Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Bài giảng Xã Hội Học Nông Thôn

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: St
    Người gửi: Lê Chí Hùng Cường
    Ngày gửi: 02h:09' 07-12-2009
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 850
    Số lượt thích: 0 người
    đại học đà lạt
    ban xã hội học
    -------------------------
    môn học
    xã hội học nông thôn
    giảng viên:
    ts. Trương xuân trường


    Địa chỉ liên lạc:
    Viện Xã hội học, 27-Trần Xuân Soạn
    DĐ: 0913536733; CĐ: 04.9725054
    E-mail: truongxhh@yahoo.com
    đề cương tóm tắt về xã hội học nông thôn
    Mục đích: Giúp sinh viên nắm được kiến thức nhập
    môn, nội dung và ứng dụng về môn học
    XHH nông thôn.
    Số tiết: 45 tiết
    Phương pháp truyền đạt:
    Thuyết trình, Thảo luận,
    Làm bài tập ứng dụng
    Tài liệu chính:

    Tô Duy Hợp (chọn lọc và giới thiệu):
    Xã hội học nông thôn - Tài liệu tham khảo nước ngoài. Nxb Khoa học xã hội, Hà nội 1997.
    Tống Văn Chung:
    Xã hội học nông thôn. Nxb Đại học Quốc gia Hà nội, 2001.
    Bùi Quang Dũng:
    Xã hội học nông thôn. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007.
    Viện Xã hội học:
    Những nghiên cứu chọn lọc về Xã hội học nông thôn. Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 2004
    Tài liệu tham khảo
    Bùi Xuân Đính, 1995. Lệ làng phép nước, Nxb Pháp lý, Hà nội, 1995.
    Chử Văn Lâm chủ biên, 1991. ảnh hưởng của các yếu tố truyền thống đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp, Nxb KHXH, Hà nội, 1991.
    Diệp Đình Hoa, 1990. Tìm hiểu làng Việt, Nxb KHXH, Hà nội, 1990.
    Đào Thế Tuấn, 1997. Kinh tế hộ nông dân. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 1997.
    F. Houttar & G. Lemercinier, 2001. Xã hội học về một xã ở Việt nam, tham gia xã hội, các mô hình văn hoá, gia đình, tôn giáo ở xã Hải Vân. Nxb KHXH, Hà nội 2001.
    Mai Văn Hai và Phan Đại Doãn, 2000. Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng. Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 2000.
    Phan Đại Doãn, 1992. Làng Việt Nam - Một số vấn đề kinh tế xã hội. Nxb Khoa học xã hội và Nxb Mũi Cà Mau, 1992.
    Tài liệu tham khảo
    Piere Gourou, 1936. Người nông dân đồng bằng Bắc Bộ. Paris, 1936
    Philippe Papin - Olivier Tessier (chủ biên). Làng ở vùng châu thổ sông Hồng, vấn đề còn bỏ ngỏ (Le Village en questions. The Village in questions). Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Hà nội, 2002.
    Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, 2000. Phát triển cộng đồng - Lý thuyết và vận dụng. Nxb Văn hoá thông tin, 2000.
    Tô Huy Hợp chủ biên, 2000. Sự biến đổi của làng - xã Việt nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng. Nxb KHXH, Hà nội, 2000.
    Trần Ngọc Thêm, 1996. Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam (Cái nhìn hệ thống và loại hình). Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1996.
    Trần Từ, 1984. Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ. Nxb KHXH, Hà nội, 1984.
    Tài liệu tham khảo
    Samuel L.Popkin. The Rational peasant. The political Economy of Rural society in Vietnam. University of California Press, Ltd., 1979.
    Viện KHXH Tp.HCM, 1995. Làng - xã ở châu á và ở Việt nam, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1995
    Adrew Shepherd. Sustainable Rural Development. MacMillan Press Ltd., London, 1998.
    Bob Warner, 2001. Rural development and off farm employment. UNDP, Hanoi, 2001.
    Cambodia Human Development Report 1999. Village economy and development. Ministry of Planning, 1999.
    G. Lenski, P. Nolan & J. Leski, 1995. Human societies - An introduction to macrosociology. Seventh edition, McGraw - Hill, Inc. 1995.
    James C.Scott. The Moral Economy and Subsistence in Southeast Asia. New Haven and London, Yale University Press, 1976.
    Bố cục các chương của môn học

    Chương I: Nhập môn Xã hội học nông thôn
    Khái niệm Xã hội học nông thôn
    Về sự hình thành và phát triển của chuyên ngành Xã hội học nông thôn
    Đối tượng và chức năng của Xã hội học nông thôn
    Vai trò của Xã hội học nông thôn trong hệ thống các chuyên ngành Xã hội học.
    Hệ thống những vấn đề cần nghiên cứu của Xã hội học nông thôn Việt Nam hiện nay.

    Bố cục các chương của môn học


    Chương II: Bản chất xã hội nông thôn
    2.1. Đô thị và nông thôn
    2.2. Xã hội nông thôn
    2.3. Mối quan hệ giữa nông thôn và đô thị
    2.4. Phân loại nông thôn và lịch sử nông thôn

    Chương III:
    Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội nông thôn
    3.1. Cơ cấu xã hội nông thôn
    3.2. Phân tầng xã hội nông thôn
    3.3. Các thiết chế xã hội nông thôn



    Bố cục các chương của môn học


    Chương IV: Làng xã nông thôn việt nam
    4.1. Các khuôn mẫu cư trú
    4.2. Các đặc trưng của làng Việt truyền thống
    4.3. Con người cá nhân trong xã hội làng xã
    4.4. Làng xã Việt Nam hiện nay.

    Chương V: Gia đình nông thôn
    5.1. Khái niệm và chức năng của gia đình nông thôn
    5.2. Đặc điểm chung của gia đình nông thôn Việt Nam
    5.3. Các loại gia đình
    5.4. Hôn nhân
    Bố cục các chương của môn học
    Chương VI: Họ tộc ở nông thôn
    6.1. Khái niệm và phân loại
    6.2. Vai trò và tính chất dòng họ
    6.3. Quan hệ dòng họ
    6.4. Vấn đề dòng họ hiện nay
    Chương VII: Văn hoá nông thôn
    7.1. Các khái niệm trong lĩnh vực văn hoá
    7.2. Các loại hình văn hoá nông thôn
    7.3. Các vùng văn hoá nông thôn Việt Nam
    7.4. Đặc điểm chung của văn hoá nông thôn
    Bố cục các chương của môn học
    Chương VIII: Phương pháp nghiên cứu Xã hội học
    nông thôn
    8.1. Khái niệm
    8.2. Xác định vấn đề nghiên cứu
    8.3. Xây dựng đề cương nghiên cứu
    8.4. So sánh phương pháp thu thập thông tin định tính và định lượng
    8.5. Phương pháp điều tra chọn mẫu
    8.6. Một số kỹ thuật nghiên cứu định tính
    8.7. Thu thập thông tin tại địa bàn, xử lý thông tin và viết báo cáo NC
    Phần cuối: Giới thiệu một số nghiên cứu XHH thực
    nghiệm về nông thôn gần đây
    Chương I:
    Nhập môn Xã hội học nông thôn
    Khái niệm Xã hội học nông thôn
    Về sự hình thành và phát triển của chuyên ngành Xã hội học nông thôn
    Đối tượng và chức năng của Xã hội học nông thôn
    Vai trò của Xã hội học nông thôn trong hệ thống các chuyên ngành Xã hội học.
    Hệ thống những vấn đề cần nghiên cứu của Xã hội học nông thôn Việt Nam hiện nay.
    1.1. kháI niệm xã hôI học nông thôn
    1.1.1. Các khái niệm liên quan:
    Nông dân: Nói đến nông dân là nói đến một nhóm xã hội, một giai tầng xã hội, một giai cấp xã hội. Từ điển tiếng Việt viết: nông dân là người dân làm nghề trồng trọt, cày cấy. Các từ liên quan: nông gia, nông phu, nông lâm, nông hội, nông hộ.

    Nông nghiệp: Nông nghiệp là một ngành nghề. Từ điển tiếng Việt viết: nông nghiệp là ngành kinh tế quốc dân chuyên trồng trọt và cày cấy để cung cấp lương thực- thực phẩm cho nhân dân và nguyên liệu cho công nghiệp. Các từ liên quan đến nghề nông: nông học, nông lịch, nông sản, nông nhàn, nông trang, nông trường.

    1.1.1. Các khái niệm liên quan:

    Nông thôn: Là nói đến vùng địa lý cư trú. Từ điển tiếng Việt viết: nông thôn là làng mạc sống bằng sản xuất nông nghiệp, khác hẳn thành thị. Nói đúng hơn nông thôn là vùng địa lý cư trú gắn với thiên nhiên, khác hẳn thành thị, với dân cư chủ yếu là nông dân, ngành nghề chủ yếu là nông nghiệp và có lối sống riêng, văn hoá riêng.

    1.1.2. Khái niệm
    Xã hội học nông thôn

    Xã hội nông thôn (xã hội nông dân) là một phạm trù lịch sử, nói tới một hình thái kinh tế-xã hội. Xã hội nông thôn là một cấu trúc xã hội chỉnh thể từ các khía cạnh: cấu trúc, chính trị, kinh tế, văn hoá. Trong tương quan với xã hội tổng thể, xã hội nông thôn là một thành tố cấu thành (bên cạnh xã hội đô thị- thị dân) thì xã hội nông thôn có những nét đặc thù riêng biệt và có tính độc lập tương đối.

    1.1.2. Khái niệm
    Xã hội học nông thôn

    Xã hội học nông thôn là chuyên ngành Xã hội học nghiên cứu về xã hội nông thôn, nó cố gắng khám phá ra các quy luật phát triển của xã hội nông thôn, nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện cách thức tổ chức xã hội nông thôn, cơ cấu và các chức năng, những mục tiêu và các khuynh hướng phát triển của nó.
    Xã hội học nông thôn là môn khoa học nghiên cưú các vấn đề, các sự kiện và tính quy luật đặc thù của hệ thống xã hội nông thôn, xét trong toàn bộ tính chỉnh thể và phức thể phức tạp, đa dạng, phong phú của nó trong hiện thực.
    Các định nghĩa tham khảo:

    Ôxi-pốp, 1990: "Vấn đề trung tâm của xã hội học nông thôn là nghiên cứu quá trình tái tạo xã hội, xác lập các mức độ phù hợp của các điều kiện, mục tiêu và kết quả của quá trình đó"
    Bertrand, 1972: "Xã hội học nông thôn nghiên cứu mối quan hệ của con người trong hoàn cảnh môi trường nông thôn"
    Summer, 1991: "Xã hội học nông thôn nghiên cứu tổ chức xã hội và các quá trình xã hội đặc trưng cho những khu vực địa lý có dân số tương đối nhỏ và mật độ thấp".
    Các định nghĩa tham khảo:

    Tô Duy Hợp, 1997: "Xã hội học nông thôn nghiên cứu
    động lực và tình hình đời sống nông thôn."
    Lý Thư Kinh, 1989: "Xã hội học nông thôn là khoa học
    thông qua những nghiên cưú về mối quan hệ , cơ cấu xã
    hội, chức năng và hành vi xã hội ở vùng nông thôn để nói lên sự phát triển của xã hội nông thôn, những quy luật biến đổi xã hội nông thôn".
    Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng, 1997: "Xã hội học nông thôn là một lĩnh vực nghiên cứu của Xã hội học chuyên biệt, nó nghiên cứu về nguồn gốc, sự tồn tại và sự phát triển nông thôn như là một cộng đồng xã hội".
    1.2. Về sự hình thành và phát triển của chuyên
    ngành Xã hội học nông thôn

    1.2.1. Trên thế giới
    Xã hội học nông thôn là chuyên ngành xã hội học ra đời muộn so với các chuyên ngành XHH khác (XHH đô thị, XHH gia đình, XHH văn hoá, XHH pháp luật.). Xã hội học nông thôn bắt đầu hình thành ở Mỹ vào những năm 20 của thế kỷ XX, sau đó tràn sang châu Âu và toàn thế giới cho đến ngày nay.
    1.2. Về sự hình thành và phát triển của chuyên
    ngành Xã hội học nông thôn

    Mỹ:
    Giai đoạn suy thoái" (1890-1920). Đây là thời kỳ mà xã hội nông thôn Mỹ đang chứng kiến một sự suy sụp toàn diện. Nhiều biến đổi xã hội diễn ra với quá trình cơ khí hoá- công nghiệp hoá và đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ.
    Chính phủ Mỹ yêu cầu các nghiên cứu xã hội học về nông thôn.
    Các nghiên cứu được tiến hành, như: nghiên cứu phân tích biến đổi nông thôn Mỹ của Dean Bailey (1907); nghiên cứu về cộng đồng nông thôn của trường Đại học Columbia (1912); Nghiên cứu về đời sống nông thôn của C.J. Galpin (1915).
    Năm 1917 các nhà Xã hội học Mỹ đã thành lập Ban Xã hội học nông thôn dưới sự lãnh đạo của Tiến sĩ Galpin.
    Một số cuốn sách về xã hội học nông thôn được xuất bản, như: "Xã hội học nông thôn" của giáo sư J.M. Gillettee (1916); cuốn "Sách tra cứu hệ thống về xã hội học nông thôn" được xuất bản năm 1930.
    Các tên tuổi lớn nghiên cứu về XHH nông thôn: Sorokin, Zimmerman, Galpin, Taylor, Kolb, Bronner, Sims, Smith, Landisredfeld, Dwight Sandrson.
    Năm 1935, tạp chí "Xã hội học nông thôn" ra mỗi tháng một kỳ, năm 1937, "Hội xã hội học nông thôn Mỹ" được thành lập. Đây là những mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của chuyên ngành Xã hội học nông thôn.
    1.2. Về sự hình thành và phát triển của chuyên
    ngành Xã hội học nông thôn

    Châu Âu:
    Năm 1957, "Nhóm công tác Xã hội học nông thôn châu Âu" được thành lập, sau đó "Cơ quan Xã hội học nông thôn châu Âu" ra đời.
    Năm 1964, giới xã hội học nông thôn châu Âu và Hiệp hội XHH nông thôn Mỹ đã tiến hành tổ chức Đại học thế giới về Xã hội học nông thôn lần thứ nhất.
    Đại hội Xã hội học nông thôn lần thứ hai vào năm 1968 tại Hà Lan.
    Xã hội học nông thôn châu Âu đã phát triển mạnh mẽ từ những thập kỷ 60 của thế kỷ XX đến nay.
    1.2. Về sự hình thành và phát triển của chuyên
    ngành Xã hội học nông thôn

    Trung Quốc:
    Xã hội học nông thôn du nhập vào Trung Quốc khá sớm. Ngay những năm cuối thập niên 20 thế kỷ XX, một số trường Đại học ở Trung Quốc (ĐH Lô Giang, ĐH Kim Lăng, ĐH Yến Kinh) đã tiến hành một số cuộc điều tra nghiên cứu xã hội học ở nông thôn.
    Năm 1927, nhà XHH nông thôn Trung Quốc đầu tiên lấy bằng tiến sĩ ở ĐH Missigan là Cố Phúc.
    Những năm đầu 1930, ở Trung Quốc nhiều nhiều công trình nghiên cứu về XHH nông thôn được xuất bản của Cố Phúc, Ngô Văn Tảo, Phí Hiếu Thông. Năm 1934, tập san "Nông thôn Trung Quốc" ra đời. Năm 1937, Đồng Nhuận xuất bản cuốn: "Điểm yếu của xã hội học nông thôn". Tuy nhiên, mãi đến năm 1979, Viện Xã hội học trực thuộc Uỷ ban KHXH Trung Quốc mới được thành lập.
    Đến nay, xã hội học nông thôn là một trong những lĩnh vực nghiên cưú chủ chốt của giới XHH Trung Quốc. Có nhà XHH nổi tiếng nghiên cứu về "Tam nông" với những tên tuổi nổi tiếng như: Lục Học Nghệ, Cốc Nguyên Dương.
    1.2. Về sự hình thành và phát triển của chuyên
    ngành Xã hội học nông thôn
    Từ sau đại chiến thế giới lần thứ II, XHH nông thôn phát triển mạnh mẽ ở Nhật Bản, ấn Độ và nhiều nước khác.
    Từ nửa cuối thế kỷ XX, xã hội học nông thôn đăc biệt phát triển mạnh mẽ ở các nước thuộc thế giới thứ ba, những nước mà nông nghiệp và nông thôn vẫn là chủ yếu, trong đó có Việt Nam.
    1.2. Về sự hình thành và phát triển của chuyên
    ngành Xã hội học nông thôn
    1.2.2. Xã hội học nông thôn ở Việt Nam
    Sự ra đời:
    Hai loại ý kiến về xuất phát điểm của chuyên ngành XHH nông thôn Việt Nam: thứ nhất cho rằng XHH nông thôn VN có xuất phát điểm từ những nghiên cứu của các học giả Pháp và Việt Nam từ những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX, tiêu biểu như công trình: "Người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ" của Pierre Gourou- 1936.
    Loại ý kiến thứ hai, cho rằng về những bước đi đầu tiên của XHH nông thôn VN, đáng kể nhất có 2 công trình. Trước hết là "Khảo cứu xã hội học và các vấn đề phát triển nông thôn ở Đông Nam á" của các tác giả: K.F. Walker, Vũ Quốc Thúc., Bỉ, Unesco, 1963. Đây là công trình nghiên cứu XHH nông thôn đầu tiên ở nước ta được khảo sát ở nông thôn Nam Bộ trong bối cảnh chung Đông Nam á. Công trình thứ hai là: "Hải Vân- một xã ở Việt Nam, đóng góp của xã hội học vào việc nghiên cứu những sự quá độ" của F. Houtart và G.Lemercinier, Dại học Louvain, Bỉ, 1980. Đây là công trình của 2 nhà XHH Bỉ với sự phối hợp nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Viện Xã hội học VN tiến hành khảo sát tại xã Hải Vân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định năm 1979.
    1.2.2. Xã hội học nông thôn ở Việt Nam

    Sự phát triển về tổ chức:
    Năm 1977, Ban Xã hội học (UBKHXHVN) được thành lập, có 5 phòng nghiên cứu: Lý luận- phương pháp, Đô thị, Nông thôn, Gia đình và Văn hoá- lối sống.
    Trong thập kỷ 1980 các cơ quan nghiên cứu xã hội học khác xuất hiện: Ban XHH thuộc Viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh (UBKHXHVN), Trung tâm XHH- tin học (Học viện Nguyễn ái Quốc).
    Thập kỷ 1990, xuất hiện các khoa xã hội học thuộc các trường đại học: Đại học KHXH Hà nội, ĐH KHXH thành phố Hồ Chí Minh, ĐH Công đoàn, Đại học Huế, ĐH Mở- bán công thành phố HCM.bộ môn xã hội học nông thôn càng được phát triểnóng.
    Ngày 7-8/12/2006, Đại hội Đại biểu Hội Xã hội học Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội, gồm 124 đại biểu. Hội Xã hội học VN được thành lập. Đây là điểm mốc quan trọng đánh dấu bước trưởng thành và phát triển của ngành xã hội học VN nói chung và chuyên ngành XHH nông thôn nói riêng.
    1.2.2. Xã hội học nông thôn ở Việt Nam
    Nghiên cứu:
    Viện Xã hội học.
    Nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Xã hội học và xuất bản sách từ 1980 đến nay.
    Tạp chí Xã hội học xuất bản thường kỳ từ năm 1983 (3 tháng một kỳ) và cho đến nay là tạp chí duy nhất nhằm công bố các nghiên cứu của giới xã hội học trong cả nước.).
    Nhiều nhà chuyên gia trong viện có nhiều công trình về XHHNT: Tô Duy Hợp, Bùi Quang Dũng, Đỗ Thái Đồng, Nguyễn Quang Vinh, Phạm Văn Bích, Mai Văn Hai. Nhiều chủ đề lớn của XHH nông thôn đã được nghiên cứu và công bố, như: Phân tầng xã hội nông thôn, Chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn, dân số- KHHGĐ-SKSS, biến đổi gia đình nông thôn, lối sống- văn hoá nông thôn, chuyển đổi các chuẩn mực và định hướng giá trị ở nông thôn.

    Các cơ quan khác:
    Ngoài Viện Xã hội học thì nhiều nghiên cứu về XHH nông thôn cũng đã được triển khai, như: Trung tâm XHH- tin học học viện Nguyễn ái Quốc, Ban Xã hội học thuộc Viện KHXH vùng Nam Bộ, các khoa Xã hội học thuộc các trường ĐHKHXH&NV Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh., Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ban văn hoá- xã hội của Quốc hội, Bộ Kế hoạch- đầu tư, Bộ Lao động- thương binh và Xã hội, UB Dân số, Gia đình và Trẻ em (trước đây), Bộ Y tế., các tổ chức chính thức và phi chính phủ quốc tế và Việt Nam.
    1.2.2. Xã hội học nông thôn ở Việt Nam
    Đào tạo:
    Hoạt động đào tạo, giảng dạy chuyên ngành XHH nông thôn tiếp tục phát triển: Đến nay, nhiều giáo trình về xã hội học nông thôn (kể cả dịch và viết mới) đã được xuất bản.
    Hệ thống đào tạo chuyên ngành XHH nông thôn từ bậc đại học đến tiến sĩ đã được kiện toàn. Đến nay đã có hàng chục tiến sĩ và thạc sĩ XHH nghiên cứu về XHH nông thôn.
    Những đơn vị có giảng dạy về bộ môn XHH nông thôn hiện nay ở nước ta là: Cơ sở đào tạo sau đại học Viện Xã hội học, Viện Xã hội học và Tâm lý học quản lý lãnh đạo thuộc Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia, các Khoa XHH thuộc các trường đại học như: ĐH KHXH&NV Hà Nội, ĐH KHXH&NV Tp HCM, Đại học Công Đoàn, Đại học Huế, ĐH Mở -bán công Tp HCM, ĐH Đà Lạt.
    1.3.Đối tượng và chức năng của Xhh nông thôn
    1.3.1.Đối tượng XHH nông thôn

    Hiện vẫn có những khác biệt khi quan niệm về đối tượng của Xã hội học nông thôn. Xã hội học nông thôn nghiên cứu về cái gì trong xã hội nông thôn, cho đến nay vẫn còn chưa thống nhất.
    P.L. Vogte: XHH nông thôn nghiên cứu động lực và tình hình đời sống nông thôn, dựa vào đó để phát triển và duy trì văn hoá nông thôn một cách có hiệu quả và khoa học.
    C.C. Tagler: XHH nông thôn là thảo luận mối quan hệ lẫn nhau của nhân dân nông thôn.đồng thời còn thảo luận chế độ xã hội nông thôn với mức sống và các vấn đề xã hội nông thôn của nó.
    D. Sanderson: XHH nông thôn cần thiết "nghiên cứu tổ chức xã hội nông thôn".
    1.3.Đối tượng và chức năng của Xhh nông thôn
    1.3.1.Đối tượng XHH nông thôn

    Nguyễn Thế Phán (ĐH KTQD HN): Đối tượng của XHH nông thôn là: 1- nghiên cưú tính quy luật của xã hội nông thôn; 2- nghiên cứu những hiện tượng xã hội nông thôn, những vấn đề liên quan đến sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội nông thôn; 3- Nghiên cứu các chính chính sách kinh tế- xã hội đối với nông thôn, cơ sở- phương pháp luận khoa học xã hội của chiến lược và sách lược cải tạo nông thôn cũ, xây dựng nông thôn mới.
    Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng: Đối tượng của XHH nông thôn bao gồm: 1- nghiên cứu những vị trí, vai trò của xã hội nông thôn trong xã hội, trong cơ cấu xã hội tổng thể; 2- Nghiên cứu về cộng đồng nông thôn; 3- Nghiên cứu tính đồng nhất ở nông thôn, mà thường được đặc trưng bằng lối sống, văn hoá làng xã; 4- Nghiên cứu về quá trình quản lý cũng như những khía cạnh dân số, quá trình di dân, môi trường ở nông thôn.
    1.3.Đối tượng và chức năng của Xhh nông thôn
    1.3.1.Đối tượng XHH nông thôn

    Tống Văn Chung: 1- Nghiên cứu các quan hệ xã hội ở nông thôn; 2- Nghiên cứu các quy luật chi phối, điều tiết các quan hệ xã hội nông thôn; 3- Nghiên cứu các sự kiện xã hội ở nông thôn; 4- Nghiên cứu các hiện tượng xã hội, các quá trình xã hội ở nông thôn; 5- Nghiên cứu các nhóm xã hội nông thôn trong tổng thể cơ cấu xã hội nông thôn; 6- Nghiên cứu các cộng đồng xã hội, những khía cạnh hoạt động, vai trò của chúng ở nông thôn; 7- Nghiên cứu sự hiện diện và vận hành của các thiết chế xã hội nông thôn; 8- Nghiên cứu những vấn đề xã hội trong hoạt động kinh tế của người dân nông thôn.
    1.3.Đối tượng và chức năng của Xhh nông thôn
    1.3.1.Đối tượng XHH nông thôn

    Tô Duy Hợp: Có 2 trục chính về đối tượng nghiên cứu của XHH nông thôn. Thứ nhất, Các vấn đề tương quan và tương tác giữa XHH nông thôn với môi trường, bao gồm: a- Đô thị hoá nông thôn; b- Tính độc lập tương đối và sự phụ thuộc căn bản của xã hội nông thôn vào xã hội tổng thể; c- Công nghiệp hoá nông nghiệp và hiện đại hoá xã hội nông nghiệp- nông dân- nông thôn; d- Bảo đảm cân bằng sinh thái nhân văn ở địa bàn nông thôn và cả ở địa bàn đô thị. Thứ hai, Các vấn đề tương quan và tương tác nội bộ xã hội nông thôn, bao gồm: a- Vị thế, vai trò của các nhân vật xã hội nông thôn (nông dân, thợ thủ công, thương nhân, trí thức.); b- Các cơ cấu nhân khẩu, lao động nghề nghiệp, phân tầng xã hội của các nhóm xã hội nông thôn. Thực trạng và xu hướng biến đổi của chúng; c- Các thiết chế xã hội nông thôn: thực trạng và xu hướng biến đổi của các thiết chế cơ bản như kinh tế, chính trị, gia đình, giáo dục, y tế, tôn giáo, khoa học, thể thao ở nông thôn; d- Các vấn đề xã hội khác như lối sống nông thôn, văn hoá nông thôn, văn minh nông nghiệp, tổ chức và quản lý xã hội nông thôn.
    1.3.Đối tượng và chức năng của Xhh nông thôn
    1.3.1.Đối tượng XHH nông thôn
    Các quan điểm nêu trên, về cơ bản đã nêu bật được đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành XHH nông thôn. Nói ngắn gọn: đối tượng của XHH nông thôn là nghiên cứu tổng thể về xã hội nông thôn và hành vi con người trong xã hội nông thôn. Nhận thưc như vậy thì quan niệm của Tô Duy Hợp là hoàn chỉnh hơn, khi những quan niệm khác còn phiến diện hoặc sa vào lĩnh vực của các khoa học khác (như triết học, kinh tế học nông thôn).
    1.3.Đối tượng và chức năng của Xhh nông thôn
    1.3.2. chức năng của XHH nông thôn
    Xã hội học nông thôn cung cấp những tri thức cần thiết ở cả hai khía cạnh: Thứ nhất là những tri thức lý luận về xã hội học nông thôn. Thứ hai, XHH nông thôn cung cấp những tri thức cần thiết để hiểu biết thực trạng xã hội nông thôn Việt Nam.
    Xã hội học nông thôn sẽ cung cấp và làm giàu thêm vào hệ thống tri thức nhân loại về xã hội nông thôn nói chung và nông thôn Việt Nam nói riêng.
    Xã hội học nông thôn bằng hoạt động nghiên cứu của mình sẽ cung cấp kho thông tin quý giá cho công tác quản lý, điều hành xã hội; là cơ sở quan trọng giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách trong hoạt động quản lý và xây dựng các chính sách, đường lối phát triển nông thôn nói riêng và phát triển đất nước nói chung.
    1.3.2. chức năng của XHH nông thôn
    vai trò của XHH nông thôn việt nam
    Nước ta đang bước vào thời kỳ CNH- HĐH, tuy nhiên với xuất phát điểm vẫn là xã hội nông dân- nông nghiệp- nông thôn (hiện có hơn 70% dân cư nông thôn).
    Xã hội học nói chung và XHH nông thôn ở Việt Nam so với các ngành KHXH khác là còn non trẻ (với lịch sử hơn 20 năm); vì vậy kho tri thức về xã hội nông thôn nước ta là còn ít ỏi và nhiều hạn chế.
    Những nghiên cứu của XHH nông thôn nước ta đã, đang và tiếp tục là những luận cứ, những cơ sở quan trọng cho hoạt động quản lý xã hội nông thôn, là cơ sở của những chính sách, đường lối cho sự phát triển nông thôn bền vững trong tương quan với phát triển đô thị và phát triển đất nước nói chung.
    1.4. Vai trò của Xã hội học nông thôn trong hệ
    thống các chuyên ngành Xã hội học.
    1.4.1. Xã hội học nông thôn và XHH đại cương
    Xã hội học có 2 phân nhánh cụ thể: Xã hội học đại cương và Xã hội học chuyên biệt. Xã hội học đại cương chuyên nghiên cưú những quy luật xã hội, những quá trình xã hội ở tầm vĩ mô...
    Xã hội học nông thôn cũng như các chuyên ngành XHH chuyên biệt khác (như XHH nông thôn, đô thị, văn hoá, gia đình.) cũng vận dụng cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và các lý thuyết XHH đại cương trong nghiên cưú của mình. XHH nông thôn có nhiệm vụ khám phá những nét đặc thù của xã hội nông thôn để bổ sung vào nội hàm của các khái niệm XHH đại cương.
    Cũng có ý kiến coi XHH nông thôn như một môn khoa học độc lập, khi lý luận nó nghiên cứu tổng thể xã hội nông thôn với hệ thống đối tượng, khái niệm, phạm trù đặc thù. Tuy nhiên, điều này là không thể vì XHH nông thôn không thể vược qua tấm áo của mình là thuộc bộ môn XHH chuyên biệt, vì lẽ xã hội nông thôn cũng chỉ là một bộ phận của xã hội tổng thể, mặt khác XHH nông thôn sử dụng toàn bộ các nguyên lý và công cụ nghiên cưú từ XHH đại cương.
    1.4. Vai trò của Xã hội học nông thôn trong hệ
    thống các chuyên ngành Xã hội học.
    1.4.1. Xã hội học nông thôn và XHH đô thị
    Xã hội học nông thôn và XHH đô thị là bộ môn nghiên cứu của XHH chuyên biệt, có đối tượng nghiên cứu khác nhau. Hơn nữa về phương thức tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, nội dung cần nghiên cứu cũng có những điểm khác nhau.
    Tuy nhiên, ranh giới khác biệt giữa XHH nông thôn và XHH đô thị chỉ là tương đối. Điểm chung giữa lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu của 2 môn học chuyên biệt này cũng khá rõ. Trước hết, chúng đều sử dụng khái niệm, phạm trù, phương pháp của XHH đại cương trong nghiên cứu của mình. Mặt khác, trong thực tiễn xã hội, sự giao thoa, trao đổi giữa 2 cộng đồng xã hội là thuộc tính bản chất vốn có của lịch sử.
    1.4. Vai trò của Xã hội học nông thôn trong hệ
    thống các chuyên ngành Xã hội học.
    1.4.1. Xã hội học nông thôn và XHH gia đình
    Những nét chung: Đều là Xã hội học chuyên biệt, sử dụng lý thuyết, khái niệm, phương pháp của XHH đại cương, cùng có điểm giao thoa về đối tượng và khách thể nghiên cưú là gia đình nông thôn.
    Nét khác biệt: Cũng có khách thể là xã hội nông thôn nhưng XHH gia đình chỉ có đối tượng nghiên cưú là gia đình nông thôn. Nếu XHH nông thôn nghiên cứu Gia đình nông thôn như một thành tố trong toàn bộ xã hội nông thôn, thì xã hội học gia đình nghiên cứu chuyên sâu hơn về gia đình, chú ý cả những khía cảnh nhỏ nhất, cả lịch sử và sự phát triển trong bối cảnh xã hội tổng thể (bao gồm cả đô thị). Chính vì vậy có sự ưu tiên khác nhau trong các chủ đề nghiên cứu của mình. Cụ thể như vấn đề bạo lực trong gia đình được XHH gia đình quan tâm hơn nhiều so với XHH nông thôn, trong khi đó thiết chế gia đình với vai trò của các thành viên, sự phân công lao động. gia đình, lại được XHH nông thôn rất quan tâm.
    1.4. Vai trò của Xã hội học nông thôn trong hệ
    thống các chuyên ngành Xã hội học.
    1.4.1. Xã hội học nông thôn và XHH Văn hóa
    Nét chung: Tương tự như trên.
    Nét khác biệt: Nếu XHH nông thôn nghiên cưú tổng thể xã hội nông thôn thì XHH văn hoá chỉ nghiên cứu riêng về lĩnh vực văn hoá trong xã hội nông thôn, có nghĩa là XHH văn hoá chỉ nghiên cứu hệ thống các chuẩn mực giá trị và hành vi ứng xử của con người trong xã hội nông thôn. Phạm vi nghiên cứu của nó ở khía cạnh này là hẹp hơn XHH nông thôn, nhưng rộng hơn ở chỗ còn nghiên cứu cả văn hóa đô thị và các dạng văn hóa đặc thù khác. Ưu tiên của XHH văn hóa là chỉ nghiên cưú về văn hóa nên trong chừng mực nào đó nó đi sâu hơn là XHH nông thôn về lĩnh vực văn hóa và tính ưu tiên chủ đề nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa của XHH VH cũng khác hơn so với XHH nông thôn.
    1.4. Vai trò của Xã hội học nông thôn trong hệ
    thống các chuyên ngành Xã hội học.
    1.4.1. Xã hội học nông thôn và XHH dân số
    Nét chung: Như trên. Ngoài ra, do đa số dân cư nước ta là sống ở nông thôn, các động thái dân số ở nông thôn cũng rất phức tap, do vậy cả XHH nông thôn cũng như XHH dân số đều rất quan tâm nghiên cứu.
    Nét khác biệt: Cũng như XHH gia đình, XHH văn hoá, XHH dân số về mặt đối tượng nghiên cứu có phạm vi vừa hẹp hơn vừa rộng hơn XHH nông thôn. Đặc biệt sự khác nhau về mức độ ưu tiên các chủ đề nghiên cưú giữa 2 môn XHH chuyên biệt này là rất rõ ràng. Cụ thể như, nói đến lĩnh vực dân số là người ta thường nói đến mức sinh, mức chết, di dân, chất lượng dân số và biến đổi dân số. XHH nông thôn đều có đề cập đến những chủ đề này, nhưng không đi sâu và có chú ý hơn đến chất lượng dân số và biến đổi dân số.
    1.4. Vai trò của Xã hội học nông thôn trong hệ
    thống các chuyên ngành Xã hội học.

    Ngoài 5 so sách đã nêu ở trên, XHH nông thôn, tương tự như vậy có những nét tương đồng và khác biệt đối với các môn XHH chuyên biệt khác, như: XHH pháp luật, XHH kinh tế- lao động, XHH khoa học- công nghệ, XHH tôn giáo, XHH chính trị, XHH quản lý, XHH sức khoẻ.
    Nhiều nhà XHH đã cho rằng, XHH nông thôn như là một chuyên ngành XHH tổng hợp, nó chứa đựng trong nó mọi khía cạnh của những đối tượng nghiên cứu của các chuyên ngành XHH khác. Vì vậy nó là môn XHH vừa có tính đặc thù vừa có tính bao quát chung trong phạm vi xã hội nông thôn. Nó liên quan chặt chẽ với các môn XHH chuyên biệt khác ở chỗ nó cung cấp bức tranh toàn cảnh đúng đắn, là cơ sở quan trọng cho mọi nghiên cứu về nông thôn của các môn XHH chuyên biệt khác và ngược lại, kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu XHH chuyên biệt khác lại làm phong phú và sâu sắc thêm về bức tranh toàn cảnh của XHH nông thôn.
    1.5. Hệ thống những vấn đề cần nghiên cứu của Xã hội học nông thôn Việt Nam hiện nay.
    Vấn đề đất đai, môi trường, việc làm
    Vấn đề dân số và di động xã hội
    Trình độ văn hoá- y tế
    Vấn đề phân tầng xã hội và nghèo đói
    Dân chủ cơ sở và đội ngũ cán bộ cơ sở
    Tệ nạn xã hội
    Người nông dân và vấn đề hội nhập quốc tế
    1.5. Hệ thống những vấn đề cần nghiên cứu của Xã hội học nông thôn Việt Nam hiện nay
    Quan điểm của giáo sư Tô Duy Hợp
    Khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội gia tăng
    Tình trạng thiếu việc làm gia tăng
    Tình trạng di dân tự phát tăng mạnh
    Tình trạng dân trí thấp
    Trình trạng dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ yếu kém
    Đời sống văn hoá có nhiều biểu hiện tiêu cực, xuống cấp
    Tình trạng xung đột xã hội có chiều hướng gia tăng
    Năng lực quản lý xã hội thấp kém
    Kết cấu hạ tầng thấp kém
    Môi trường bị ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động.
    1.5. Hệ thống những vấn đề cần nghiên cứu của Xã hội học nông thôn Việt Nam hiện nay
    Một số vấn đề cần N/C ở nông thôn Tây Nguyên hiện nay
    Bảo tồn bản sắc đa văn hóa
    Mức sống và trình độ sản xuất thấp kém
    Đời sống văn hóa, sinh hoạt còn nhiều khó khăn, lạc hậu
    Sự nan giải của gia tăng dân số cơ học
    Vấn đề đất đai
    Môi trường bị tàn phá
    1.5. Hệ thống những vấn đề cần nghiên cứu của Xã hội học nông thôn Việt Nam hiện nay
    Chương II: Bản chất xã hội nông thôn

    2.1. Đô thị và nông thôn
    2.2. Xã hội nông thôn
    2.3. Mối quan hệ giữa nông thôn và đô thị
    2.4. Phân loại nông thôn và lịch sử nông thôn
    Chương II: Bản chất xã hội nông thôn

    2.1. Đô thị và nông thôn
    Vấn đề đô thị và nông thôn từ góc độ xã hội học
    Để có thể hiểu rõ về bản chất xã hội hội của nông thôn, trước hết cần đặt nó trong bối cảnh tồn tại những mặt đối lập của nó. Nói như vậy, mặt đối lập tương đối của xã hội nông thôn chính là xã hội đô thị. Hiểu đô thị là hiểu được nông thôn và ngược lại. Hiểu đơn giản là như vậy, nhưng trong giới XHH, cũng đã tồn tại những nhận thức khác nhau về nội hàm của khái niệm nông thôn và đô thị, cũng như mối quan hệ của chúng.
    Hiện nay, có một thực tế là sự tập trung dân cư ở các nước có thu nhập thấp và tầm quan trọng của xã hội nông thôn trong các kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội ở mỗi quốc gia thuộc thế giới thứ ba khiến cho việc hiểu về xã hội nông thôn và các mối tương tác của nó với xã hội đô thị ngày càng có ý nghĩa.
    2.1. Đô thị và nông thôn

    Vấn đề đô thị và nông thôn từ góc độ xã hội học
    Từ góc nhìn triết học, trên cơ sở quan niệm duy vật lịch sử, Mác và Ăng-ghen đã khái quát một quy luật chung về sự hình thành đô thị, đó là kết quả của quá trình phân công lao động xã hội trong quá khứ. Trong cuốn: "Hệ tư tưởng Đức" (1845-1846), Mác viết: "Sự phân công lao động trong nội bộ của một dân tộc gây ra trước hết là sự tách rời giữa lao động công nghiệp với lao động nông nghiệp và do đó gây ra sự tách rời giữa thành thị và nông thôn". Đây là một phát hiện quan trọng của triết học Mác xít nói chung và Kinh tế- chính trị học mác xít nói riêng.
    Tuy nhiên quan điểm được phát kiến của Mác là về nguồn gốc ra đời của đô thị lại đứng trên quan điểm kinh tế- chính trị học nên khi vận dụng dụng vào xã hội học lại có những cách hiểu khác nhau.
    Vấn đề đô thị và nông thôn từ góc độ xã hội học

    Ngay từ giai đoạn ra đời của bộ môn xã hội học nông thôn, 2 nhà XHH nông thôn thuộc lớp tiên phong là Sorokin và Zimmerman (1929) đã chủ trương rằng: nguyên tắc để phân biệt nông thôn và đô thị là hoạt động nghề nghiệp (nông nghiệp và phi nông nghiệp).
    Họ cho rằng nông nghiệp dẫn theo một loạt những khác biệt về mặt định tính và định lượng tương đối bất biến giữa các cộng đồng nông thôn và đô thị, mà phần lớn trong số đó có liên quan hay tương tác với nhau. Nhận thức tương tự, Bagby nêu ý kiến là cần định nghĩa thành thị như những khu dân cư trong đó nhiều người dân không sản xuất thực phẩm. Điều đó có nghĩa là nông thôn là phải hiểu ngược lại, tức là nơi cư trú của nhiều người sản xuất thực phẩm.
    Nhìn chung quan điểm lấy hoạt động nghề nghiệp làm tiêu chí cơ bản nhất để phân biệt nông thôn- đô thị không được nhiều người trong giới học giả tán thành, vì riêng điều đó không làm rõ được bản chất của khái niệm nông thôn và đô thị.
    Vấn đề đô thị và nông thôn từ góc độ xã hội học

    Hiện nay cũng có không ít người trong giới nghiên cứu và và những người lập chính sách sử dụng chủ yếu hai biến số về quy mô nhân khẩu và mật độ dân số để xác định nông thôn, cũng như phân biệt nông thôn- đô thị. Họ cho rằng những điều kiện và tổ chức xã hội có mật độ dân số thấp với quy mô cộng đồng nhỏ là những dấu hiệu có tính đặc thù nhất của xã hội nông thôn.
    Từ đó xã hội nông thôn khác hẳn với xã hội đô thị ở những điểm sau: Thứ nhất, kiểu tương tác xã hội tương đối ít liên hệ cá nhân trong một đơn vị thời gian xác định và ít thể hiện tính nặc danh; Thứ hai, phân công lao động không phát triển vì có ít nghề nghiệp và ít có sự thay đổi trong các vai trò xã hội; Thứ ba, cộng đồng thuần nhất hơn so với xã hội thành thị; Thứ tư, hệ thống địa vị dựa trên các quan niệm cá nhân và là cái được gán cho chứ không phải do cá nhân đạt được, kèm theo đó là những hạn chế về tính di động xã hội; và Thứ năm là, do thiếu tính nặc danh hơn, nên sự sai lệch chuẩn mực trong cộng đồng nông thôn không xảy ra thường xuyên như ở thành thị.
    Vấn đề đô thị và nông thôn từ góc độ xã hội học

    Quan điểm trên đã có những rõ ràng hơn, đầy đủ hơn nhưng vẫn bị phản bác, vì lẽ: việc quy tất cả những khác biệt về văn hoá thành vấn đề mật độ và quy mô, điều đó chỉ thuyết phục khi chỉ giải thích về vấn đề nhân khẩu hay là tổ chức xã hội. Nói như nhà XHH Konig (1972) là: chỉ riêng các quan hệ thuần tuý số lượng thì không sao lý giải được hiện tượng thành phố, bởi bản chất của cộng đồng thành thị không phải ở mật độ tập trung mà là ở phong cách sống riêng biệt của cư dân thành thị.
    Sự khác nhau giữa đô thị và nông thôn
    Sự khác nhau về nghề nghiệp
    Sự khác nhau về môi trường
    Sự khác nhau về kích cỡ cộng đồng
    Sự khác nhau về mật độ dân số
    Sự khác nhau về tính thuần nhất của dân cư
    Sự khác nhau về khả năng di động xã hội
    Sự khác nhau về hướng di cư
    Sự khác nhau về tổ chức xã hội và phân tầng xã hội
    Sự khác nhau về lối sống và văn hoá
    Sự khác nhau về tương tác xã hội và tác động qua lại giữa nông thôn và đô thị
    (Tham khảo thêm: Tống Văn Chung, XHH nông thôn, 2000, trang 117-121; Tô Duy Hơp- tuyển chon, XHH nông thôn, 1997, trang 25-29).
    2.2. Xã hội nông thôn
    Quan điểm của nhà XHH Nga, V. Staroverov (1990) về những nét đặc trưng nổi bật của xã hội nông thôn là:
    Nông thôn phải gắn chặt với một nghề lao động xã hội truyền thống. Nghề truyền thống đặc trưng và nổi bật của nông thôn chính là hoạt động sản xuất nông nghiệp. Hoạt động nghề nghiệp này có phương tiện sản xuất chủ yếu và cơ bản là đất đai. Vì vậy ngay từ xa xưa đã có sự gắn kết nghề nghiệp của người nông dân với ruộng đất canh tác cũng như quê hương bản quán của mình.
    Trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội ỏ nông thôn do lịch sử để lại gồm những tụ điểm quần cư thường có quy mô nhỏ về mặt số lượng.
    Nông thôn có mật độ dân cư trên Km2 thấp (điều này có tính quy luật trên cả thế giới).
    Quan điểm của nhà XHH Nga, V. Staroverov (1990):

    Nông thôn có môi trường tự nhiên vượt trội so với thành thị, con người nông thôn gần gũi với tự nhiên, thấm chí hoà với thiên nhiên.
    Nông thôn có một lối sống đặc thù của mình- lối sống nông thôn, là lối sống được hình thành chủ yếu trên cơ sở của hoạt động lao động nông nghiệp.
    Lối sống nông thôn là một đặc trưng nổi trội của của xã hội nông thôn mà đặc trưng nổi bật nhất là tính cố kết cộng đồng. Điều đó l
     
    Gửi ý kiến
    print