Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Bài viết nghiên cứu

Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thanh Huyền (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:06' 30-07-2021
Dung lượng: 672.3 KB
Số lượt tải: 15
Số lượt thích: 0 người
Thời thơ ấu
Bài viết 1, P1 (Bài viết 1- Thời thơ ấu của Bác Hồ)
Ảnh

Thời thơ ấu của Bác Hồ qua lời kể của Giáo sư Hoàng Chí Bảo

Chủ đề về thời niên thiếu của Bác rất lôi cuốn chúng ta, vì ai trong cuộc đời cũng trải quả thời thơ ấu nhiều kỷ niệm. Bác Hồ của chúng ta cũng thế. Có điều Bác cất tiếng khóc chào đời trong hoàn cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân chịu áp bức, bóc lột, làm nô lệ, chính vì vậy hình ảnh đó đã để lại dấu ấn tuổi thơ của Bác.

Bác thời nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước; mẹ Bác là bà Hoàng Thị Loan, lúc sinh ra Bác, bà Loan làm nghề dệt lụa và làm ruộng, tần tảo, lam lũ, tham công, tiếc việc, đến ngày sinh nở mới chạy từ đồng về nhà để sinh con. Bác cất tiếng khóc chào đời ngay trên mảnh đất của làng Hoàng Trù, quê ngoại của Bác. Khi sinh Bác, mẹ Bác không có sữa, nên bà ngoại một tay mớm cơm, mớm cháo từ thuở Bác lọt lòng.

Trong gia đình Bác có một người anh trai là Nguyễn Sinh Khiêm (gọi là ông cả Khiêm). Sau này lớn lên, trưởng thành Bác được đặt tên là Nguyễn Tất Thành, anh Bác đặt là Nguyến Tất Đạt. Chị gái Bác là Nguyễn Thị Thanh và bà còn có một tên rất đẹp là Nguyễn Thị Bạch Liên (nghĩa là hoa Sen trắng). Vấn đề này có liên quan đến tên Bác, Bác lấy tên là Hồng Liên (nghĩa là hoa Sen hồng) tương xứng với Bạch Liên là chị gái mình. Bác còn có một người em út tên là Nguyễn Sinh Nhuận, nhưng vì bà Loan sinh em cũng giống lúc sinh Bác là đều mất sữa. Nên Bác phải đi xin cơm, xin cháo nuôi em. Vì thế tên em Bác gọi nôm là Nguyễn Sinh Xin. Vì bà Loan mất sớm nên em trai Bác chỉ sống được 4 tháng tuổi. Bác chứng kiến cảnh mẹ mất, em mất từ tuổi còn thơ ấu. Nên tình cảm thương yêu của Bác nặng lòng, sâu sắc với quê hương, gia đình là vì thế.


Bài viết 1, P2 (Bài viết 1- Thời thơ ấu của Bác Hồ)
Ảnh

Thời ấu thơ, Bác là một cậu bé nhanh nhẹn, khôi ngô và đĩnh đạc, có một linh cảm kỳ diệu là ông ngoại Bác - cụ Hoàng Xuân Đường là người đặt tên cho Bác. Khi biết tin Bác lọt lòng, cụ nói với con Nguyễn Sinh Sắc thắp sáng đèn dầu để cụ xem mặt cháu và đặt tên cho cháu. Mà mới chỉ lọt lòng mà nhìn thoáng qua thôi mà cụ đã thốt lên, “rồi đời cháu tôi sẽ rất vất vả, gian nan. Nhưng cuối cùng cháu tôi sẽ đến đích và toại nguyện”. Và sau này đời Bác cũng rất gian truân, vào tù, thậm chí còn bị tòa án thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt nhưng rồi Bác đã rất thành công và cán đích cuối cùng đó là lập Đảng, lập nước, làm rạng danh cho dân tộc Việt Nam như đúng lời ông ngoại nói.

Văn phòng TW Hội (tổng hợp)


Bài viết khác (Các bài viết về thời thơ ấu của Bác )
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Những kỷ niệm sâu sắc thời thơ ấu của Bác
Thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1911)
Về nơi lưu giữ tuổi thơ của Bác Hồ ở cố đô
Tìm đường cứu nước
Bài viết 2, P1 (Bài viết 2- Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước)
Ảnh

Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và bước ngoặt của cách mạng

Việt Nam

Sự thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam nổ ra từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đã làm cho cách mạng Việt Nam khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc. Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận thấy con đường do những người đi trước mở ra sẽ không giải phóng được dân tộc.

Và ngày 5/6/1911, trên con tàu Amiral Latouche Tréville, từ cảng Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, bắt đầu cuộc hành trình 30 năm tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Vào thời điểm đó, không ai biết rằng vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã gắn liền với quyết định ra đi của một con người mà lịch sử đã chứng tỏ là sáng suốt phi thường ấy.

Với một sự mẫn cảm đặc biệt, Nguyễn Tất Thành không đi sang nước Nhật, không tìm về châu Á mà Người sang nước Pháp, đến tận nơi nước đang cai trị mình, đến tận châu Âu, nơi đang có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, về văn hóa, về chính trị để xem người ta làm như thế nào rồi trở về cứu giúp đồng bào. Bác ra đi, hành trang chỉ là lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, quyết tâm tìm con đường cứu dân.

Sau thời gian ở Pháp, Nguyễn Tất Thành tiếp tục cuộc hành trình đi qua nhiều châu lục khác. Trên suốt chặng đường bôn ba, cuộc sống đầy gian khổ không làm người chùn bước, trái lại, càng tôi luyện, hun đúc lòng yêu nước nồng nàn với mục tiêu giải phóng dân tộc kiên định. Người tranh thủ mọi thời cơ để học hỏi, nghiên cứu các học thuyết cách mạng, hòa mình vào thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản và thuộc địa.


Bài viết 2, P2 (Bài viết 2- Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước)
Ảnh

Chính chủ nghĩa yêu nước cùng với những năm tháng tìm tòi không mệt mỏi về lý luận và hoạt động trong phong trào công nhân quốc tế, người thanh niên Việt Nam Nguyễn Tất Thành bất chấp mọi hiểm nguy, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành nhà hoạt động quốc tế xuất sắc Nguyễn Ái Quốc.

Sớm nhận thức được xu thế phát triển tất yếu của lịch sử và tính chất của thời đại mới mà Cách mạng tháng Mười mở ra, Người đã khám phá ra chân lý “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở về Pháp, sống ở Paris, tham gia những hoạt động của Đảng xã hội Pháp, tham gia trong hoạt động của những người yêu nước Việt Nam tại Pháp. Và đặc biệt, khi tiếp cận được với Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa thì đích Người cần tìm đã đạt được. Luận cương của Lênin đã chỉ ra những điều mà Người đang tìm, tức là chỉ có chủ nghĩa xã hội, chỉ có cách mạng vô sản mới là con đường giải phóng chúng ta.

Sau 30 năm bôn ba, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Người chỉ ra rằng, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, con đường duy nhất phải theo là con đường cách mạng dân tộc dân chủ do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đánh đổ đế quốc, thực dân, giành độc lập dân tộc, sau đó tiến lên thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa.


Bài viết 2, P3 (Bài viết 2- Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước)
Ảnh

Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử của xã hội Việt Nam, trở thành quan điểm xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Đó chính là Đường cách mệnh cho dân tộc ta mà Người đã chọn. Thực tế lịch sử đã chứng minh sự lựa chọn đó là sự lựa chọn lịch sử, sự lựa chọn duy nhất đúng, không thể có sự lựa chọn thứ hai.

Bức họa tái hiện thời khắc Bác cùng các đồng chí trong đoàn về nước (28-1-1941)

Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, lớp lớp thế hệ người Việt Nam đã vững bước trên con đường mà Người đã chọn. Đó là con đường của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường mang tầm nhìn vượt thời gian, đưa đất nước và dân tộc ta vượt qua biết bao khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thoát khỏi nước kém phát triển, từng bước tiến lên “sánh vai với các cường quốc năm châu”, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Thái Bình


Bài viết khác (Các bài viết về Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước)
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và bước ngoặt của cách mạng Việt Nam
Sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước có tính truyền cảm hứng
Kỷ niệm 109 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước 5/6/1911 – 5/6/2020
Vận dụng tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh về “cần, kiệm, liêm, chính” vể xây dựng chuẩn mực người cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay
Chuyện viên gạch hồng sưởi ấm Bác giữa mùa đông
Hồ Chí Minh tìm đường cứu nước
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Đảng Cộng sản VN
Bài viết 3, P1 (Bài viết 3- Bác Hồ với quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam)
Ảnh

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Ðảng ta

Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời mảnh đất Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Người không chọn Nhật hay Trung Quốc như một số người yêu nước Việt Nam đã ra đi, mà Người muốn đến phương Tây, sang chính nước Pháp - nước đang cai trị Việt Nam. Sau đó, Người đi sang Châu Mỹ, đến nước Mỹ, Anh.

Sau 10 năm bôn ba ở nước ngoài (1911-1920), từ một người yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn. Người đã truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nếu từ năm 1921 đến cuối năm 1924, chủ yếu Người chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng, thì từ năm 1925 trở đi, Người chú trọng về mặt tổ chức. Trước hết, Người thành lập một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản, đó là Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, hạt nhân là Cộng sản đoàn. Người mở lớp huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Những cán bộ này sau khi nắm được những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, trở về nước thâm nhập phong trào công nhân và phong trào yêu nước, thực hiện “vô sản hóa”. Nhờ thấm nhuần tư tưởng cách mạng tiên tiến nhất của thời đại, phong trào công nhân chuyển dần từ trình độ “tự phát” sang “tự giác” mà một nội dung có ý nghĩa quan trọng là giai cấp công nhân đã giác ngộ về chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng vô sản, giác ngộ về sự cần thiết phải có Đảng Cộng sản. Tháng 6/1925, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập được thành lập, là cơ sở để xây dựng Đảng Cộng sản và thực hiện sứ mệnh lịch sử là chuẩn bị về tư tưởng, lý luận, chính trị và tổ chức cán bộ cho sự ra đời của Đảng Cộng sản.


Bài viết 3, P2 (Bài viết 3- Bác Hồ với quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam)
Ảnh

Ngày 17/6/1929, tại số nhà 132 phố Khâm Thiên (Hà Nội) các đồng chí trong Kỳ bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Sau khi ra đời, Đông Dương Cộng sản Đảng hoạt động mạnh mẽ và phát triển nhanh tổ chức trong cả nước.

Việc thành lập An Nam Cộng sản Đảng cũng diễn ra, ngày 16/8/1929, đã thành lập chi bộ An Nam Cộng sản ở Gò Công, Mỹ Tho. Giữa tháng 9/1929, thành lập đặc ủy An Nam Cộng sản ở Hậu Giang.

Ở Trung Kỳ, nhiều thanh niên trí thức đã sớm xây dựng tổ chức yêu nước, Hội Phục Việt ra đời vào tháng 7/1925, sau đó đổi thành Hội Hưng Nam (1926), Việt Nam cách mạng đồng chí hội (tháng 7/1927), Tân Việt cách mạng Đảng (tháng 7/1928), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (tháng 1/1930).

Như vậy, trong những tháng cuối của năm 1929, từ hai tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Tân Việt cách mạng Đảng đã dẫn tới thành lập ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Từ thực tế đó, phản ánh nhu cầu bức bách của cách mạng Việt Nam đòi hỏi phải có một Đảng Cộng sản mới đủ sức lãnh đạo và tổ chức các phong trào.


Bài viết 3, P3 (Bài viết 3- Bác Hồ với quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam)
Ảnh

Cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc đến Hồng Kông, tại đây thay mặt cho Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập hội nghị đại biểu các tổ chức cộng sản trong nước để hợp nhất thành một Đảng Cộng sản. Trong báo cáo gửi Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc viết: “Đã hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam “Quốc dân Đảng”. Chúng tôi họp vào ngày mồng 6/1. Với tư cách là phái viên của Quốc tế cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, tôi nói cho họ biết những sai lầm và họ phải làm gì.

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 6/1 đến đầu tháng 2/1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc (Đồng chí Nguyễn Ái Quốc - phái viên của Quốc tế Cộng sản, Ủy viên Bộ phương Đông phụ trách Cục phương Nam của quốc tế Cộng sản). Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đề ra ý kiến chỉ đạo với 5 điểm lớn:

“1. Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương;

2. Định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam;

3. Thảo Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng;

4. Định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước;

5. Cử một Ban Trung ương lâm thời gồm chín người, trong đó có hai đại biểu chi bộ cộng sản Trung Quốc ở Đông Dương.”[2]


Bài viết 3, P4 (Bài viết 3- Bác Hồ với quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam)
Ảnh

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam phản ánh các điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Đông Dương đã chín muồi với vai trò to lớn của Nguyễn Ái Quốc và các chiến sĩ cộng sản. Nguyễn Ái Quốc đã sớm đặt vấn đề “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?”. Và Người đã giải thích: “Trước hết phải có đảng cách mạng, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”.[3]

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Chủ nghĩa Mác-Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930. Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”[4].

Từ khi có Đảng, lịch sử dân tộc Việt Nam bước sang một trang mới, 54 dân tộc anh em trên đất nước bước sang một cuộc đời mới. Trong những ngày thiêng liêng khi Đảng ta mới ra đời, đánh dấu bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người tiêu biểu cho sự kiên trì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cho lòng nhân ái và tinh hoa khí phách, trí tuệ Việt Nam, đã ra lời kêu gọi “Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập. Đó là Đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta. Từ nay anh em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng”.


Bài viết 3, P5 (Bài viết 3- Bác Hồ với quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam)
Ảnh

Đảng ta mang bản chất giai cấp công nhân. Đồng thời, người cộng sản có vinh dự to lớn là mọi người Việt Nam yêu nước, dù đảng viên hay không phải đảng viên đều tự hào gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta”, “Đảng của mình”. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, tức là Đảng trực tiếp lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo Nhà nước, thì Đảng phải lấy dân làm gốc; phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân. Nội dung Đảng gắn bó với dân có nhiều, nhưng quan trọng nhất là biết lắng nghe ý kiến của dân, học hỏi dân, khai thác và chắt lọc trí tuệ của dân, chăm lo lợi ích cho cả dân tộc. “Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ” [5].

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng Đảng theo những nguyên tắc Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, mà trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ. Lênin coi đây là thước đo quan trọng nhất để đánh giá một đảng có thật sự cách mạng, chân chính hay không. Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh nguyên tắc hàng đầu này, trước hết ở sự gắn bó và thống nhất của hai mặt dân chủ và tập trung trong một nguyên tắc. Tập trung phải trên cơ sở của dân chủ. Ngược lại, nếu dân chủ mà không tập trung thì Đảng không có sức mạnh. Nguyên tắc tập trung dân chủ làm cho Đảng vừa phát huy được trí tuệ, vừa tập trung thống nhất ý chí hành động của đảng viên, làm cho “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh chỉ như một người”. Gắn liền với nguyên tắc này là nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; là tự phê bình và phê bình. Đây là ba trụ cột thuộc vấn đề tổ chức, lãnh đạo và sinh hoạt trong công tác xây dựng Đảng.


Bài viết 3, P6 (Bài viết 3- Bác Hồ với quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam)
Ảnh

Trong quá trình rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh cũng thường xuyên quan tâm tới tư cách đảng viên và vấn đề cán bộ. Trên cơ sở đánh giá cao vai trò của cán bộ, đảng viên, Người luôn yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng bản thân như việc rửa mặt hằng ngày, trên cả hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau đức và tài, lấy đức làm gốc. Bởi vì nếu không có đạo đức cách mạng thì cũng giống như “sông không có nguồn, cây không có gốc”. Đặc biệt, “vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?” [6]. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Mỗi đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Trải qua 90 năm trưởng thành và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng tỏ được vai trò lịch sử của mình, đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam đấu tranh giành độc lập tự do thống nhất tổ quốc và từng bước xây dựng thành công xã hội mới, xã hội chủ nghĩa.

Hà Chi (tổng hợp)


Bài viết khác (Bác Hồ với thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam)
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam
Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Giành chính quyền
Bài viết 4, P1 (Bài viết 4- Bác Hồ với quá trình đấu tranh giành chính quyền)
Ảnh

Bác Hồ với Cách mạng Tháng Tám

(Baonghean.vn) - Thắng lợi Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một trong những thắng lợi nổi bật vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, là mốc son chói lọi trong lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi đó gắn liền với công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Một ngày đầu tháng 2/1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Bác Hồ trở về Tổ quốc. Trong sự lùng sục điên cuồng của bọn thực dân, phát xít Pháp - Nhật, Bác phải nương náu khi ở trong hang đá, khi ở một hốc núi tại hang Pác Bó, tỉnh Cao Bằng. Tại đây, Bác bắt đầu làm công việc “nhóm lửa” như lời một bài thơ Người viết: “Lúc leo lét bắt đầu nhóm lửa/ Biết bao nhiêu là sự khó khăn?...”.

Nhưng trong gian nan, vất vả đó, sự tinh anh của những người con của Đảng quang vinh mà đứng đầu là Bác Hồ kính yêu lại có những phán đoán, nhận định tài tình. Bác và Trung ương dự đoán rằng, chiến tranh thế giới thứ 2 sẽ kết thúc, Liên Xô sẽ thắng và “lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”, “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Trong lúc đó, vào những ngày đầu tháng 3/1945, có dấu hiệu Nhật sẽ hất cẳng Pháp. Đảng và Bác Hồ đặt câu hỏi “Nếu điều đó xảy ra Đảng ta sẽ làm gì?”. Với tinh thần của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 trước đó, Bác Hồ và Trung ương Đảng đã họp mở rộng vào ngày 9/3/1945. Đó cũng chính là lúc tiếng súng Nhật đảo chính Pháp rộ lên. Cách mạng đang đi vào thời kỳ “tiền khởi nghĩa”.


Bài viết 4, P2 (Bài viết 4- Bác Hồ với quá trình đấu tranh giành chính quyền)
Ảnh

Ngày 12/3/1945 Đảng ta ra chỉ thị: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Như một tia chớp, chỉ thị truyền đi. Phong trào đấu tranh chính trị và vũ trang kể cả khởi nghĩa từng phần của nhân dân ta diễn ra sôi nổi trên nhiều địa phương, nhất là ở Bắc Bộ. Lúc này, nạn đói đang diễn ra nghiêm trọng, đó cũng là một trong những lý do để Đảng ta chủ trương “phá kho thóc địch, giải quyết nạn đói”. Phong trào bùng lên và chính cuộc đấu tranh rộng lớn về kinh tế đã thổi lên ngọn lửa đấu tranh chống Nhật, phá chính quyền của địch, đưa quần chúng nhân dân vào cuộc khởi nghĩa từng phần, lập ra chính quyền cách mạng ở địa phương.Từ tháng 4 đến tháng 7/1945, nhiều sự kiện quan trọng diễn ra. Bác Hồ quyết định phải tổ chức ngay Đại hội Đại biểu quốc dân. Người nói:“Có thể còn thiếu một số đại biểu chưa về kịp, cũng phải họp. Nếu không, không thể kịp được trước tình hình mới”. Người nhấn mạnh: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã đến, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Ngày 15/8/1945, tại Hà Nội, bọn bù nhìn thân Nhật lập ra chính quyền “độc lập” giả hiệu, nghênh đón đồng minh, thay thầy đổi chủ. Nhưng quần chúng đã đứng về phía Việt Minh. Chiều 17/8, hàng vạn người kéo đến Nhà hát Thành phố dự mít tinh do chính quyền bù nhìn tổ chức, nhưng chúng đâu có ngờ, đây chính là người của Việt Minh, do chính Việt Minh huy động để sẵn sàng xoay lại thế cờ. Quả vậy, trong phút chốc, lá cờ đỏ sao vàng rộng lớn được trương lên trước đông đảo nhân dân. Cán bộ Việt Minh chiếm lấy diễn đàn, nói rõ chương trình cứu nước của mình. Từ sáng sớm ngày 19/8, cả Hà Nội mọc lên một rừng cờ đỏ sao vàng. Một ngày đẹp trời của mùa thu lịch sử. Cuộc Tổng khởi nghĩa chỉ diễn ra trên mười ngày. Những tỉnh khởi nghĩa sớm nhất bắt đầu từ ngày 17/8. Ngày 19 cả Hà Nội đứng dậy, ngày 23 ở Huế, ngày 25 lan đến Sài Gòn…


Bài viết 4, P3 (Bài viết 4- Bác Hồ với quá trình đấu tranh giành chính quyền)
Ảnh

Chập tối ngày 26/8/1945, Bác Hồ về đến Hà Nội. Người chủ tọa phiên họp đầu tiên của Ban Thường vụ Trung ương, bởi vì Cách mạng thành công, nhưng chính quyền cấp trung ương chưa được thành lập. Hàng loạt công việc mới mẻ, sự kiện mới mẻ dồn dập ập đến với những người cách mạng. Tình hình hết sức khẩn trương, Ban Thường vụ Trung ương quyết định ngay một số công tác cấp bách. Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào bầu ra được mở rộng thêm thành Chính phủ lâm thời. Một số đại biểu trước đây nay tự nguyện xin rút để nhường chỗ trong Chính phủ cho các nhân sĩ, trí thức yêu nước. Khẩu hiệu của Đảng ta lúc này là "Đoàn kết toàn dân", "Tổ quốc trên hết", "Dân tộc trên hết"…

Ngày 2/9/1945, lễ ra mắt Chính phủ lâm thời được tổ chức tại Quảng trường Ba Đình. Dưới nắng thu đẹp, Hà Nội rực l ên trong một rừng người, một rừng cờ, một rừng hoa. Những biểu ngữ "Nước Việt Nam của người Việt Nam", "Độc lập hay là chết", "Ủng hộ Chính phủ lâm thời", "Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh"… căng dọc, ngang khắp phố phường Hà Nội. Hàng triệu triệu người con đất Việt, cả non sông đất nước Việt Nam, chăm chú lắng nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người khẳng định với dân tộc, với thế giới, với loài người một chân lý: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

Một nhà nước cách mạng non trẻ ra đời giữa vòng vây thù địch của bè lũ thực dân, đế quốc và các thế lực phản động trong và ngoài nước. Bác Hồ và Đảng ta đã chèo lái con thuyền cách mạng đi tới bến bờ vinh quang. Phải nói, nếu không có bộ óc vĩ đại của Người và không có sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta… thì tình thế sẽ ra sao? Cách mạng Tháng Tám 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thật sự in đậm dấu ấn tài năng và uy tín của Bác Hồ kính yêu.

Thái Bình (Tổng hợp)


Bài viết khác (Bác Hồ với quá trình đấu tranh giành chính quyền)
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cách mạng Tháng Tám
Chủ tịch Hồ Chí Minh với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám
Bác Hồ chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Hai cuộc kháng chiến
Bài viết 5, P1 (Bài viết 5- Bác Hồ với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ)
Ảnh

Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến dịch Điện Biên Phủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, Người thầy vĩ đại của Cách mạng Việt Nam. Người đã sớm hoạch định đường lối đúng đắn cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cùng Bộ Chính trị, Trung ương Đảng ta trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo nhiều chiến dịch lớn. Người thực sự là linh hồn của những chiến công vang dội mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu’, “chấn động địa cầu.

Cuối tháng 9/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa cuộc họp Bộ Chính trị bàn và quyết định kế hoạch tác chiến Đông - Xuân (1953 - 1954). Sau khi nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình chiến sự, Người nhấn mạnh phương châm: “Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt” và nhắc: “Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn... Phương hướng chiến lược không thay đổi. Về hướng hoạt động, lấy Tây Bắc làm hướng chính, các hướng khác phối hợp. Hướng chính hiện nay không thay đổi, nhưng trong hành động có thể thay đổi. Phép dùng binh là thiên biến vạn hóa”.

Thực hiện cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân, quân và dân ta đã làm đảo lộn kế hoạch chiến tranh của Pháp - Mỹ, làm xoay chuyển cục diện chiến trường có lợi cho ta. Trong khi Nava tập trung quân xây dựng lực lượng cơ động chiến lược để có “quả đấm” mạnh, thì những chiến dịch của quân ta trên các chiến trường, đặc biệt là hướng Lai Châu, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Tây Nguyên và Thượng Lào làm cho quân địch hết sức bị động, lúng túng, phải căng mỏng lực lượng ra đối phó.


Bài viết 5, P2 (Bài viết 5- Bác Hồ với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ)
Ảnh

Tháng 11/1953, Nava cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, xây dựng thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, xương sống của “Kế hoạch Nava”. Lực lượng của địch ở đây lên tới 16.000 quân, bao gồm 17 tiểu đoàn bộ binh, 03 tiểu đoàn pháo binh, 01 tiểu đoàn công binh, 01 đại đội xe tăng, 01 đại đội xe vận tải, 01 phi đội máy bay thường trực cùng nhiều vũ khí hiện đại của Pháp và Mỹ nhằm làm bàn đạp chiếm lại Tây Bắc, khống chế chiến trường Lào, đồng thời giữ quân chủ lực ta ở Việt Bắc để quân Pháp rảnh tay hoạt động ở đồng bằng Bắc Bộ và đánh chiếm Liên khu 5. Mặc dù có tới 50 vạn quân, bao gồm cả quân ngụy, nhưng Nava không thể đối phó với cuộc tiến công của quân ta trên khắp các chiến trường.

Đầu tháng 12/1953, sau khi phân tích kỹ tình hình địch, ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tư lệnh và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Người chỉ thị cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”. Như vậy, Điện Biên Phủ trở thành điểm quyết chiến chiến lược giữa ta và địch trên toàn bộ chiến trường Đông Dương.

Tháng 01/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Bộ Chính trị chỉ định cơ quan lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được tín nhiệm giao nắm toàn quyền về quân sự: Tổng Tư lệnh, Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch Điện Biên Phủ. Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, quân và dân ta tích cực, khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Đầu tháng 3/1954, công tác chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ đã hoàn tất.


Bài viết 5, P3 (Bài viết 5- Bác Hồ với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ)
Ảnh

Trước khi b

468x90
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓