Thư mục

Dành cho Quảng cáo

  • ViOLET trên Facebook
  • Học thế nào
  • Sách điện tử Classbook
  • Xa lộ tin tức

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Đất Nước... Nguyễn Khoa Điềm

    (Bài giảng chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Liên Quang
    Ngày gửi: 20h:18' 27-11-2010
    Dung lượng: 7.2 KB
    Số lượt tải: 273
    Số lượt thích: 0 người

    Phân tích một đoạn trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) – Nguyễn Khoa Điềm.
    (Nhằm giúp học sinh cách triển khai nội dung cần phân tích nên bài viết chỉ mang tính triển khai nội dung phân tích đơn thuần, chủ yếu là nêu bật các ý chính)

    Đất nước là một đề tài chẳng bao giờ cũ nhưng cũng không còn mới trong văn học nghệ thuật. Đối với thơ ca, điều này càng rõ. Chỉ riêng giai đoạn 1945 – 1975, kho tàng thơ Việt Nam đã tiếp nhận khá nhiều tác phẩm hay : Đất nước (Nguyễn Đình Thi), Ta đi tới (Tố Hữu), Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng ? (Chế Lan Viên), Những người đi tới biển (Thanh Thảo), Đất Nước – trích Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm),...
    Mặt khác, tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” mà Nguyễn Khoa Điềm phát biểu không chỉ là nhận thức của riêng nhà thơ mà còn là của cả thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong những năm chống Mĩ cứu nước (Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Mĩ, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh,...).
    Tuy vậy, mỗi nhà thơ lại có một góc nhìn riêng gắn liền với những trải nghiệm riêng của mình về đất nước... Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm là một minh chứng. Có thể thấy điều đó qua đoạn thơ sau :
    Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
    … …
    Những cuộc đời đã hoá núi sông ta.

    Tám dòng thơ đầu của đoạn thơ thể hiện cảm nhận của nhà thơ về hình tượng đất nước, một đất nước hùng vĩ, một giang sơn gấm vóc.
    Nhà thơ đã nhìn ngắm Đất Nước mình qua các danh thắng trải dài từ Bắc chí Nam. Tất cả các địa danh được nhắc đến đều gắn liền với một huyền thoại, huyền tích và sự thật lịch sử về nhân dân trong lịch sử. Nói cách khác, chính những huyền thoại, huyền tích và sự thật lịch sử về nhân dân đã làm nên tên tuổi của các địa danh ấy, biến chúng thành danh thắng, thành di tích lịch sử, văn hoá được mỗi người thừa nhận và biết đến : những người vợ nhớ chồng – núi vọng phu ; cặp vợ chồng yêu nhau – hòn Trống Mái ; người học trò nghèo – núi Bút, non Nghiên ; Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm...
    Trong con mắt của nhà thơ, mỗi danh thắng không chỉ là một nét vẽ tô điểm vào bức “tranh hoạ đồ” Đất Nước mà còn ẩn chứa những nét đẹp tâm hồn của nhân dân trong mấy nghìn năm lịch sử. Đó là nét đẹp của truyền thống thuỷ chung son sắt và tình nghĩa vợ chồng mặn nồng đã “góp cho”, đã “góp nên”, làm đẹp thêm, tô điểm thêm Đất nước :
    Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
    Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái.
    Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn, Thanh Hoá, Bình Định,... hòn Trống Mái ở Sầm Sơn không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên mà còn là biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam. Tình yêu lứa đôi có thắm thiết, tình nghĩa vợ chồng có thuỷ chung thì Đất nước mới có tượng hình kì thú ấy. Nhà thơ đã vượt lên lối kể tầm thường để có một cách nhìn, một cách diễn đạt mới mẻ đậm tính nhân văn.
    Đó là nét đẹp của tinh thần yêu nước và ý thức hướng về tổ tông, nguồn cội đã trở thành truyền thống của dân tộc :
    Gót ngựa Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
    Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương.
    Các từ ngữ “đi qua còn ... để lại”, “góp mình dựng” đã thể hiện mật cách bình dị mà tự hào về sự thiêng liêng của Tổ quốc, về khí phách anh hùng, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc của nhân dân ta trong xây dựng và bảo vệ Đất Nước.
    Đó là nét đẹp của sự tự hào về núi cao, biển rộng, sông dài :
    Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
    Đất nước ta không những có sông Hồng Hà “đỏ nặng phù sa”, có sông Mã “bờm ngựa phi thác trắng”, có sông Đà “xanh ngọc bích” trữ tình... mà còn có Cửu Long giang với dáng hình “chín ngọn” thơ mộng, ôm ấp huyền thoại kiêu sa. Cửu Long giang nổi tiếng với nước ngọt phù sa, nhiều tôm cá, mênh mông đôi bờ biển lúa bốn mùa.
    Đó còn là nét đẹp của truyền thống hiếu học, ý chí vượt khó vươn lên và tinh thần xả thân vì cộng đồng dân tộc :
    Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên
    Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng
     
     
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓

    print