Bài 10. Đồng chí

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trịnh thành Hoài
Ngày gửi: 21h:41' 13-08-2021
Dung lượng: 546.6 KB
Số lượt tải: 52
Nguồn:
Người gửi: Trịnh thành Hoài
Ngày gửi: 21h:41' 13-08-2021
Dung lượng: 546.6 KB
Số lượt tải: 52
Số lượt thích:
0 người
ĐỒNG CHÍ
( Chính Hữu)
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
1948
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí !
ĐỒNG CHÍ
Chính Hữu
-Chính Hữu tên thật là Trần Đình Đắc(1926- 2007) quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
- Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Ông bắt đầu làm thơ năm 1947, thơ ông hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh.
- Ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.
Tác giả
Tác phẩm
- Viết năm 1948
- Là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất viết về người lính trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
- Thể thơ: tự do
Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí !
BỐ CỤC
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Cơ sở của tình đồng chí
Biểu tượng đẹp về tình đồng chí
Bảy câu thơ đầu :
Mười câu thơ tiếp theo :
Ba câu thơ cuối :
3. Phân tích
a. Cơ sở hình thành tình đồng chí ( 7 câu thơ đầu):
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
- Nước mặn đồng chua: vùng đất nhiễm mặn ven biển, hoặc khu đồng chiêm trũng, nước ngập hay nhiễm phèn có độ chua cao, đất xấu khó cấy cày.
- Đất cày lên sỏi đá : vùng đồi núi, trung du, khô cằn, nhiều sỏi đá, khó trồng trọt
* Họ xuất thân cùng giai cấp nghèo khó, cùng là người nông dân mặc áo lính.
* Thành ngữ, cấu trúc sóng đôi, lời tâm tình mộc mạc, đậm chất quê.
Là những người đồng cảnh ngộ, giai cấp.
Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
- Điệp từ, vế câu đối xứng, hình ảnh sóng đôi, vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý nghĩa ẩn dụ, tượng trưng. “Súng bên súng” là chung nhiệm vụ chiến đấu; “đầu sát bên đầu” là cùng chung chí hướng, chung lí tưởng. Họ luôn sát cánh bên nhau trong mọi khó khăn, nguy hiểm.
Là những người đồng chí hướng (chung mục đích, lí tưởng chiến đấu)
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ.
Đồng chí!
Là những người đồng cảm
=> Câu đặc biệt, tiếng thốt lên đầy tự hào ; sự đồng cảnh, đồng ngũ, đồng cảm đã nâng lên thành tình đồng chí thiêng liêng
- Các anh từ mọi miền đất nước, vốn là những người xa lạ, các anh đã cùng tập hợp trong một đội ngũ và trở nên thân quen.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
- Mối tình tri kỉ của những người bạn chí cốt được biểu hiện bằng một hìn ảnh cụ thể, giản dị, gợi cảm:
Chính trong những ngày gian khó, các anh đã trở thành tri kỉ của nhau,để cùng nhau chịu đựng sự thiếu thốn, khó khăn ,cùng nhau vượt qua cái giá lạnh mùa đông, trong một cuộc sống đầy gian nan.
Là những người đồng cảm (cùng chung khó khăn, thiếu thốn)
“Đồng chí!”
“Đồng chí!” là một câu đặc biệt, câu cảm thán. Đó là tiếng gọi thiêng liêng của những người có chung chí hướng lí tưởng vang lên từ sâu thẳm tâm hồn người lính.. Tình đồng chí là đỉnh cao của tình bạn, tình người, là kết tinh của mọi tình cảm, là cội nguồn sức mạnh để người lính vượt qua những tháng ngày khó khăn gian khổ. Dòng thơ thứ bảy có ý nghĩa như một bản lề gắn kết đoạn đầu và đoạn thứ hai của bài thơ, là điểm nhấn, là mạch cảm xúc chung cho toàn bài.
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÌNH ĐỒNG CHÍ
Đồng cảnh:
Cùng chung Hoàn cảnh xuất thân
Đồng chí hướng:
Cùng chung nhiệm vụ, lí tưởng
Đồng cảm:
Cùng chung khó khăn, thiếu thốn
Xa lạ quen nhau tri kỉ Đồng chí: Cơ sở vững chắc, thiêng liêng, cao đẹp
2. Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí (10 câu tiếp theo):
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
- Ba câu thơ đầu cho em biết tình đồng chí ở đây được biểu hiện qua sự cảm thông, hiểu những tâm tư, nỗi lòng của nhau. Những lúc ngồi cận kề bên nhau, các anh đã kể cho nhau nghe chuyện quê nhà : ruộng nương,gian nhà, giếng nước, gốc đa.
- Từ "mặc kệ" vốn chỉ thái độ thờ ơ vô tâm của con người, nhưng trong lời thơ của Chính Hữu lại thể hiện được sự quyết tâm của người lính khi ra đi cứu nước tạm quên tình riêng gia đình, nhưng sâu xa trong lòng họ vẫn da diết nhớ q.hương.
- “ Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” Hình ảnh hoán dụ cùng với nghệ thuật nhân hóa, Chính Hữu đã tạo ra nỗi nhớ hai chiều: quê hương nhớ và đợi chờ các anh, các anh luôn hướng về quê hương . Có lẽ chính nỗi nhớ ấy đã tiếp thêm cho các anh sức mạnh để các anh chiến đấu giành lại độc lập cho dân tộc.
Hình ảnh “gian nhà không” vừa gợi cái nghèo, cái xơ xác của những miền quê lam lũ, vừa- gợi sự trống trải trong lòng người ở lại.
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Rét run người vầng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
- Năm câu tiếp theo tình đồng chí còn được biểu hiện qua sự thông cảm với nhau về bệnh tật trong chiến đấu mà người lính mắc phải. Trong thiếu thốn, các anh đã cùng chia sẻ ốm đau bệnh tật, cùng trải qua những cơn sốt rét rừng ghê gớm, cùng chia sẻ những thiếu thốn về vật chất, bằng niềm lạc quan “miệng cười buốt giá”, bằng tình yêu thương gắn bó “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” . Đây là cách thể hiện tình cảm rất lính. “Tay nắm lấy bàn tay” để truyền cho nhau hơi ấm của tình đồng đội, truyền cho nhau sức mạnh của tình đồng chí. Cái nắm tay ấy còn là lời hứa hẹn lập công.
- NT: Sử dụng hình ảnh sóng đôi đối xứng “anh – tôi”, “áo anh – quần tôi” tạo được sự gắn kết của những người đồng chí luôn kề vai sát cánh, đồng cam cộng khổ bên nhau.
Ba dòng thơ cuối cùng đã gợi bức tranh đẹp về tình đ/c, đồng đội của người lính, là biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”
Trên cảnh rừng hoang sương muối là 3 hình ảnh gắn kết với nhau: người lính, khẩu súng, vầng trăng.
=> Tác dụng của ba hình ảnh này: Làm nên sức mạnh của tình đồng đội giúp họ vượt lên những khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ thiếu thốn.
- Từ “chờ “ thể hiện tư thế chủ động của người lính trong đêm phục kích cũng là tư thế chủ động của toàn dân ta.
- “Đầu súng trăng treo”. Câu thơ gợi từ hiện thực: đêm về khuya, người lính đứng gác trong tư thế chủ động, súng chĩa lên trời, trăng lên cao, ánh trăng trên đầu súng khiến các anh tưởng như trăng đang treo trên đầu súng của mình. Súng là biểu tượng của cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh, trăng là biểu tượng của cuộc sống hòa bình trong tương lai . Súng là biểu tượng của người chiến sĩ, trăng là biểu tượng của thi sĩ.
=> Qua bài thơ này,ta thấy hiện lên vẻ đẹp bình dị mà cao cả của anh bộ đội thời kháng chiến chống Pháp
- Họ xuất thân từ nông dân…
- Họ đã trải qua những gian lao, thiếu thốn tột cùng.
- Ở họ đẹp nhất là tình đồng đội, đồng chí keo sơn, gắn bó…
=> Tình đồng chí là tình cảm vô cùng thiêng liêng, là cội nguồn sức mạnh giúp người lính CM trong k/c chống Pháp “khoét nui,ngủ hầm,mưa dầm,cơm vắt” làm nên chiến thắng “lẫy lừng năm châu,chấn động địa cầu”. Tình đồng chí ấy được phát huy và thể hiện sức mạnh qua hình ảnh anh giải phóng quân trong cuộc k/c chống Mỹ làm nên đại thắng mùa xuân 1975. Các anh – những người lính cách mạng – anh bộ đội Cụ Hồ và tình đồng chí cao đẹp mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc ta.
III. Tổng kết:
Nghệ thuật
-Thể thơ tự do với những câu dài ngắn đan xen đã giúp cho nhà thơ diễn tả hiện thực và bộc lộ cảm xúc một cách linh hoạt.
- Hình ảnh thơ cụ thể,xác thực mà giàu sức khái quát.Ngôn ngữ thơ hàm súc,cô đọng,giàu sức biểu cảm.
2 Nội dung: Bài thơ thể hiện hình tượng người lính cách mạng- thời kì chống Pháp, và sự gắn bó keo sơn của họ qua những chi tiết hình ảnh, ngôn ngữ giản dị.
( Chính Hữu)
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
1948
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí !
ĐỒNG CHÍ
Chính Hữu
-Chính Hữu tên thật là Trần Đình Đắc(1926- 2007) quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
- Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Ông bắt đầu làm thơ năm 1947, thơ ông hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh.
- Ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.
Tác giả
Tác phẩm
- Viết năm 1948
- Là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất viết về người lính trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
- Thể thơ: tự do
Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí !
BỐ CỤC
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Cơ sở của tình đồng chí
Biểu tượng đẹp về tình đồng chí
Bảy câu thơ đầu :
Mười câu thơ tiếp theo :
Ba câu thơ cuối :
3. Phân tích
a. Cơ sở hình thành tình đồng chí ( 7 câu thơ đầu):
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
- Nước mặn đồng chua: vùng đất nhiễm mặn ven biển, hoặc khu đồng chiêm trũng, nước ngập hay nhiễm phèn có độ chua cao, đất xấu khó cấy cày.
- Đất cày lên sỏi đá : vùng đồi núi, trung du, khô cằn, nhiều sỏi đá, khó trồng trọt
* Họ xuất thân cùng giai cấp nghèo khó, cùng là người nông dân mặc áo lính.
* Thành ngữ, cấu trúc sóng đôi, lời tâm tình mộc mạc, đậm chất quê.
Là những người đồng cảnh ngộ, giai cấp.
Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
- Điệp từ, vế câu đối xứng, hình ảnh sóng đôi, vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý nghĩa ẩn dụ, tượng trưng. “Súng bên súng” là chung nhiệm vụ chiến đấu; “đầu sát bên đầu” là cùng chung chí hướng, chung lí tưởng. Họ luôn sát cánh bên nhau trong mọi khó khăn, nguy hiểm.
Là những người đồng chí hướng (chung mục đích, lí tưởng chiến đấu)
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ.
Đồng chí!
Là những người đồng cảm
=> Câu đặc biệt, tiếng thốt lên đầy tự hào ; sự đồng cảnh, đồng ngũ, đồng cảm đã nâng lên thành tình đồng chí thiêng liêng
- Các anh từ mọi miền đất nước, vốn là những người xa lạ, các anh đã cùng tập hợp trong một đội ngũ và trở nên thân quen.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
- Mối tình tri kỉ của những người bạn chí cốt được biểu hiện bằng một hìn ảnh cụ thể, giản dị, gợi cảm:
Chính trong những ngày gian khó, các anh đã trở thành tri kỉ của nhau,để cùng nhau chịu đựng sự thiếu thốn, khó khăn ,cùng nhau vượt qua cái giá lạnh mùa đông, trong một cuộc sống đầy gian nan.
Là những người đồng cảm (cùng chung khó khăn, thiếu thốn)
“Đồng chí!”
“Đồng chí!” là một câu đặc biệt, câu cảm thán. Đó là tiếng gọi thiêng liêng của những người có chung chí hướng lí tưởng vang lên từ sâu thẳm tâm hồn người lính.. Tình đồng chí là đỉnh cao của tình bạn, tình người, là kết tinh của mọi tình cảm, là cội nguồn sức mạnh để người lính vượt qua những tháng ngày khó khăn gian khổ. Dòng thơ thứ bảy có ý nghĩa như một bản lề gắn kết đoạn đầu và đoạn thứ hai của bài thơ, là điểm nhấn, là mạch cảm xúc chung cho toàn bài.
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÌNH ĐỒNG CHÍ
Đồng cảnh:
Cùng chung Hoàn cảnh xuất thân
Đồng chí hướng:
Cùng chung nhiệm vụ, lí tưởng
Đồng cảm:
Cùng chung khó khăn, thiếu thốn
Xa lạ quen nhau tri kỉ Đồng chí: Cơ sở vững chắc, thiêng liêng, cao đẹp
2. Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí (10 câu tiếp theo):
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
- Ba câu thơ đầu cho em biết tình đồng chí ở đây được biểu hiện qua sự cảm thông, hiểu những tâm tư, nỗi lòng của nhau. Những lúc ngồi cận kề bên nhau, các anh đã kể cho nhau nghe chuyện quê nhà : ruộng nương,gian nhà, giếng nước, gốc đa.
- Từ "mặc kệ" vốn chỉ thái độ thờ ơ vô tâm của con người, nhưng trong lời thơ của Chính Hữu lại thể hiện được sự quyết tâm của người lính khi ra đi cứu nước tạm quên tình riêng gia đình, nhưng sâu xa trong lòng họ vẫn da diết nhớ q.hương.
- “ Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” Hình ảnh hoán dụ cùng với nghệ thuật nhân hóa, Chính Hữu đã tạo ra nỗi nhớ hai chiều: quê hương nhớ và đợi chờ các anh, các anh luôn hướng về quê hương . Có lẽ chính nỗi nhớ ấy đã tiếp thêm cho các anh sức mạnh để các anh chiến đấu giành lại độc lập cho dân tộc.
Hình ảnh “gian nhà không” vừa gợi cái nghèo, cái xơ xác của những miền quê lam lũ, vừa- gợi sự trống trải trong lòng người ở lại.
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Rét run người vầng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
- Năm câu tiếp theo tình đồng chí còn được biểu hiện qua sự thông cảm với nhau về bệnh tật trong chiến đấu mà người lính mắc phải. Trong thiếu thốn, các anh đã cùng chia sẻ ốm đau bệnh tật, cùng trải qua những cơn sốt rét rừng ghê gớm, cùng chia sẻ những thiếu thốn về vật chất, bằng niềm lạc quan “miệng cười buốt giá”, bằng tình yêu thương gắn bó “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” . Đây là cách thể hiện tình cảm rất lính. “Tay nắm lấy bàn tay” để truyền cho nhau hơi ấm của tình đồng đội, truyền cho nhau sức mạnh của tình đồng chí. Cái nắm tay ấy còn là lời hứa hẹn lập công.
- NT: Sử dụng hình ảnh sóng đôi đối xứng “anh – tôi”, “áo anh – quần tôi” tạo được sự gắn kết của những người đồng chí luôn kề vai sát cánh, đồng cam cộng khổ bên nhau.
Ba dòng thơ cuối cùng đã gợi bức tranh đẹp về tình đ/c, đồng đội của người lính, là biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”
Trên cảnh rừng hoang sương muối là 3 hình ảnh gắn kết với nhau: người lính, khẩu súng, vầng trăng.
=> Tác dụng của ba hình ảnh này: Làm nên sức mạnh của tình đồng đội giúp họ vượt lên những khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ thiếu thốn.
- Từ “chờ “ thể hiện tư thế chủ động của người lính trong đêm phục kích cũng là tư thế chủ động của toàn dân ta.
- “Đầu súng trăng treo”. Câu thơ gợi từ hiện thực: đêm về khuya, người lính đứng gác trong tư thế chủ động, súng chĩa lên trời, trăng lên cao, ánh trăng trên đầu súng khiến các anh tưởng như trăng đang treo trên đầu súng của mình. Súng là biểu tượng của cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh, trăng là biểu tượng của cuộc sống hòa bình trong tương lai . Súng là biểu tượng của người chiến sĩ, trăng là biểu tượng của thi sĩ.
=> Qua bài thơ này,ta thấy hiện lên vẻ đẹp bình dị mà cao cả của anh bộ đội thời kháng chiến chống Pháp
- Họ xuất thân từ nông dân…
- Họ đã trải qua những gian lao, thiếu thốn tột cùng.
- Ở họ đẹp nhất là tình đồng đội, đồng chí keo sơn, gắn bó…
=> Tình đồng chí là tình cảm vô cùng thiêng liêng, là cội nguồn sức mạnh giúp người lính CM trong k/c chống Pháp “khoét nui,ngủ hầm,mưa dầm,cơm vắt” làm nên chiến thắng “lẫy lừng năm châu,chấn động địa cầu”. Tình đồng chí ấy được phát huy và thể hiện sức mạnh qua hình ảnh anh giải phóng quân trong cuộc k/c chống Mỹ làm nên đại thắng mùa xuân 1975. Các anh – những người lính cách mạng – anh bộ đội Cụ Hồ và tình đồng chí cao đẹp mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc ta.
III. Tổng kết:
Nghệ thuật
-Thể thơ tự do với những câu dài ngắn đan xen đã giúp cho nhà thơ diễn tả hiện thực và bộc lộ cảm xúc một cách linh hoạt.
- Hình ảnh thơ cụ thể,xác thực mà giàu sức khái quát.Ngôn ngữ thơ hàm súc,cô đọng,giàu sức biểu cảm.
2 Nội dung: Bài thơ thể hiện hình tượng người lính cách mạng- thời kì chống Pháp, và sự gắn bó keo sơn của họ qua những chi tiết hình ảnh, ngôn ngữ giản dị.
 







Các ý kiến mới nhất