Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    phương pháp dạy GDCD

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phùng Văn Thiết
    Ngày gửi: 11h:11' 18-11-2008
    Dung lượng: 13.5 MB
    Số lượt tải: 26
    Số lượt thích: 0 người
    Bài 2:
    MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
    NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
    CỦA HỌC SINH
    LỚP BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN CỐT CÁN
    CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
    MÔN : GIÁO DỤC CÔNG DÂN
    Đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD ở trường trung học phổ thông nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
    Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy học nhằm góp phần tích cực vào việc đào tạo nguồn nhân lực và những công dân mới năng động, sáng tạo, thích ứng với kinh tế thị trường, có phẩm chất và năng lực để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
    Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, lấy học sinh "làm trung tâm". Đặc trưng của dạy học tích cực hóa hoạt động của học sinh là thông qua việc tổ chức các hoạt động của học sinh, giúp học sinh hoạt động một cách tích cực, tăng cường học tập cá thể phối hợp với hoạt động hợp tác, kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
    Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh không phải là phủ nhận sạch trơn các phương pháp dạy học truyền thống, hoặc sao chép những phương pháp xa lạ không phù hợp với nước ta. Vấn đề là ở chỗ: kế thừa, tiếp thu có chọn lọc phương pháp truyền thống và của các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, phù hợp với điều kiện của đất nước.
    Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động không những khộng hạ thấp vai trò của người thầy, mà trái lại càng phát huy cao độ tính chủ đạo, khả năng sáng tạo của người thầy. Vai trò của người thầy trong dạy học tích cực hóa hoạt động của học sinh là người thiết kế, tổ chức quá trình học tập của học sinh nhằm hướng dẫn hoạt động độc lập hoặc theo nhóm để học sinh nắm vững kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ, tình cảm, niềm tin theo yêu cầu của môn giáo dục công dân.

    Đổi mới phương pháp dạy học luôn luôn quát triệt nguyên tắc "học đi đôi với hành", "lý luận gắn với thực tiễn". Thông qua việc đa dạng hóa các hoạt động dạy học, gắn goạt động dạy học với hoạt động xã hội, hoạt động lao động và những hoạt động thực tiễn khác ở địa phương để học sinh có thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiến bộ, củng cố niềm tin, kỹ năng tổ chức hoạt động thực tế của học sinh.
    Đổi mới phương pháp dạy học phải kế thừa những thành quả giáo dục, dạy học môn Đạo đức ở tiểu học, Giáo dục công dân ở trung học cơ sở, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và trình độ nhận thức của bậc trung học phổ thông. Đồng thời đổi mới phương pháp dạy học phải tranh thủ được các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại như là những phương tiện phục vụ đắc lực cho quá trình dạy học như máy vi tính, mạng internet.

    I. PHƯƠNG PHÁP NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
    1. Quan niệm về phương pháp dạy học nêu vấn đề
    Dạy học nêu vấn đề xuất phát từ nhận thức cho rằng: con người chỉ tích cực tư duy khi ở vào hoàn cảnh có vấn đề nảy sinh, khi con người phát hiện các mâu thuẫn của lý thuyết hay thực tế mà tư duy cũ không giải quyết được một cách tốt nhất.
    Những thành tựu dạy học gần đây cũng cho thấy trong quá trình dạy học có những mâu thuẫn giữa yêu cầu dạy học càng cao, khả năng tư duy ngày càng sáng tạo của học sinh với việc tổ chức dạy học còn lạc hậu. Điều đó khiến họ nghĩ đến biện pháp tăng thời gian học tập trên lớp để truyền thụ được nội dung tri thức ngày càng nhiều.
    Nhưng như vậy e rằng quá tải sẽ dẫn đến hạn chế chứ không phát triển tư duy độc lập, sáng tạo cho học sinh.
    Một cách khác là tăng hiệu quả giờ dạy bằng cách cải tiến các phương pháp dạy học, nội dung chương trình và cả hình thức tổ chức dạy học.
    Cuối cùng, họ đã đi đến kết luận rằng: quy luật chung để tích cực hóa hoạt động học của học sinh là nhờ họ độc lập trong việc giải quyết các tình huống có vấn đề. Ngày nay, dạy học nêu vấn đề đã phát triển thành một kiểu dạy học hiện đại. Thực chất của kiểu dạy học này là tạo ra một chuỗi tình huống có vấn đề và điều kiện hoạt động của học sinh nhằm giúp học sinh độc lập giải quyết các vấn đề học tập.
    Như vậy, dạy học nêu vấn đề là hoạt động có chủ đích của giáo viên, bằng cách đặt vấn đề học tập và tạo ra các tình huống có vấn đề, hướng dẫn học sinh tiếp thu nhằm giải quyết các vấn đề học tập, tạo điều kiện cho việc lĩnh hội tri thức mới và cách hành động mới, hình thành năng lực sáng tạo cho học sinh.
    Vấn đề nêu ra trong giảng dạy và học tập có thể là một câu hỏi, một luận đề phải chứng minh, lý giải hay bác bỏ. Vấn đề bao giờ cũng đòi hỏi giải quyết. Vấn đề học tập được đặt ra khi giảng bài, tọa đàm, khi học sinh nghiên cứu sách giáo khoa.
    Đặc trưng của dạy học nêu vấn đề:
    Nêu vấn đề, giải quyết vấn đề là những yếu tố tất yếu. Không thể chỉ có nêu vấn đề mà không giải quyết, cũng như không chỉ có giải quyết vấn đề mà không nêu vấn đề.
    Giải quyết vấn đề sẽ giúp học sinh hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng.
    Kết quả của dạy học nêu vấn đề không chỉ là tổng số những tri thức mà học sinh sẽ thu nhận được mà còn hình thành ở học sinh ý nghĩa bên trong của các sự kiện, hiểu biết bản chất của sự vật, hiện tượng.
    Nội dung chương trình môn giáo dục công dân mang tính trừu tượng, khái quát hóa cao, tính chất đa lĩnh vực. Nên nó càng đòi hỏi một phương pháp dạy học có hiệu quả: phương pháp dạy học nêu vấn đề. Phương pháp này giúp học sinh phát triển tư duy, nắm chắc kiến thức, nhất là khi học sinh tự mình đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.
    Có thể so sánh kiểu dạy học truyền thống với dạy học nêu vấn đề như sau:
    Như vậy, dạy học nêu vấn đề là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
    2. Những giai đoạn cơ bản của dạy học nên vấn đề
    a) Giai đoạn xây dựng tình huống có vấn đề
    Vấn đề được nêu để dạy học là vấn đề học tập. Nó là mới đối với học sinh, nhưng trong khoa học, nó là vấn đề đã được giải quyết, kiểm nghiệm trong thực tế.
    Vấn đề là những câu hỏi, những thắc mắc, là bản thân hoạt động tìm kiếm các câu trả lời của người học.
    Vấn đề nêu ra có thể là đơn giản, có thể là phức tạp. Điều quan trọng là giáo viên cần khéo liên hệ với tri thức cũ, vốn hiểu biết của học sinh để giải quyết vấn đề mới.
    Muốn nêu vấn đề, giáo viên cần phải nắm chắc sách giáo khoa. Đây là tài liệu quan trọng nhất vì nó cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học cơ bản, đúng đắn đã được kiểm nghiệm.
    Để nêu vấn đề có hiệu quả, giáo viên cần chú ý:
    - Khi giảng dạy phải liên hệ chặt chẽ sự phát triển của các khoa học triết học, kinh tế chính trị, đạo đức, pháp luật.
    - Khi nêu những vấn đề thực tế, giáo viên cần diễn đạt một cách chặt chẽ dưới dạng mâu thuẫn chưa được giải quyết.
    - Khi nêu vấn đề, phải chú ý tới nguyên lý về sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn. Giáo viên cần gợi ý để học sinh có thể tự nêu vấn đề, giải quyết vấn đề.
    b) Giai đoạn giải quyết vấn đề
    Giải quyết vấn đề phụ thuộc vào vấn đề nêu ra. Cơ sở để giải quyết vấn đề là nội dung kiến thức trong sách giáo khoa và vốn hiểu biết của giáo viên và học sinh. Muốn giải quyết vấn đề có hiệu quả, giáo viên cần chuẩn bị một cách chu đáo, chia những vấn đề lớn thành những vấn đề nhỏ phù hợp với trình độ của học sinh, giúp học sinh tiếp thu kiến thức từ đơn giản đến phức tạp.
    Giai đoạn này đòi hỏi học sinh phải huy động tri thức, vốn sống để giải quyết vấn đề. Giáo viên cần khéo gợi ý để học sinh tự giải quyết, tạo ra sự hứng thú bằng cách bêu những câu hỏi gợi mở, giải quyết từng vấn đề. Giáo viên cũng cần nêu ra những giả định, nhằm khắc sâu trí nhớ, phát triển trí tuệ cho học sinh.
    c) Giai đoạn hệ thống hóa kiến thức
    Sau khi giải quyết vấn đề, việc hệ thống hóa kiến thức giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản một cách có hệ thống. Hệ thống hóa kiến thức là sự sắp xếp kiến thức theo một trình tự nhất định, có liên quan chặt chẽ với nhau. Tức là bảo đảm tính khoa học của bài giảng, thể hiện phương pháp tư duy khoa học, nhấn mạnh những vấn đề thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những giá trị đạo đức. Đồng thời, giáo viên cần quan tâm đến việc uốn nắn những suy nghĩ, hành động không đúng đắn.
    3. Các kiểu dạy học nêu vấn đề
    a) Trình bày nêu vấn đề
    Đây là mức độ thấp nhất trong dạy học nêu vấn đề. Nó được sử dụng khi truyền thụ những kiến thức mang tính trừu tượng hóa, khái quát hóa cao mà học sinh không thể tự mình giải quyết được.
    Trong khi thực hiện phương pháp này, giáo viên dường như phải thực hiện toàn bộ các giai đoạn của dạy học nêu vấn đề. Thông qua cách trình bày nêu vấn đề, học sinh hiểu bài, nắm vững được kiến thức và học cách tư duy.
    b) Tìm tòi bộ phận
    Một bài giảng thường có nhiều đề mục, mỗi đề mục có khi lại có những tiểu mục. Mỗi đề mục hay tiểu mục có liên quan đến một vấn đề cụ thể. Nó có liên quan đến nhau và là từng phần của bài giảng. Phương pháp này dùng để truyền thụ tri thức trong mỗi bộ phận. Tùy theo từng đề mục, giáo viên đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, tạo điều kiện để học sinh tham gia nêu và giải quyết vấn đề.
    c) Nêu vấn đề toàn bộ
    Đây là mức độ cao nhất của kiểu dạy học nêu vấn đề. Thực chất của kiểu dạy học này là: dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự mình giải quyết toàn bộ một vấn đề cụ thể nào đó trong bài học.
    Để sử dụng tốt kiểu dạy học nêu vấn đề này, giáo viên cần chú ý tới khả năng tư duy của học sinh và các điều kiện chon phép học sinh tự giải quyết vấn đề. Giáo viên chuẩn bị kỹ trọng tâm, trọng điểm và mối liên hệ giữa các phần với nhau, mối liên hệ giữa kiến thức cũ và kiến thức mới.
    Việc chia thành các mức độ trong dạy học nêu vấn đề là cần thiết. Nhưng tuỳ theo khả năng của giáo viên, nội dung của từng bài mà có cách sử dụng phù hợp. Hơn nữa phải kết hợp một cách nhuần nhuyễn với các phương pháp khác, không nên coi dạy học nêu vấn đề là phương pháp vạn năng. Bởi vì các phương pháp khác đã xuất hiện từ lâu, đã và đang phát huy tác dụng quan trọng.
    Phương pháp dạy học nêu vấn đề phát huy được tư duy độc lập, sáng tạo cho học sinh. Nhưng phương pháp này khó vận dụng. Nó đòi hỏi giáo viên phải có tay nghề vững vàng, nhiều thời gian. Giáo viên nên chọn những bài có nội dung không bao gồm nhiều vấn đề phức tạp để vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề.
    III. PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI
    1. Quan niệm về phương pháp đàm thoại
    Trong giáo dục công dân, đàm thoại được coi là một phương pháp dạy học mà việc truyền thụ tri thức của giáo viên và lĩnh hội tri thức của học sinh thông qua hệ thống câu hỏi, gợi ý của giáo viên và câu trả lời của học sinh nhằm đạt hiệu quả dạy học cao.
    Phương pháp đàm thoại được thực hiện bằng cách giáo viên nêu câu hỏi và tổ chức cho học sinh trả lời. Đồng thời, nó cũng có thể được tiến hành bằng cách trao đổi giữa học sinh với nhau, hoặc tự mỗi học sinh đặt câu hỏi yêu cầu giáo viên giải quyết.
    Phương pháp này được dùng rất phổ biến, nhất là các môn khoa học xã hội. Trong môn giáo dục công dân, nó có thể dùng để gợi lại tri thức cũ để tiếp thu kiến thức mới. Nó giúp học sinh hiểu sâu hơn kiến thức cũ, làm nền cho việc tiếp thu kiến thức mới và không bị gián đoạn trong nhận thức. Nó cũng có thể được giáo viên dùng để rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh hoặc kiểm tra, đánh giá khả năng nhận thức, tiếp thu bài giảng của học sinh.
    Đàm thoại có tác dụng rất cao trong việc phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo cho học sinh.
    Cách nêu câu hỏi trong môn giáo dục công dân phụ thuộc vào hình thức trao đổi, nội dung kiến thức, khả năng của giáo viên và trình độ của học sinh. Nhưng thông thường các câu hỏi mà giáo viên nêu ra mang tính chất bài tập nhận thức, nó đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức một cách tổng hợp. Nếu học sinh trả lời được câu hỏi đó sẽ nắm được kiến thức cơ bản của bài học.
    2. Các kiểu đàm thoại
    Căn cứ vào cách thức tổ chức hoạt động dạy học có thể chia thành hai loại đàm thoại:
    a) Đàm thoại có chủ đích
    Đàm thoại có chủ đích là phương pháp đàm thoại mà giáo viên nêu ra một hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời nhằm hướng dẫn học sinh tiếp thu được kiến thức cơ bản trong bài giảng.
    Hệ thống câu hỏi mà giáo viên nêu ra có thể hướng dẫn học sinh tiếp cận với các khái niệm, phạm trù, tiếp thu kiến thức cơ bản.
    Đàm thoại có chủ đích có thể có các loại sau:
    - Đàm thoại diễn giải:
    Đàm thoại diễn giải thường được giáo viên dùng để giảng giải các khái niệm, phạm trù. Giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi trên cơ sở những dấu hiệu bản chất của các khái niệm, phạm trù, mối liên hệ giữa chúng với kiến thức học sinh đã có để kích thích tư duy, liên tưởng nhằm hiểu được vấn đề.
    Đương nhiên mỗi loại phạm trù, khái niệm, giáo viên cần có cách đàm thoại, diễn giải riêng, vì mỗi loại khái niệm đều có cách nêu dấu hiệu bản chất riêng.
    - Đàm thoại dẫn dắt:
    Giáo viên căn cứ vào kiến thức của bài mà nêu ra một hệ thống câu hỏi theo một trật tự nhất định nhằm giúp học sinh dần dần tiếp thu được kiến thức cần lĩnh hội.
    Đàm thoại dẫn dắt giúp học sinh hiểu được, nắm được kiến thức của từng đề mục trong bài và của toàn bài.
    Dựa vào hệ thống câu hỏi và những gợi ý của giáo viên cùng với vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống của mình, học sinh sẽ lần lượt trả lời câu hỏi, tiếp thu dần kiến thức mới một cách tích cực, chủ động.
    Trong một bài giảng, có hệ thống câu hỏi xuyên suốt toàn bài, cũng có những câu hỏi tương ứng với các đề mục trong bài. Cho nên giáo viên cần có hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu kiến thức từng phần, trong từng phần lại có thể có các câu hỏi nhằm tìm hiểu kiến thức cơ bản, có thể có câu hỏi nhằm củng cố, khắc sâu kiến thức.
    Điều đáng chú ý là những câu hỏi mà giáo viên nêu ra cần đảm bảo tính hệ thống chặt chẽ, phù hợp với trình độ của học sinh.
    - Đàm thoại tìm tòi:
    Đó là phương pháp mà giáo viên nêu ra các câu hỏi yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức cần thiết đã thu nhận được trong học tập và trong hoạt động thực tiễn để tự tìm ra câu trả lời cho vấn đề đặt ra.
    Đối với học sinh trung học phổ thông, tư duy logic đã khá phát triển, các em có khả năng phân tích, tổng hợp nhất định, nếu giáo viên sử dụng đúng lúc, đúng chỗ sẽ kích thích, phát triển tư duy cho học sinh.

    b) Đàm thoại tự do
    Đàm thoại tự do là hình thức đàm thoại mà dựa trên nội dung của bài học, giáo viên, học sinh cùng đặt ra những câu hỏi và cùng trả lời các câu hỏi đó nhằm giúp học sinh hiểu sâu, rộng hơn nội dung bài học.
    Trong đàm thoại tự do, giáo viên cần lưu ý:
    Nội dung của môn học được thiết kế chung, thống nhất trong toàn quốc, nhưng nó lại được giảng dạy ở từng địa phương. Vì vậy, học sinh có thể đưa ra những vấn đề rất cụ thể đang diễn ra ở địa phương, có những vấn đề vượt quá thẩm quyền của giáo viên. Cho nên giáo viên cần khéo gợi ý về mặt lý luận để học sinh tiếp tục suy nghĩ, và có thể chủ động tìm kiếm câu trả lời.
    Trong điều kiện hiện nay, trên Thế giới có nhiều biến đổi nhanh chóng, có những vấn đề chưa được giải quyết. Học sinh có thể nêu những câu hỏi bất ngờ, khó. Trong trường hợp này, giáo viên cần vận dụng lý luận, định hướng suy nghĩ cho học sinh, có như vậy mới kích thích được sự ham hiểu biết của học sinh.
    Trong đàm thoại tự do, còn có sự trao đổi giữa học sinh với học sinh.
    3. Những yêu cầu chung khi sử dụng phương pháp đàm thoại
    a) Một số yêu cầu chung
    Phương pháp đàm thoại có những ưu điểm lớn. Nó kích thích học sinh tích cực, độc lập trong suy nghĩ nhằm trả lời đúng đắn, đầy đủ, rõ ràng vấn đề. Nó bồi dưỡng cho học sinh khả năng diễn đạt bằng lời nói, tạo ra không khí sôi nổi trong giờ học. Giáo viên thu được tín hiệu ngược một cách nhanh chóng, đánh giá được ngay kết quả giảng dạy của mình, nhờ vậy điều chỉnh kịp thời quá trình dạy học.
    Tuy vậy, nếu giáo viên sử dụng không khéo léo sẽ dễ mất thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp. Bởi vì, nó dễ dẫn đến xu hướng đối thoại giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, khó thu hút vào hoạt động chung, vào vấn đề cơ bản.
    Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên chú ý một số điểm sau:
    - Giáo viên cần sử dụng các hình thức đàm thoại một cách linh hoạt. Tức là tùy nội dung của bài mà có hình thức đàm thoại thích hợp. Đàm thoại có thể giảng kiến thức mới, có thể củng cố kiến thức cũ.
    - Câu hỏi mà giáo viên nêu ra phải được sắp xếp một cách hợp lý, có hệ thống.
    Câu hỏi phải rõ ràng, chính xác cả về nội dung và từ ngữ, giúp học sinh hiểu rõ để thực hiện các thao tác tư duy.
    Câu hỏi phải phù hợp với nội dung của bài, khi giáo viên nêu câu hỏi liên hệ cần sát thực tế.
    Câu hỏi phải vừa sức đối với học sinh, không nên nêu câu hỏi quá dễ khiến học sinh thỏa mãn, chủ quan về vốn hiểu biết của mình. Câu hỏi phải nhằm phát huy trí tuệ của mọi thành viên trong lớp học, tức là bảo đảm vừa sức chung và vừa sức riêng.
    - Giáo viên cần khuyến khích tự do tư tưởng, tạo ra không khí tranh luận thoải mái. Đối với những câu trả lời hay, cần động viên ngay. Ngược lại, đối với những câu trả lời sai về lập trường quan điểm, về kiến thức, giáo viên cần uốn nắn kịp thời, khéo léo, tránh thái độ gay gắt gây mất tự tin nơi học sinh.
    Một vấn đề nữa là câu hỏi đặt ra phải tuân thủ những yêu cầu sư phạm. Các loại câu hỏi và hình thức tổ chức trao đổi phải đúng với những dự định sư phạm.
    b) Một số loại câu hỏi
    Trong phương pháp đàm thoại, câu hỏi là vấn đề cốt yếu. Bởi vì thông qua hệ thống câu hỏi, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tiếp thu được bài học. Câu hỏi giữ vị trí quan trọng trong các khâu của quá trình dạy học: kiểm tra bài cũ, giới thiệu kiến thức mới, củng cố, ôn tập bài.
    Câu hỏi có thể chia thành các loại sau:
    - Câu hỏi tái hiện:
    Loại câu hỏi này thường dùng để yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức một cách đúng đắn, thông qua đó mà rèn luyện khả năng diễn đạt cho học sinh. Đồng thời, nó cũng là bước đệm cho những vấn đề khó hơn.
    - Câu hỏi rèn luyện ngôn ngữ:
    Đó là loại câu hỏi mà giáo viên yêu cầu học sinh trình bày vấn đề, mô tả sự kiện, hiện tượng nào đó. Giáo viên cần theo dõi học sinh từ việc dùng từ, sắp xếp ý đến khả năng diễn đạt.
    - Câu hỏi giải thích: loại câu hỏi này yêu cầu học sinh huy động kiến thức để giải thích hiện tượng chính trị - xã hội xảy ra trong thực tế. Để giải thích được vấn đề, học sinh cần phải sử dụng các hoạt động tư duy như phân tích tổng hợp, quy nạp - suy diễn, trừu tượng hóa, so sánh.
    - Câu hỏi luận chứng: loại câu hỏi này yêu cầu học sinh đề xuất ý kiến của mình, hoặc nêu các "phương án" để giải quyết hợp lý một vấn đề nào đó trong bài học hoặc liên hệ với thực tế. Nó đòi hỏi học sinh phải có định hướng tư duy đúng đắn và sáng tạo khi giải quyết vấn đề.
    Chia thành các loại câu hỏi, xác định yêu cầu cụ thể cho nó chỉ là tương đối. Cho nên giáo viên cần phải vận dụng một cách linh hoạt.
    III. PHƯƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG NHÓM VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI
    1. Phương pháp hoạt động nhóm
    Với phương pháp này, lớp học được chia thành các nhóm nhỏ. Căn cứ vào mục đích yêu cầu của nội dung học tập, các nhóm được phân chia một cách có chủ định hoặc phân chia ngẫu nhiên. Các nhóm này được duy trì ổn định trong cả tiết học, nhưng cũng có thể thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao chung một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.
    Nhóm có thể tự bầu nhóm trưởng, hoặc cũng có thể do thầy giáo chỉ định.
    Trong từng nhóm, mỗi thành viên đều làm việc một cách tích cực, chủ động không ỷ lại, thụ động.
    Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề do thầy giáo đưa ra, thi đua với các nhóm khác. Kết quả của các nhóm đóng góp chung vào kết quả học tập của lớp.
    Để trình bày kết quả hoạt động của mình trước lớp, nhóm có thể chọn đại diện hoặc cử bất kỳ thành viên nào trong nhóm.
    Phương pháp hoạt động nhóm có thể được tiến hành như sau:
    - Làm việc chung cả lớp:
    + Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.
    + Tổ chức nhóm, giao nhiệm vu.
    + Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm.
    - Làm việc theo nhóm.
    + Phân công trong nhóm.
    + Cá nhân làm việc độc lập sau đó trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm.
    - Tổng kết trên lớp:
    + Các nhóm lần lượt trình bày kết quả
    + Thảo luận chung
    + Giáo viên tổng kết, nêu vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.
    Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên chia xẻ những băn khoăn, thắc mắc, kinh nghiệm, khắc sâu những điều cần suy nghĩ. Qua trao đổi thẳng thắn, dân chủ, các thành viên trong nhóm, mỗi thành viên có thể tự đánh giá trình độ hiểu biết của mình trước vấn đề đặt ra. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau, chủ động nắm kiến thức dưới sự chỉ dẫn, tổng kết của thầy giáo chứ không phải tiếp thu kiến thức một cách thụ động từ phía giáo viên.
    Thành công của buổi học tùy thuộc vào tính tích cực, chủ động của mỗi thành viên tham gia, vì vậy phương pháp này gọi là phương pháp cùng tham gia.
    Tuy nhiên phương pháp này cũng có những hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp (dễ ồn ào), thời gian ngắn. Do đó giáo viên phải chuẩn bị trước một cách công phu, tổ chức khoa học và từng bước hình thành thói quen làm việc cho học sinh. Giá trị của phương pháp này là rèn luyện khả năng hợp tác làm việc, hợp tác giải quyết một vấn đề trong tổ chức lao động sau này.
    Chú ý: cần tránh lạm dụng, coi đây là phương pháp duy nhất trong việc phát huy tính tích cực trong tư duy của học sinh, là dấu hiệu tiêu biểu nhất của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
    2. Phương pháp đóng vai
    Đóng vai là một phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định.
    a) Đặc điểm của phương pháp đóng vai:
    - Học sinh rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
    - Gây sự hứng thú và chú ý trong học tập cho học sinh
    - Tạo điều kiện cho học sinh sáng tạo
    - Khuyến khích sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo đức và chính trị - xã hội.
    - Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn.
    b) Cách thức tiến hành:
    - Giáo viên chia lớp thành thừng nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định rõ thời gian.
    - Các nhóm thảo luận và xây dựng kịch bản và phân công đóng vai.
    - Các nhóm lên đóng vai.
    - Lớp thảo luận và nhận xét (về cách ứng xử của các vai diễn có phù hợp hay không phù hợp? Chưa phù hợp ở điểm nào? Vì sao?).
    - Giáo viên kết luận về cách ứng xử trong tình huống.
    c) Một số điểm cần chú ý khi sử dụng phương pháp đóng vai:
    - Tình huống nên để mở, không cho trước kịch bản, lời thoại.
    - Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm đóng vai.
    - Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập để không lạc đề.
    - Khích lệ những học sinh nhút hát tham gia.
    - Hoá trang đơn giản, phủ hợp để dễ thực hiện trong thời gian ngắn.
    IV. PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
    1. Quan niệm về phương pháp trực quan
    a) Thế nào là phương pháp trực quan
    Trực quan là một phương pháp giảng dạy mà giáo viên sử dụng các phương tiện dạy học tác động trực tiếp đến các cơ quan cảm giác của học sinh nhằm đạt hiệu quả cao trong dạy học.
    Các phương tiện trực quan bao gồm:
    + Các vật tượng trưng như: bản đồ, sơ đồ, bảng, biểu.
    + Các vật tạo hình như: tranh ảnh, sa bàn, phim (phim nhựa, phim video), ti vi, máy tính.
    Các phương tiện trực quan được sử dụng rộng rãi ở tất cả các môn trong trường trung học phổ thông, nhất là hiện nay, nhưng tùy theo nội dung kiến thức, đặc điểm môn học và những điều kiện cụ thể mà giáo viên có cách vận dụng một cách sáng tạo sao cho phù hợp.
    - Các phương pháp trực quan có thể bao gồm: phương pháp quan sát trực quan và trình bày trực quan.
    + Quan sát trực quan: được coi là phương pháp nhận thức cảm tính tích cực,
    + Trình bày trực quan: khi trình bày trực quan, học sinh quan sát các phương tiện trực quan dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
    b) Xuất phát điểm của phương pháp trực quan
    Phương pháp trực quan trong việc giảng dạy môm giáo dục công dân là xuất phát từ lý luận nhận thức của triết học duy vật biện chứng:
    " Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan ".
    (Bút ký triết học, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm 1963 trang 189)
    Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Ở giai đoạn này càng có nhiều cơ quan cảm giác tham gia phản ánh sự vật, hiện tượng càng làm cho biểu tượng chính xác, càng có cơ sở cho giai đoạn nhận thức cao hơn - giai đoạn nhận thức lý tính.
    Nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải đi từ những sự vật, hiện tượng, những quá trình cụ thể mà khái quát ra cái chung, cái bản chất, cái tất yếu, và tính quy luật.
    Phương pháp trực quan không những là một trong những phương pháp để hình thành khái niệm lý luận vốn rất trừu tượng mà còn tạo được hứng thú phát huy được tính tích cực trong tư duy của học sinh.
    Ở bậc trung học phổ thông, trình độ tư duy khái quát của học sinh tuy đã phát triển nhưng chưa cao. Do vậy, phương pháp này đóng một vai trò quan trọng. Nó tác động rất mạnh đến trí nhớ của học sinh và giúp cho bài giảng trở nên sinh động, thu hút sự chú ý của người học.
    2. Một số hình thức trực quan trong giảng dạy môn giáo dục công dân
    a) Sử dụng tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ, số liệu
    - Tranh ảnh: Tranh ảnh về Đại hội Đảng, về các chiến dịch, sự đổi mới ở các vùng dân cư, về phát triển kinh tế, công trình xây dựng, sự tàn phá rừng hay về tội ác của đế quốc, tay sai. là rất cần thiết để phục vụ cho bài giảng.
    Tranh ảnh có một ưu thế là rất thuận tiện, minh họa kịp thời. Nó giúp học sinh có ấn tượng sâu sắc về các vấn đề chính trị, xã hội, lòng căm thù giặc sâu sắc, tinh thần dân tộc, bảo vệ môi trường.
    - Sơ đồ, biểu đồ: Bằng sơ đồ, biểu đồ khoa học, giáo viên giúp học sinh thấy được logic khách quan của các quá trình hoặc so sánh một cách hiệu quả, đầy sức thuyết phục một vấn đề nào đó.
    Biểu đồ dùng chỉ sự phát triển có thể là đồ thị, biểu đồ cột.
    Biểu đồ dùng chỉ cấu trúc, tỷ lệ: có thể là biểu đồ tròn.
    - Một số loại bảng:
    + Bảng thống kê số liệu: có tác dụng rất lớn đối với việc chứng minh cho một kết luận hay một luận điểm khoa học nào đó.
    + Bảng tổng kết: Thường dùng để tóm tắt một chương hay một phần trong chương trình. Giá trị của nó là rất cô đọng, súc tích, học sinh dễ có cách nhìn bao quát, nắm được kiến thức cơ bản một cách thuận lợi.
    + Bảng so sánh: Nhằm làm nổi bật sự giống nhau và khác nhau giữa các quá trình, các sự vật, hiện tượng.
    b) Sa bàn, phim ảnh, máy vi tính
    - Sa bàn: Sa bàn là một hình thức thích hợp để tái tạo một sự kiện, một trận đánh. giúp cho bài giảng được cụ thể hóa, gây được hứng thú cho học sinh trong học tập và rất sinh động. Nó không chỉ cung cấp kiến thức trực quan, dễ nhớ, mà còn giáo dục thẩm mỹ, giáo dục tư tưởng rất hiệu quả.
    - Phim ảnh: (bao gồm phim nhựa, phim vidéo)
    Nội dung của phim ảnh có thể đề cập đến phương diện này hay phương diện khác của tri thức môn giáo dục công dân. Cho nên trong những trường hợp có thể được, giáo viên nên triệt để khai thác, để minh họa cho bài giảng.
    Các phim khoa học thường rất gần gũi với các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
    Các phim về tâm lý xã hội rất gần gũi với chủ nghĩa duy vật lịch sử, các vấn đề về đạo đức, về quan hệ giữa con người với con người.
    Những bộ phim có nội dung lịch sử là phương tiện có hiệu quả, trước hết chúng phong phú về nội dung, kết hợp chặt chẽ giữa hình ảnh với lời nói, âm nhạc. Nó tác động tới các giác quan của học sinh, cung cấp một khối lượng thông tin lớn, hấp dẫn khó có nguồn kiến thức nào sánh kịp. Hình ảnh, màu sắc, âm nhạc. giúp cho học sinh có biểu tượng sinh động về quá khứ, hiện tại giúp họ có cảm giác như đang sống cùng sự kiện.
    - Máy vi tính:
    Ngày nay, ở nhiều nước trên thế giới đã sử dụng máy vi tính vào việc giảng dạy như một công cụ của giáo viên. Ở nước ta, có những trường phổ thông đã trang bị máy vi tính nhưng việc sử dụng còn rất hạn chế.
    Do đặc điểm có thể ghi nhớ và lưu trữ hàng loạt chương trình khác nhau, máy vi tính giúp giáo viên có thể xử lý tư liệu nhanh, chuẩn bị trước các hình thức trực quan cần sử dụng trong bài giảng.
    Máy vi tính có tác dụng trong việc rèn luyện tư duy, tạo hứng thú trong học tập.
    Phần mềm dạy học tạo điều kiện để học sinh tìm kiếm thông tin, tư liệu giúp học sinh tự học, tự đánh giá, thực hiện nhiệm vụ học tập một cách tích cực, chủ động.
    c) Tham quan
    Trong môn giáo dục công dân, để phục vụ đắc lực cho giảng dạy, thực hiện nguyên lý lý thuyết gắn liền với thực tế, theo phương châm "tai nghe không bằng mắt thấy". giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tham quan các di tích lịch sử, các viện bảo tàng, các điển hình tiên tiến. Trong điều kiện các trường học còn có nhiều khó khăn để mua sắm, tạo ra các đồ dùng giảng dạy cho bộ môn này thì tổ chức cho học sinh đi tham quan các di tích lịch sử, bảo tàng cách mạng, các điển hình tiên tiến trong sản xuất. là rất cần thiết. Nó có tác dụng củng cố tri thức, phát triển óc suy luận, giáo dục ý thức chính trị, truyền thống cách mạng, giáo dục đạo đức và thẩm mỹ cho học sinh là rất cần thiết và có thể làm được.

    Để tham quan đạt kết quả tốt, giáo viên cần vạch ra kế hoạch cụ thể, rõ ràng về thời gian, địa điểm, mục đích, yêu cầu, nội dung. Sau khi tham quan nên tổ chức thảo luận để đánh giá kết quả hoặc viết thu hoạch.
    3. Một số điểm cần chú ý khi sử dụng phương tiện trực quan trong giảng dạy
    Phương tiện trực quan có những ưu điểm là huy động được các giác quan tham gia quá trình nhận thức, tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, tạo ra sự thoải mái, phát triển óc tư duy, sáng tạo, liên hệ giữa lý thuyết với thực tế.
    Nhưng các phương tiện trực quan cũng có những hạn chế nhất định, vì vậy trong khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chú ý:
    a) Phải đầu tư suy nghĩ, lựa chọn một cách công phu các phương tiện và phương pháp trực quan phục vụ cho nội dung bài giảng.
    Tài liệu phải điển hình, đưa ra đúng lúc, phù hợp với từng vấn đề trong bài giảng, cần bảo đảm tính chính xác, chân thực, rõ ràng. Khi đưa ra các tài liệu trực quan, giáo viên cần phải phân tích kỹ, kết luận đúng đắn. Chỉ như vậy các tài liệu đưa ra mới có sức thuyết phục. Giáo viên cũng có thể hướng dẫn học sinh phân tích, tổng hợp, khái quát thành những vấn đề lý luận nhằm phát triển nhận thức cho học sinh.
    Khi sử dụng tranh ảnh cần lựa chọn. Đối với tranh châm biếm, giáo viên cần nắm chắc chủ đề tư tưởng, tránh nhầm lẫn, nhất là đối với tranh có nhiều biểu tượng.
    Khi sử dụng sa bàn, sơ đồ, phải đảm bảo tính chính xác, chân thực của sự vật được tái tạo, tái hiện.
    Khi tham quan di tích lịch sử, điển hình tiên tiến, giáo viên phải chuẩn bị chu đáo, có kế hoạch, mục đích rõ ràng, tránh biến hình thức này thành buổi du lịch, vui chơi giải trí thuần túy. có khi phản tác dụng giáo dục.
    b) Các hình thức trực quan không chỉ có tác dụng minh họa bài giảng mà có tác dụng với việc hình thành, phát triển và củng cố tri thức cho học sinh. Vì vậy, giáo viên cần đề phòng học sinh chú ý vào những vấn đề, những khía cạnh không chủ yếu.
    c) Trong khi sử dụng tài liệu trực quan cần tránh xu hướng tư duy máy móc, siêu hình, xem xét sự vật, hiện tượng trong sự tách rời, cô lập với sự vật, hiện tượng khác.
    d) Trong suốt giờ học, giáo viên có thể sử dụng các phương tiện trực quan để giảng dạy, phục vụ giảng dạy. Tuy vậy, cần chú ý:
    Nếu sử dụng nó vào đầu giờ học thường là để giới thiệu bài.
    Nếu sử dụng nó trong giờ học nhằm mục đích giảng dạy, minh họa cho bài giảng.
    Nếu sử dụng vào cuối giờ nhằm củng cố bài giảng.
    e) Phương pháp này đòi hỏi phải chuẩn bị rất công phu, tốn kém và không phải bài nào cũng sử dụng nó một cách hiệu quả. Vì vậy, giáo viên cần kết hợp nó với các phương pháp khác một cách nhuần nhuyễn.
    Trong tình hình phát triển của khoa học kỹ thuật như hiện nay, dạy học nói chung, dạy học môn Giáo dục công dân nói riêng có điều kiện thuận rất to lớn trong việc sử dụng những "tài liệu" trực quan. Giáo viên không thể dạy "chay" như trước đây.
    Trên một ý nghĩa nào đó, phương tiện dạy học là sự vật chất hóa nội dung và phương pháp dạy học. Những phương tiện dạy học ngày nay phát triển đến trình độ cao, tạo ra khả năng rất to lớn, đáp ứng một cách hiệu quả cho việc đổi mới phương pháp dạy học. Nó giúp cho giáo viên sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, gây ấn tượng mạnh, có thể "tái tạo" hiện thực một cách sinh động, gây hứng thú cho học sinh.
    Phương tiện dạy học chính là những điều kiện vật chất cần thiết giúp giáo viên và học sinh tổ chức tốt quá trình dạy học, thực hiện các mục tiêu giáo dục, giáo dưỡng. Trong việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, nó là một trong những điều kiện cơ bản, không thể thiếu được để thực hiện có hiệu quả mục tiêu dạy học.
    --- Hết ---
     
    Gửi ý kiến
    print