhờ chênh áp lực của hai cột nước nóng và nguội , mà không cần bơm. Cột nước nóng trong động cơ và cột nước nguội trong thùng chứa hoặc trong két nước. Nước nhận nhiệt của xylanh thân máy 1 (trên hình 2.2) khối lượng riêng giảm nên nước lên trên. Trong khoang của nắp xylanh 3, nước tiếp tục nhận nhiệt của các chi tiết bao quanh buồn cháy, nhiệt độ tiếp tục tăng va tiếp tục giảm, nước tiếp tục nổi lên theo đường dẫn ra khoang phía trên của két làm mát 6. Quạt gió 8 được dẫn động bằng puli từ trục khuỷu của động cơ hút không khí qua két. Do đó, nước trong két được làm mát giảm nên nước sẽ chìm xuống dưới của két và từ đây đi vào thân máy, thực hiện một vòng tuần hoàn.
    Cấu tạo hệ thống làm mát đối lưu tự nhiên








    Hình 2.2:Hệ thống làm mát bằng nước đối lưu tự nhiên.
    1.Thân máy ; 2.Xylanh ; 3.Nắp xylanh ; 4.Đường nước ra két ; 5.Nắp đổ rót nước; 6.Két nước ; 7.Không khí làm mát ;8.Quạt gió ;9.Đường nước làm mát vào động cơ.
    Hệ thống làm mát cưỡng bức tuần hoàn kín một vòng.

    Hệ thống làm mát tuần hoàn cưỡng bức để khắc phục nhược điểm trong hệ thống làm mát đối lưu. Trong hệ thống này, nước lưu động không phải do hiện tượng đối lưu tự nhiên mà do sức đẩy của một cột nước do bơm tại ra .
    Hệ thống làm mát cưỡng bức một vòng kín, nước sau khi qua két làm mát lại trở về động cơ nên đỡ phải bổ sung nước, tận dụng lại được nước để làm mát tiếp cho động cơ.
    Ưu điểm này rất thuận lợi cho các loại xe đường dài, nhất là các vùng thiếu nguồn nước. Ngày nay hệ thống làm mát kiểu cưỡng bức một vòng kín được sử dung khá phổ biến trên động cơ ô tô, máy kéo và động cơ tĩnh tại.
    Trong động cơ tàu thủy, có thể dùng hai kiểu tuần hoàn làm mát :hệ thống làm mát kiểu một vòng tuần hoàn hở và hệ thống làm mát kiểu hai vòng.


    Cấu tạo hệ thống làm mát cưỡng bức một vòng tuần hoàn






    Hình 2.4:Hệ thống làm mát cưỡng bức kiểu hai vòng tuần hoàn.
    Thân máy ;2.Nắp xylanh ;3.Van hằng nhiệt ;4.Két làm mát 5.đường nước ra vòng hở ;6.bơm vòng hở ;7.Đường nước vào vòng hở ;8.bơm nước vòng kín.

    Nguyên lý làm việc như sau:
    Nước ngọt làm mát động cơ đi theo chu trình kín bơm nước 8 đến động cơ đến làm mát thân máy và nắp xylanh rồi đến két làm mát nước ngọt 4 Nước ngọt trong hệ thống kín được làm mát bởi nước ngoài tàu bơm vào qua bơm 6 qua lưới lọc, qua các bình làm mát dầu, qua két làm mát 4 làm mát nước ngọt rồi theo đường ống 5 đổ ra ngoài tàu.

    Khi động cơ mới khởi động, nhiệt độ nước trong hệ thống tuần hoàn kín còn thấp, van hằng nhiệt 3 đóng đường nước đi qua két làm mát nước ngọt ..Vì vậy, nước làm mát ở vòng làm mát ngoài, nước được hút từ bơm 6 qua két làm mát 4 theo đường ống 5 rơi ra ngoài.Van hằng nhiệt 3 có thể đặt trên mạch nước ngọt để khi nhiệt độ nước làm mát thấp , nó sẽ đóng đường nước đi vào két làm mát 4. Lúc này nước ngọt có nhiệt độ thấp sau khi làm mát động cơ qua van hằng nhiệt 3 rồi thheo đường ống đi vào bơm nước ngọt 8 để bơm trở lại động cơ.
    Hệ thống làm mát một vòng hở.

    Hệ thống làm mát kiểu một vòng hở không khác nhiều so với hệ thống làm mát cưỡng bức một vòng kín. Trong hệ thống hình 2.6 nước làm mát là nước sông, nước biển, đuộc bơm 6 hút vào làm mát động cơ sau đó theo đường ống 4 đổ ra sông, ra biển. Ưu điểm của hệ thống này là đơn giản.








    Hình 2.5:Hệ thống làm mát một vòng hở.
    1.Thân máy ; 2.Nắp máy ;3.Van hằng nhiệt ;4.Đường nước 5.Lọc lưới ;6.Bơm nước.

    Hệ thống làm mát cưỡng bức nhiệt độ cao kiểu bốc hơi bên ngoài.













    Hình 2.6 :Sơ độ hệ thống làm mát cưỡng bức nhiệt độ cao kiểu bốc hơi bên ngoài.
    1.Động cơ ;2.Van tiết lưu ;3.Bộ tách hơi ;4.Bộ ngưng tụ hơi 5.Quạt gió;6.Bơm nước.
    Hệ thống làm mát cưỡng bức nhiệt độ cao kiểu bốc hơi bên ngoài.














    Trong hệ thống này có hai vùng áp suất khác nhau (trên hình 2.6 ) . Vùng thứ nhất có áp suất p1 truyền từ bộ tách hơi 3 qua bộ ngưng 4 đến bơm tuần hoàn 6. Quạt gió 5 dùng để quạt mát bộ ngưng tụ 4. Vùng thứ 2 có áp suất p2 > p1 truyền từ bơm tuần hoàn qua động cơ đến bơm tiết lưu 2 của bình tách hơi 3, độ chênh áp suất =p2-p1 được điều chỉnh bởi bơm tiết lưu 2. Nước trong vùng có áp suất cao p2 không sôi mà chỉ nóng lên (từ nhiệt độ tvào đến nhiệt độ tra ). Áp suất p2 tương ứng với nhiệt độ sôi t2> tra nên nước chỉ sôi ở bộ tách hơi có áp suất p1 Hệ thống làm mát cưỡng bức nhiệt độ cao có lợi dụng nhiệt của hơi nước và nhiệt của khí thải.









    Hình 2.7: Sơ đồ hệ thống làm mát nhiệt độ cao có lợi dụng nhiệt của hơi nước và nhiệt của khí thải.
    1.Động cơ; 2.tuốc bin tăng áp ;3.Đường thải ;4.Bộ tăng nhiệt cho nước ;5.Bộ tăng nhiệt cho nước ra ;6.Bộ tăng nhiệt cho nước trước khi vào bộ tách nước 7,9.Van tiết lưu ;12,14,15,16,.bơm nước ;13.Thùng chứa nước.
    Ưu điểm
    Có thể nâng cao hiệu suất làm việc của động cơ lên 6% đến 7%, dùng hệ thống làm mát ở nhiệt độ cao thì hiệu suất đạt 0,46 -0,47 trong khi đó dùng hệ thống làm mát thường chỉ đật 0,4- 0,42.
    Giảm được lượng tiêu hao nước và không khí lám mát, do đó rút gọn được kích thước bộ tản nhiệt.
    Đốt cháy được nhiều lưu huỳnh trong nhiên liệu nặng .
    Nhược điểm
    Nhiệt độ làm việc của chi tiết máy cao. Do đó cần đảm bảo khe hở làm việc các chi tiết, dùng dầu bôi trơn phải có tính chịu nhiêt tốt hơn. Ngoài ra đối với động cơ xăng còn chú ý dến hiện tượng kích nổ. Kết cấu của hệ thống làm mát phải đảm bảo an toàn.




    Hệ thống làm mát bằng không khí.

    Hệ thống làm mát kiểu tự nhiên thường có hai loại : làm mát bằng không khí kiểu tự nhiên và làm mát theo kiểu cưỡng bức (dùng quạt gió ).Tùy vào đặc điểm từng động cơ mà trang bị hệ thống hợp lý :
    Hệ thống làm mát bằng không khí kiểu đối lưu tự nhiên.
    Hệ thống làm mát kiểu đối lưu tự nhiên có ưu điểm là rất đơn giản. Nó chỉ gồm các phiến tản nhiệt được bố trí trên nắp xylanh và thân máy.
    Hệ thống làm mát không khí kiểu cưỡng bức.
    Kiểu hệ thống làm mát không khí cưỡng bức có ưu điểm lớn là đảm bảo cường độ làm mát của động cơ, không phụ thuộc vào tốc độ di chuyển của xe dù cho xe đứng một chỗ, vẫn bảm bảo tính làm mát tốt.
    Nhược điểm của hệ thống làm mát kiểu cưỡng bức là có kết cấu thân máy và nắp xylanh phức tạp, khó chế tạo
    Sơ đồ của hệ thống làm mát bằng không khí kiểu cưỡng bức:






    Hình 2.8: Hệ thồng làm mát bằng không khí

    1.xylanh; 2.quạt; 3.nắp xylanh; 4.cái chụp; 5.cánh tản nhiệt.
    KẾT CẤU CÁC BỘ PHẬN CHÍNH CỦA HỆ THỐNG LÀM MÁT BẰNG NƯỚC.

    Kết cấu két làm mát nước:
    Két làm mát được chia làm hai loại : nước-nước và két làm mát kiểu nước-không khí .
    Két làm mát kiểu nước-nước: được dùng cho động cơ có hai vòng tuần hoàn .
    Két làm mát kiểu nước không khí: thường dùng trên các loại ô tô máy kéo.
    Két làm mát kiểu nước-không khí
    Két làm mát kiểu nước-nước
    Đánh giá chất lượng két lám mát bằng hiệu quả làm mát cao tức hệ số truyền cảu bộ phận tản nhiệt lớn, công suất tiêu hao ít để dẫn động bơm nước, quạt gió. Cả hai yếu tố đó phụ thuộc 3 yếu tố sau:

    Khả năng dẫn nhiệt của vật liệu làm cánh tản nhiệt.
    Khả năng truyền nhiệt đối lưu của két.
    Kết cáu của két.

    Kết cấu của bơm nước


    Bơm nước có tác dụng tạo một áp lực để tăng tốc độ lưu thông của nước làm mát. Bơm nước có nhiện vụ cung cấp nước cho hệ thống làm mát với lưu lượng và áp suất nhất định. Các loại bơm thường dùng trong hệ thống làm mát bao gồm: bơm ly tâm,bơm piston, bơm bánh răng, bơm guồng,…lần lượt được giới thiệu ở phần sau
    Bơm ly tâm.
    Bơm ly tâm được dùng phổ biến trong hệ thống làm mát động cơ.
    Nguyên lý làm việc là lợi dụng lực ly tâm giữa các cánh để dồn nước từ trong ra ngoài rồi đi làm mát.






    Cấu tạo bơm ly tâm
    Hình 3.4: Bơm nước kiểu ly tâm
    1,8.phốt chắn ;2.trục bơm ;3.Cánh bơm ;
    4.Nắp bơm ;5.Thân bơm ;6.Ổ bi ;7.Puli.
    Trên hình 2.12 giới thiệu một loại bơm nước ly tâm dùng trên ô tô lắp ở mặt đầu thân máy và dẫn động bơm quay bằng puli 7. Nắp bơm 4 và thân bơm 5 được làm bằng gang, cánh bơm 3 thường được chế tạo bằng đồng hoặc chất dẻo.
    Bơm piston

    Bơm nước piston chỉ được dùng trong hệ thống làm mát của động cơ tàu thủy tốc độ thấp.
    Ở động cơ tốc độ cao vì tránh lực quán tính quá lớn của các khối lượng chuyển động của bơm và để tránh hiện tượng va dập thủy lực cho chu trình cấp nước không liên tục của bơm nên người ta ít dùng loại này.
    Hình 3.6: Kết cấu bơm nước kiểu piston
    1,3.Xylanh dẫn hướng 2.piston ; 4.Vỏ bơm 5.Thanh truyền ; 6.Trục khuỷu của bơm piston 7,8.Van nước ; 9.Lò xo van nước ; 10.Nắp van.
    Nguyên lý làm việc bơm piston
    Nguyên lý hoạt động: Piston bơm 2 bằng đồng chuyền động trong xylanh dẫn hướng 1,3 của vỏ bơm 4. Piston nối với thanh truyền 5 và chuyển động nhờ trục khuỷu 6. Khi piston 2 đi xuống , nước sẽ đi qua van 7 vào khoang chứa bên trên piston 2. Khi piston đi lên , nước trong khoang bị đẩy qua van 8 đi vào hệ thống làm mát.
    Bơm bánh răng.
    Trên tàu thủy cũng thường dùng bơm bánh răng trong hệ thống làm mát động cơ. Nó có ưu điểm gọn nhẹ, song khi làm việc với nước tiếp xúc với nhiếu cặn bẩn nên bánh răng mau mòn.Vì vậy, người ta bố trí trong trường hợp này một bánh cặp răng truyền lực ở vỏ ngoài của bơm, khi dó các bánh răng trong sẽ không chịu lực, và để giảm mày mòn các bánh răng người ta chế tạo một trong hai bánh răng bắng cao su lưu hóa.
    Sơ đồ cấu tạo

    Hình 3.7:kết cấu bơm nước kiểu bánh răng
    1.Trục truyền động bơm ;2,3.bạc ;4.Đệm ;5.Vòng cao su 6.Ren hồi dầu 7.Vành chắn dầu ;8.Bánh răng ;9.Ổ bi 10.Phốt bao kinh ;11.Bánh răng bị động.
    Ở hình 3.7. Kết cấu của hệ thống bơm dùng trên động cơ tàu thủy. Bơm quay nhờ bánh răng 8 ăn khớp với bánh răng truyền động từ trục khuỷu. Trục truyền động bơm 1 một đầu dẫn động đặt trên ổ bi cầu 9, còn ở đầu kia lắp bánh răng bơm tựa lên hai bạc 2 và 3, các bạc này được bôi trơn nhờ đệm 4 và vòng cao su 5. Còn bao kín dầu bôi trơn ổ bi bằng vành chắn 7 và ren dầu hồi 6.
    Bơm cánh hút

    Bơm cánh hút thường được dùng cho mạch ngoài động cơ tàu thủy. Hút nước từ bên ngoài vỏ tàu để làm mát nước ngọt ở mạch trong của hệ thống làm mát. Kết cấu và nguyên lý của bơm cánh hút được thể hiện ở hình 3.8.
    Hình 3.8 :Sơ đồ bơm cánh hút
    1,4.Ổ trục bơm ;2,3.Hai nửa thân bơm ;5.Bánh công tác của bơm ;6,7 .Rảnh chứa nước ‘8.Trục bơm ;9.Bánh răng dẫn đông bơm ;10.Cửa nước vào bơm ;11.Cửa nước ra bơm.
    Bơm cánh hút

    Kết cấu của bơm nước gồm: nữa trước 3 và nữa sau 2. Hai nữa vỏ bơm lắp với hai nắp ở trục 1 và 4 bằng các bu lông. Bánh công tác 5 gắn cố định trên trục trục 8 này dẫn động bằng bánh răng 9. Nữa vỏ sau có cửa vào 10 nữa vỏ sau có cửa ra 11. Bên trong mỗi nữa vó có một rãnh vòng cung (rãnh 6 va 7).
    Nguyên lý làm việc
    Ban đầu, dung tích công tác giữa hai cánh được mồi đầy nước ở vị trí 1. Khi cánh bơm quay thì nước nằm giữa hai cánh bơm cũng dịch chuyển theo tới vị trí 2. Do chiều sâu của rãnh 6 và 7 tăng lên nên thể tích nước cũng tăng theo. Nước được hút vào qua cửa 10: cánh quay tiếp tục thì chiều sâu của rãnh sẽ giảm nước sẽ bị nén và đi theo cửa 11 đi vào hệ thống làm mát .
    Nhược điểm lớn nhất của bơm cánh hút là hiệu suất thấp .
    Bơm guồng



    Hình 3.9: Sơ đồ kết cấu bơm guồng
    1.Nắp bơm ; 2.Bánh công tác ; 3.Vỏ bơm ; 4.Cửa thoát 5.Rãnh xoắn ốc ; 6.Rãnh guồng ; 7.Cánh guồng ; 8.Cửa hút

    Cũng như loại bơm cánh hút, bơm guồng dùng để cấp nước cho hệ thống làm mát tuần hoàn hở
    Bơm guồng

    Hình 3.9 giới thiệu sơ đồ kết cấu bơm guồng ,bơm gồm có : bánh công tác 2 (bánh guồng) quay trong vỏ 3 và nắp 1. Trên bánh công tác người ta phay các rãnh hướng kính 6. Vỏ và nắp có rãnh xoáy 5 thông với cửa hút 8 và cửa thoát 4. Khi bánh công tác quay, nước vào các rãnh và dưới tác dụng của lực ly tâm, các phần tử nước dịch chuyển từ trong ra ngoài và quay theo cánh 7 rồi theo rãnh xoắn ốc 5 trên vỏ bơm qua cửa thoát 4 vào hệ thống lám mát của động cơ.

    Kết cấu quạt gió

    Trong hệ thống làm mát quạt gió dùng để tăng tốc độ của không khí qua két nhằm nâng cao hiệu quả làm mát .
    Quạt gió có thể được dẫn động bằng cơ khí hoặc bằng điện .
    Kết cấu quạt gió
    Hình_3.10: Quạt gió dẫn động cơ khí.
    Hình 3.11: Quạt gió dẫn động bằng điện.
    Hình 3.12: Quạt Gió có khớp chất lỏng.
    Hình 3.13: Khớp chất lỏng.
    Van hằng nhiệt
    Van hằng nhiệt hoạt động tùy theo nhiệt độ dùng để điều chỉnh nhiệt độ nước làm mát bằng cánh đóng mở dường nước đi làm mát động cơ. Van hằng nhiệt được lắp trên đường nước giữa két nước và thân máy, van hằng nhiệt đóng hay mở tùy thuộc vào nhiệt độ nước làm mát. Khi nhiệt độ động cơ còn thấp van hằng nhiệt đóng, khi nhiệt độ nóng lên van mở, điều đó cho phép hay không cho phép nước đi qua két.
    Hình 3.14:Van hằng nhiệt
    Quy trình tháo lắp, kiểm tra, sửa chữa các bộ trong hệ thống làm mát GM 6-71.

    Tháo lắp kiểm tra bơm nước ngọt:
    Tháo từ động cơ:
    Mở van xả, nước xả nước hết trong hệ thống.
    Nới hai vít kẹp ống cao su, đẩy ống cao su sát vào nắp bơm.
    Tháo hai bulông bắt vành nối ra của bơm với thân máy. Đấy vành và đệm cao su sát vào ống ra của bơm.
    Tháo ba bu lông bắt nắp bơm vào thân bơm gió,lấy bơm và đệm kín ra ngoài. Tháo ra chi tiết.
    Tháo nắp bơm và đệm kín ra ngoài .
    Đặt đế bơm lên bàn ép, ép trục ra khỏi cánh bơm.
    Cách ép trục ra khỏi cánh bơm.
    Đặt đế bơm lên bàn ép, sao cho rờ trên thân bơm chịu vào mặt phẳng đế bàn ép.
    Dùng cây lói có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng đường kính trục bơm.
    Ép trục bơm từ từ ra khỏi thân bơm.
    Chú ý: bàn ép cây lói và trục bơm phải đồng tâm.
    Lấy trục, ổ bi và khớp truyền cơ ra khỏi thân bơm và cánh bơm.
    Lấy cánh bơm và bộ đệm kín ra khỏi thân bơm.
    Nếu duối thép trên thân bơm mòn quá nhiều thì ta ép đuối thép ra khỏi thân bơm.
    Chú ý : Ép từ phía ổ bi.
    Lấy đĩa chận nước ra ngoài .
    Nếu cần có thể ép khớp truyền cơ và ổ bi ra khỏi trục.
    Các chi tiết bơm nước ngọt.
    Phương pháp lắp:
    Lắp đuối thép vào thân bơm.
    Gắn đĩa chận nước vào trục bơm cách ổ bi khoảng 3/16’’.
    Đật bơm lên bàn ép, ép trục và ổ bi vào thân bơm.
    Chú ý : Vành ngoài của ổ bi vừa chạm sát vào gờ trong thân bơm.
    Bôi một lớp mỡ hoặc nhớt lên bề mặt của đuối thép.
    Chú ý : Gắn đầy đủ chi tiết, đúng vị trí, tránh làm hư hỏng vòng carbon .
    Ép cánh bơm vào trục bơm, cánh bơm cánh mặt phẳng thân bơm khoảng 0.25’’ đến 0.72’’.
    Gắn nắp vào thân bơm, kiểm tra sự quay trơn của trục trước khi lắp vào động cơ.
    Lắp bơm vào động cơ.
    Chú ý: Vành nối và đệm kín.
    Kiểm tra sửa chữa.
    Rửa sạch các chi tiết bằng dầu diesel và thổi khô bằng gió nén, ngoại trừ ổ bi,trục bơm và vòng đệm làm kín nước.
    Kiểm tra ổ bi: Dùng tay quay vài vòng yêu cầu ổ bi không ngưng lại do đât cát hoặc bị quá mòn. Nếu mon thì thay mới.
    Kiểm tra đệm làm kín nước: Bề mặt vòng carbon không quá mòn, nức rổ. Vòng carbon bị mòn hoặc có rãnh không nhiều lắm thì ta có thể mài rà lại với giấy nhám mịn trên mặt phẳng bàn map.
    Tháo lấp kiểm tra bơm nước biển.
    Sơ đồ cấu tạo.
    Sơ đồ cấu tạo bơm nước biển lắp trên động cơ GM6-71.
    Tháo từ động cơ.
    Xả sạch hệ thống nuốc biển.
    Nới vít kẹp ống bố, tách ống nước hút và thoát ra khỏi bơm.
    Tháo Bulông bắt bơm với vỏ bọc bánh đà (clê 9/16”), lấy bơm ra khỏi động cơ.
    Chú ý: Dùng vải sạch đậy kín miệng nắp vỏ bọc bánh đà khi đã tháo bơm, không cho vật
    Tháo ra chi tiết.
    Tháo đai ốc đầu trục cảo lấy bánh răng ra ngoài.
    Tháo Bulông bắt khớp nối ở đầu vào và ra của bơm (dùng clê 1/2"). Láy khớp nối đệm kín ra ngoài.
    Tháo nắp bơm và đệm kín ra ngoài (clê 7/16”).
    Tháo khoen hãm đầu trục lấy cánh bơm, bộ đệm kín ra ngoài .
    Tháo vòng chặn ổ bi kha khỏi trong thân bơm.
    Đặt bơm lên bàn ép, ép trục bơm và ổ bi ra khỏi vỏ bơm.
    Chú ý : đầu trục có rãnh then quay xuống dưới.
    Lấy vòng ngăn nước ra khỏi trục.
    Lấy vòng đệm kín, ổ bi đôi, vòng lót bằng nỉ, đĩa mòn ra khỏi thân bơm.
    Tách vòng chặn ổ bi ra khỏi rảnh trên trục. Lấy ổ bi.
    Cấu tạo chi tiết bơm nước biển
    Cánh bơm nước biển.
    Phương pháp lắp.
    Được hực hiện ngược lại với khi tháo nhưng cần chú ý :
    Vệ sinh sạch sẽ các chi tiết.
    Chi tiết lắp vào phải đầy đủ đúng vị trí.
    Bơm mỡ vào ổ bi đôi trước khi lắp.
    Đai ốc đầu trục phải xiết đúng lực khoảng 25-30 lbs-ft. Nếu lực xiết quá lớn sẽ gây xoắn trục bơm.
    Lắp bơm lên động cơ.
    Đối với bơm có ghi RH ở miệng ống nước thoát thì trục bơm quay cùng chiều kim đồng hồ, LH thì trục bơm quay ngược chiều kim đồng hồ.
    Sau khi lắp bơm lên động cơ ta phải kiểm tra sự làm việc của bơm bằng cách cho động cơ làm việc và xem đường nước thoát, nếu có nước thì bơm hoạt động bình thường .
    Kiểm tra sửa chữa.
    Dùng mắt quan sát vỏ bơm có nứt bể không, nếu hư hỏng nhẹ thì có thể hàn đấp gia công nguội lại: có thể hàn thau hoặc hàn gió đá. Nếu hư hỏng nặng thì thay mới.
    Mặt phẳng lắp ghép giữa nắp, thân và duôi bơm phải phẳng, các đệm không bị cong vênh.
    Mặt phẳng bên trong vỏ bơm không bị cào xước, nếu có gờ không nhiều lắm thì tiện phẳng rồi mài rà lại trên mặt phẳng bàn map với giấy nhám mịn và dầu diesel.
    Cánh bơm phải còn tốt không bị gãy. Nếu cánh bơm bị gãy thì thay mới.
    Khoen hãm bạc đạn gãy thì thay mới.
    Vòng lót nỉ, vòng ngăn nước: bị nhảo rách thì thay mới.
    Ren và rảnh then đầu trục bị mòn nhiều thì có thê hàn đấp gia công lại.
    Vòng cacbon bị bể thì thay vòng cacbon mới. Ta có thể gia công lại vòng cacbon bằng cách: dùng vỏ bình đen tiện lại vòng cacbon mới sao cho phù hợp với yêu cầu bơm hiện có.
    Ổ bi phải quay trơn nhẹ nhàng, không bị khựng lại do đất cát hoặc bi quá mòn.
    SƠ ĐỒ HỆ THỐNG LÀM MÁT ĐỘNG CƠ DIESEL TÀU THỦY.
    Sơ đồ nguyên lý.
    Hệ thống làm mát động cơ tàu thủy
    Nguyên lý: Nước ngọt tuần hoàn thành vòng kín làm mát động cơ. Nước biển làm mát lại nước ngọt (nước biển tuần hoàn hở).
    Nước ngọt được bơm nước ngọt hút từ thùng chứa đi làm mát động cơ và một số bộ phận khác rồi đến bộ hoán nhiệt. Ở đây nước ngọt sau khi làm mát động cơ đang ở nhiệt độ cao, được nước biển hấp thụ nhiệt độ làm mát lại. Sau khi được làm mát nước ngọt tiếp tục được bơm hút đi làm mát động cơ.
    Nước biển tới bộ hoán nhiệt là nhờ bơm nước biển hút nước từ ngoài tàu qua lưới lọc, van một chiều và bầu lọc đưa tới bộ hoán nhiệt, ở đây nước biển làm mát nước ngọt và sau khi làm mát sẽ thoát ra bộ thoát khí xả, có tác dụng làm mát bộ thoát và giảm ồn.
    Hệ thống làm mát động cơ GM6-71.
    Hệ thống làm mát động cơ GM6-71
    Nguyên lý làm việc
    Trong hệ thống làm mát kín nước ngọt làm mát động cơ chảy thành một vòng tuần hoàn kín. Ở hệ thống này chỉ cần châm thêm nước khi bị rò rỉ.
    Hệ thống nước ngọt: Nước ngọt được bơm nước ngọt hút vào làm mát xylanh động cơ đến nắp máy rồi tới ống góp từ đây nước vào bộ hoán nhiệt để được làm mát dầu bôi trơn. Từ ống góp một phần nước đi làm mát đường ống xả dộng cơ.
    Hệ thống nước ngoài tàu: Nước ngoài tàu qua lưới lọc, qua van thông biển, qua bầu lọc, van một chiều, tới bơm nước biển, nước đi qua bộ hoán nhiệt làm mát cho nước ngọt rồi đến bộ thoát làm giảm âm và thoát ra ngoài cùng khí xả.


     
    Gửi ý kiến
    print

    Nhấn Esc để đóng