Thư mục

Hỗ trợ kỹ thuật

  • (Hotline:
    - (04) 66 745 632
    - 0982 124 899
    Email: hotro@violet.vn
    )

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Thư viện Bài giảng điện tử.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    phager độc và phager ôn hoà

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Khương Thị Hằng
    Ngày gửi: 17h:28' 18-03-2011
    Dung lượng: 416.1 KB
    Số lượt tải: 121
    Số lượt thích: 0 người
    chào mừng cô và các bạn
    Bài thảo luận nhóm
    Danh sách nhóm 1
    Vũ Thị Chinh A 7. Vi Văn Anh B
    Khương Thị Hằng A 8. Lê Thị Nhàn A
    Ngô Thị Trang B 9. Trịnh Thị Thành A
    Hồ Thị Hương A 10. Lê Thi Hồng A
    Hồ Thị Mai A 11. Cao Viết Xuân
    Nguyễn Văn Trường A
    Nội dung thảo luận
    Bacteriophage và phương thức sinh sản của virut độc.
    Phage ôn hòa và hiện tượng sinh tan.
    Vấn đề 1: Bacteriophage và phương thức sinh sản của virut.
    Bacteriophage:
    - Gọi tắt là phage: là các virut kí sinh trên vi khuẩn, phân bố rộng rãi trong thiên nhiên.
    - Hầu hết các vi sinh vật nhân sơ đều bị phage xâm nhập.
    - Khi phage xâm nhập vào tế bào vi khuẩn, quá trình phát triển xảy ra theo 2 hướng:
    + Phage nhân lên 1 cách độc lập trong tế bào vi khuẩn sau đó làm tan tế bào vi khuẩn. Những phage làm tan tế bào gọi là phage độc.
    + Axit nucleic của phage sau khi vào tế bào vi khuẩn gia nhập vào NST của vi khuẩn. Hệ gen của phage tồn tại song song với hệ gen của tế bào chủ. Các phage này không làm tan tế bào, ở dạng nghỉ và được gọi là phage ôn hòa.

    2. Các giai đoạn phát triển của phage độc:
    Sự sinh sản của phage độc không phải là sự sing sôi nảy nở như ở vi khuẩn mà là sự nhân lên của 2 thành phần cơ bản (phần vỏ và phần lõi axit nucleic) rồi lắp ráp lại với nhau. Nói chung sự sinh sản của phage độc có thể chia làm 5 giai đoạn:
    - Giai đoạn hấp phụ.
    - Giai đoạn xâm nhập.
    - Giai đoạn tổng hợp các thành phần.
    - Giai đoạn lắp ráp.
    - Giai đoạn giải phóng phage.
    2.1. Giai đoạn hấp phụ:
    Trên tế bào vi khuẩn có các thụ cảm thể, ở đầu lông đuôi của phage có các mút hấp phụ. Sự hấp phụ xảy ra nhờ sự hình thành liên kết hóa học đặc hiệu giữa các điểm thụ thể của vi khuẩn và các mút hấp phụ của phage làm cho 2 thụ thể gắn chặt nhau.
    - Mỗi loại thu thể của 1 loại phage thích ứng với thụ thể của tế bào vi khuẩn như ổ khóa và chìa khóa. VD: Các phage T được hấp phụ lên E.coli,…=> Sự hấp phụ mang tính đặc hiệu cao.
    Quá trình hấp phụ đạt hiệu quả cao, môi trường phải chứa nhiều ion Ca2+, Mg2+…
    H1-Giai đoạn hấp phụ của phage
    2.2. Giai đoạn xâm nhập:
    Cơ chế cởi bỏ vỏ protein:
    Khi phage được hấp phụ lên tế bào vi khuẩn ở điểm thụ thể, thì đĩa gốc được cố định tại điểm đó nhờ đầu mút sợi lông đuôi. Ở đây enzym lysozim được tiết ra phân giải Peptidoglycan của thành tế bào bằng cách cắt đứt mối liên kết Glucozide, các ion Ca++ được giải phóng làm hoạt hóa ATP của phần đuôi, làm bao đuôi co lại, trụ đuôi như một kim tiêm chọc thủng màng sinh chất, ADN của phage theo trụ đuôi được đưa vào trong tế bào chất của vi khuẩn.
    H2-Giai đoạn xâm nhập của phage
    b. Các cơ chế khác:
    - Ngoài cơ chế xâm nhập như trên, ở một số vi rút kí sinh trên động vật, còn thấy cơ chế khác như: ẩm bào hay thực bào, khi gặp virút, tế bào mọc các chân giả bao vây lấy hạt virút (tương tự như amips bắt mồi), Các enzym tế bào chủ (men “cởi áo”) làm tan vỏ protein và giải phóng axit nucleic trong tế bào chủ.
    - Ngay sau khi vào tế bào, axit nucleicc của phage lập tức “tàng hình”, chúng biến đổi chút ít mà không ảnh hưởng gí đến mã thông tin là do đã methyl hóa hay glucozit hóa các vòng pyridimin hoặc purin làm cho tế bào không cảm thấy đó là axit nucleic của phage, axit nucleic của phage có thể ở vào trạng thái gây độc hoặc prophage.
    2.3. Giai đoạn tổng hợp các thành phần của phage:
    - Giai đoạn nhân lên các thành của phage kéo dài 12 phút nhưng tế bào vẫn còn nguyên trạng thậm trí chưa biểu hiện bệnh lý.
    - Các thành phần của phage (axit nucleic và protein) được tổng hợp riêng rẽ ở các nơi khác nhau trong tế bào vi khuẩn sau đó mới kết hợp tạo thành phage hoàn chỉnh:
    + Tổng hợp các axit nucleic bằng những cách sau:
    Từ các vật chất sẵn có của tế bào và khuôn mẫu AND (ARN) của virut, tế bào tiến hành tổng hợp nên các loại enzym đặc hiệu của phage như: AND – polymeraza, ARN – polymeraza, trực tiếp xúc tiến sự tổng hợp các axit nucleic cũng như mARN của phage.
    Sử dụng chính AND – polymeraza của tế bào để tổng hợp nên axit nuleic.
    Một số virut còn có nucleaza để phá hủy các AND và ARN của tế bào giải phóng ra nucleotit tự do, bằng cách đó chúng đã phá hủy vật chất di truyền của tế bào, tận dụng triệt để các vật chất đó để tổng hợp nên các vật chất di truyền của mình.
    Sự tái tạo AND (ARN) hai mạch ở virut thường xảy ra theo cơ chế bán bảo toàn dựa trên nguyên tắc bổ sung, còn các AND (ARN) một mạch thường được tái tạo nhờ một giai đoạn tạo AND (hoặc ARN) trung gian.
    H3-Giai đoạn tổng hợp các tp của phage
    + Tổng hợp protein của virut:
    Quá trình sinh tổng hợp protein của virut cũng xảy ra tương tự như các quá trình tổng hợp protein thông thường trên riborom của vật chủ.
    AND (ARN) -> sao mã -> giải mã.
    Sự tổng hợp protein của virut không diễn ra cùng một lúc. Bằng phương pháp nguyên tử đánh dấu người ta thấy rằng:
    Một vài protein được tổng hợp rất sớm (ngay sau khi virut xâm nhập vào tế bào) gọi là protein đầu kỳ.
    Protein giữa kỳ được tổng hợp muộn hơn một chút.
    Một số protein được tổng hợp rất muộn (ở giai chín và phóng thích) gọi là protein cuối kỳ.
    2.4 Giai đoạn “chín” (lắp ráp)
    Các phân tử protein tụ tập lại để tạo ra phần đầu của phage. Các thành phần protein đuôi phage nhờ lực hấp dẫn phân tử quần hợp lại với nhau với sự tham gia điều khiển của các gen, sau khi độ dài và hình thái của đuôi được xác định, nhờ những va chạm tình cờ mà đầu và đuôi gắn lại với nhau tạo thành phage hoàn chỉnh.
    H4-Giai đoạn lắp ráp
    2.5 Giai đoạn giải phóng phage theo 3 con đường :
    - Nhờ có các enzym do phage mã hóa sinh ra, phá vỡ thành tế bào vi khuẩn từ bên trong, phage được phóng thích ra ngoài khiến tế bào vật chủ bị vỡ và chết hoặc được phóng từ từ, các tế bào vi khuẩn không chết ngay các chức năng cơ bản vẫn tồn tại trong thời gian dài.
    - Phage Fd được phóng thích ra khỏi tế bào chủ bằng con đường đào thải các sản phẩm trao đổi chất của chính tế bào.
    - Trong cơ thể đa bào virut (hecpet, đậu mùa) có thể chui ra khỏi tế bào bằng tạo cầu nối nguyên sinh chất giữa các tế bào lân cận.
    H5. Giai đoạn phóng thích
    Hấp phụ
    Xâm nhập
    Sinh tổng hợp
    Lắp ráp
    Giải phóng
    (1)
    (2)
    (3)
    (4)
    (5)
    Vấn đề 2: Phage ôn hòa và hiện tượng sinh tan (tiềm tan).
    Axit nucleic của phage sau khi vào tế bào vi khuẩn gia nhập vào nhiễm sắc thể của vi khuẩn. Đoạn gen của phage trở thành 1 bộ phận của nhiễm sắc thể vi khuẩn và được gọi là Prophage.
    Tế bào mang Prophage gọi là tế bào sinh tan.
    Phage gây ra hiện tượng sinh tan gọi là phage ôn hòa.
    Hiện tượng sinh tan là hiện tượng hệ gen của phage tồn tại song song với hệ gen của tế bào vi khuẩn.
    Ví dụ: vi khuẩn E.coli K12 bị tan bởi phage (). Do đó, người ta gọi E.coli K12  là các vi khuẩn sinh tan, còn phage () là mọt phage ôn hòa.
    Mối quan hệ giữa tế bào, phage độc và phage ôn hòa:
    Các vi khuẩn sinh tan sẽ sinh ra các phage chín được giải phóng ra ngoài trong hai trường hợp:
    - Tự phát ngẫu nhiên (phản ứng tan): trong quá trình phân chia của các vi khuẩn sinh tan, một tế bào nào đó tự tan và giải phóng ra ngoài các phân tử gây nhiễm ở môi trường. Khả năng này rất hiếm và thay đổi theo loài vi khuẩn và điều kiện môi trường nuôi cấy.
    Gồm các giai đoạn:
    + Phage tấn công tế bào chủ và bơm DNA vào
    + Tái tạo vòng DNA phage
    + DNA và protein của phage được tổng hợp và lắp ghép tạo thành phage mới
    + Tế bào  bị phân giải, giải phóng phage
    - Do cảm ứng đối với tế bào sinh tan (phản ứng sinh tan): các tế bào sinh tan sống và phân chia bình thường cân đối với các phage ôn hòa ở trong genome của mình. Khi có các tác nhân cảm ứng tác động (tia UV, X, elilenimin, peroxit hữu cơ…) các prophage sẽ hoạt động trở lại thành phage gây độc.
    Gồm các giai đoạn:
    + DNA của phage tích hợp vào NST vi khuẩn tạo thành dạng prophage
    + Tế bào vi khuẩn phân chia bình thường, sao chép prophage và truyền cho thế hệ sau
    + Tế bào phân chia tạo ra các tế bào có chứa prophage, dưới ảnh hưởng của các tác nhân cảm ứng sẽ tạo thành phage độc.
    + Một số prophage tồn tại trên NST vi khuẩn, khởi đầu cho chu trình sinh tan
     
    Mối quan hệ giữa tế bào, phage độc và phage ôn hòa
    -Quá trình xâm nhập ở phager diễn ra ở vùng tương đồng hay vùng hấp dẫn( kí hiệu là att )của genom phager  với genom của E.coli giữa gen galactokinase và gen tổng hợp biotine. Ta có sơ đồ sau:




    ABC
    J
    att
    int
    QRS
    att
    int
    J
    CBA
    BSQ
    Genomphager
    Genom của E.coli
    Boi
    Gqal

     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓

    print

    Nhấn Esc để đóng