Tuần 8. Nhưng nó phải bằng hai mày

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hương Lan
Ngày gửi: 09h:53' 17-11-2021
Dung lượng: 121.0 MB
Số lượt tải: 41
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hương Lan
Ngày gửi: 09h:53' 17-11-2021
Dung lượng: 121.0 MB
Số lượt tải: 41
Số lượt thích:
0 người
*KHỞI ĐỘNG
NHÌN HÌNH ĐOÁN TÊN TRUYỆN
NHÌN HÌNH ĐOÁN TÊN TRUYỆN
LẬT Ô, NHÌN HÌNH ĐOÁN TÊN TRUYỆN
1
8
2
7
3
4
5
6
Points
QUAY THƯỞNG
VHDG
TRUYỆN CƯỜI
NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY
HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Khái niệm truyện cười
2. Đặc điểm và phân loại
3. Truyện cười:“Nhưng nó phải bằng hai mày”
a. Đọc
Văn bản: Nhưng nó phải bằng hai mày
“Làng kia có một viên lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi.
Một hôm nọ, Cải và Ngô đánh nhau, rồi mang nhau đi kiện. Cải sợ kém thế, lót trước cho thầy lí năm đồng. Ngô biện chè lá những mười đồng. Khi xử kiện, thầy lí nói:
-Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt một chục roi.
Cải vội xòe năm ngón tay, ngẩng mặt nhìn thầy lí, khẽ bẩm:
-Xin xét lại, lẽ phải về con mà!
Thầy lí cũng xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, nói:
-Tao biết mày phải…nhưng nó lại phải…bằng hai mày!”
(Sgk/tr80)
SÂN KHẤU HÓA TÁC PHẨM VĂN HỌC (DIỄN KỊCH)
3 phần
+ Mở truyện (Câu 1): Giới thiệu về nhân vật lí trưởng và tài đặc biệt của y.
+ Thân truyện (Tiếp ->“lẽ phải thuộc về con mà”): Diễn biến vụ kiện giữa Ngô và Cải nhờ lí trưởng xử.
+ Kết truyện (Còn lại): Lời giải thích của lí trưởng cho cách xử kiện của mình.
b. Thể loại:
c. Bố cục:
Truyện cười trào phúng.
II.TÌM HIỂU VĂN BẢN
HOẠT ĐỘNG NHÓM:
- Số lượng: 4 nhóm
-Thời gian: 3 phút
Thảo luận nhóm
CÂU HỎI
Trong truyện cười “Nhưng nó phải bằng hai mày”:
Nhóm 1: Mở đầu truyện, tác giả dân gian đã giới thiệu cho ta biết điều gì? Theo em, cách giới thiệu này có tác dụng gì cho câu chuyện kể?
Nhóm 2: Em có nhận xét gì về cách xử kiện của thầy lí? Cách xử kiện như vậy đã gây phản ứng gì?
Nhóm 3: Lời nói và hành động của Cải có ý nghĩa gì?
Nhóm 4: Viên lí trưởng đã có cách xử lí như thế nào trước hành động và phản ứng của nhân vật Cải? Phân tích ý nghĩa những cử chỉ của viên lí trưởng?
Nhóm 1: Mở đầu truyện, tác giả dân gian đã giới thiệu cho ta biết điều gì? Theo em, cách giới thiệu này có tác dụng gì cho câu chuyện kể?
1. Đối tượng gây cười
- Quan lại tham nhũng (lí trưởng).
- Người dân ít hiểu biết (Cải, Ngô).
* Trước khi xử kiện
- Câu mở đầu:
+ Giới thiệu nhân vật lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi-> lời nhận định, lời đánh giá cao, lời khen tài xử kiện của thầy Lí.
II.TÌM HIỂU VĂN BẢN
+
+ Cải, Ngô đánh nhau rồi mang nhau kiện. Cải sợ kém thế lót trước thầy lí năm đồng. Ngô biện chè lá mười đồng -> hành động nhận tiền đút lót của thầy lí trái với lời khen ngợi.
-> Dụng ý: Thể hiện bản chất của quan lại là tham lam, ăn hối lộ.
=> Tạo mâu thuẫn cho câu chuyện.
Nhóm 2: Em có nhận xét gì về cách xử kiện của thầy lí? Cách xử kiện như vậy đã gây phản ứng gì?
Nhóm 3: Lời nói và hành động của Cải có ý nghĩa gì?
* Khi xử kiện:
- Cách xử kiện:
+ Thầy lí không điều tra, không phân tích mà kết án ngay
+ Cải phản ứng“ Cải vội xoè năm ngón tay … lẽ phải về con mà”
-> Lời nói và động tác đầy ẩn ý, gây cười:
5 ngón tay = 5 đồng = lẽ phải
Nhóm 4: Viên lí trưởng đã có cách xử lí như thế nào trước hành động và phản ứng của nhân vật Cải? Phân tích ý nghĩa những cử chỉ của viên lí trưởng?
+ Cử chỉ và hành động của lí trưởng: “Cũng xoè năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt”
-> Ý nghĩa: 10 ngón tay = 10 đồng đã nhận của Ngô (gấp đôi của Cải) = gấp đôi lẽ phải. Vì vậy, lẽ phải đã bị cái khác úp lên che lấp, ai nhiều ti
ền sẽ thắng.
+ Cử chỉ và hành động của lí trưởng: “Cũng xoè năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt”
-> Ý nghĩa: 10 ngón tay = 10 đồng đã nhận của Ngô (gấp đôi của Cải) = gấp đôi lẽ phải. Vì vậy, lẽ phải đã bị cái khác úp lên che lấp, ai nhiều tiền sẽ thắng.
=> Với thầy lí, lẽ phải được đo bằng tiền, thuộc về kẻ nhiều tiền. Đồng tiền là thước đo công lí, là "tiêu chuẩn" xử kiện.
* Kết thúc truyện:
- Lời nói của lí trưởng: “Tao biết mày phải, nhưng nó phải bằng hai mày!”
-> Lối chơi chữ: “phải”
-> Kiểu chơi chữ độc đáo, chỉ quan hệ giữa số lượng và chất lượng (vừa có lí, vừa vô lí). Vô lí trong xử kiện, có lí trong thực tế
*Ý nghĩa truyện
- Phê phán quan lại tham nhũng ngày xưa.
- Tình cảnh bi hài của người dân lao động xưa.
III. TỔNG KẾT (Sgk/tr80)
1. Nghệ thuật
- Sự kết hợp lời nói với cử chỉ.
- Chơi chữ độc đáo.
2. Nội dung
-Vạch trần lối xử kiện vì tiền của quan lại.
- Người lao động vừa đáng thương, vừa đáng trách.
Đọc văn bản:
Một ông quan lớn đến hiệu thợ may may một cái áo thật sang để tiếp khách. Biết quan xưa nay nổi tiếng luồn cúi quan trên, hách dịch với dân, người thợ may hỏi:
– Xin quan lớn cho biết ngài may chiếc áo này để tiếp ai ạ?
Quan chạm lòng tự ái, cau mày lại:
– Nhà ngươi muốn biết như thế để làm gì?
Người thợ may liền đáp:
– Thưa ngài, con hỏi để may cho vừa. Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt
đằng trước phải may ngắn đi dăm tấc, còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen, thì
vạt đằng sau phải may ngắn lại.
Quan ngẫm nghĩ một hồi, gật gù cho là chí lý, truyền:
– Thế thì nhà ngươi may cho ta cả hai kiểu.
(Nguồn: “Hai kiểu áo” – Kho tàng Truyện cười dân gian Việt Nam)
*LUYỆN TẬP
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là gì?
Câu 2: Câu chuyện trên bàn về sự việc gì?
Câu 2: Người thợ may đã gợi ý may cho quan chiếc áo như thế nào ?
Câu 4: Ý nghĩa của câu chuyện trên là gì?
Gợi ý đáp án:
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính là Tự sự.
Câu 2: Câu chuyện trên bàn về việc ông quan lớn đi may áo.
Câu 3: Người thợ may đã gợi ý may cho quan “may cho vừa. Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt đằng trước phải may ngắn đi dăm tấc, còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen, thì vạt đằng sau phải may ngắn lại”.
Câu 4: Ý nghĩa câu chuyện:
-Phê phán cách ứng xử của quan lớn (luồn cúi, hách dịch)
-Người dân lao động dần có sự hiểu biết, ứng xử tế nhị (người thợ may gợi ý cach may áo cho quan).
* TÌM TÒI, MỞ RỘNG
- Chia sẻ một vấn đề tâm đắc nhất của bài học hôm nay.
- Sưu tầm 3 truyện cười dân gian Việt Nam khác.
CHÚC CÁC EM HỌC SINH
SỨC KHỎE, THÀNH CÔNG VÀ HẠNH PHÚC
NHÌN HÌNH ĐOÁN TÊN TRUYỆN
NHÌN HÌNH ĐOÁN TÊN TRUYỆN
LẬT Ô, NHÌN HÌNH ĐOÁN TÊN TRUYỆN
1
8
2
7
3
4
5
6
Points
QUAY THƯỞNG
VHDG
TRUYỆN CƯỜI
NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY
HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Khái niệm truyện cười
2. Đặc điểm và phân loại
3. Truyện cười:“Nhưng nó phải bằng hai mày”
a. Đọc
Văn bản: Nhưng nó phải bằng hai mày
“Làng kia có một viên lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi.
Một hôm nọ, Cải và Ngô đánh nhau, rồi mang nhau đi kiện. Cải sợ kém thế, lót trước cho thầy lí năm đồng. Ngô biện chè lá những mười đồng. Khi xử kiện, thầy lí nói:
-Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt một chục roi.
Cải vội xòe năm ngón tay, ngẩng mặt nhìn thầy lí, khẽ bẩm:
-Xin xét lại, lẽ phải về con mà!
Thầy lí cũng xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, nói:
-Tao biết mày phải…nhưng nó lại phải…bằng hai mày!”
(Sgk/tr80)
SÂN KHẤU HÓA TÁC PHẨM VĂN HỌC (DIỄN KỊCH)
3 phần
+ Mở truyện (Câu 1): Giới thiệu về nhân vật lí trưởng và tài đặc biệt của y.
+ Thân truyện (Tiếp ->“lẽ phải thuộc về con mà”): Diễn biến vụ kiện giữa Ngô và Cải nhờ lí trưởng xử.
+ Kết truyện (Còn lại): Lời giải thích của lí trưởng cho cách xử kiện của mình.
b. Thể loại:
c. Bố cục:
Truyện cười trào phúng.
II.TÌM HIỂU VĂN BẢN
HOẠT ĐỘNG NHÓM:
- Số lượng: 4 nhóm
-Thời gian: 3 phút
Thảo luận nhóm
CÂU HỎI
Trong truyện cười “Nhưng nó phải bằng hai mày”:
Nhóm 1: Mở đầu truyện, tác giả dân gian đã giới thiệu cho ta biết điều gì? Theo em, cách giới thiệu này có tác dụng gì cho câu chuyện kể?
Nhóm 2: Em có nhận xét gì về cách xử kiện của thầy lí? Cách xử kiện như vậy đã gây phản ứng gì?
Nhóm 3: Lời nói và hành động của Cải có ý nghĩa gì?
Nhóm 4: Viên lí trưởng đã có cách xử lí như thế nào trước hành động và phản ứng của nhân vật Cải? Phân tích ý nghĩa những cử chỉ của viên lí trưởng?
Nhóm 1: Mở đầu truyện, tác giả dân gian đã giới thiệu cho ta biết điều gì? Theo em, cách giới thiệu này có tác dụng gì cho câu chuyện kể?
1. Đối tượng gây cười
- Quan lại tham nhũng (lí trưởng).
- Người dân ít hiểu biết (Cải, Ngô).
* Trước khi xử kiện
- Câu mở đầu:
+ Giới thiệu nhân vật lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi-> lời nhận định, lời đánh giá cao, lời khen tài xử kiện của thầy Lí.
II.TÌM HIỂU VĂN BẢN
+
+ Cải, Ngô đánh nhau rồi mang nhau kiện. Cải sợ kém thế lót trước thầy lí năm đồng. Ngô biện chè lá mười đồng -> hành động nhận tiền đút lót của thầy lí trái với lời khen ngợi.
-> Dụng ý: Thể hiện bản chất của quan lại là tham lam, ăn hối lộ.
=> Tạo mâu thuẫn cho câu chuyện.
Nhóm 2: Em có nhận xét gì về cách xử kiện của thầy lí? Cách xử kiện như vậy đã gây phản ứng gì?
Nhóm 3: Lời nói và hành động của Cải có ý nghĩa gì?
* Khi xử kiện:
- Cách xử kiện:
+ Thầy lí không điều tra, không phân tích mà kết án ngay
+ Cải phản ứng“ Cải vội xoè năm ngón tay … lẽ phải về con mà”
-> Lời nói và động tác đầy ẩn ý, gây cười:
5 ngón tay = 5 đồng = lẽ phải
Nhóm 4: Viên lí trưởng đã có cách xử lí như thế nào trước hành động và phản ứng của nhân vật Cải? Phân tích ý nghĩa những cử chỉ của viên lí trưởng?
+ Cử chỉ và hành động của lí trưởng: “Cũng xoè năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt”
-> Ý nghĩa: 10 ngón tay = 10 đồng đã nhận của Ngô (gấp đôi của Cải) = gấp đôi lẽ phải. Vì vậy, lẽ phải đã bị cái khác úp lên che lấp, ai nhiều ti
ền sẽ thắng.
+ Cử chỉ và hành động của lí trưởng: “Cũng xoè năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt”
-> Ý nghĩa: 10 ngón tay = 10 đồng đã nhận của Ngô (gấp đôi của Cải) = gấp đôi lẽ phải. Vì vậy, lẽ phải đã bị cái khác úp lên che lấp, ai nhiều tiền sẽ thắng.
=> Với thầy lí, lẽ phải được đo bằng tiền, thuộc về kẻ nhiều tiền. Đồng tiền là thước đo công lí, là "tiêu chuẩn" xử kiện.
* Kết thúc truyện:
- Lời nói của lí trưởng: “Tao biết mày phải, nhưng nó phải bằng hai mày!”
-> Lối chơi chữ: “phải”
-> Kiểu chơi chữ độc đáo, chỉ quan hệ giữa số lượng và chất lượng (vừa có lí, vừa vô lí). Vô lí trong xử kiện, có lí trong thực tế
*Ý nghĩa truyện
- Phê phán quan lại tham nhũng ngày xưa.
- Tình cảnh bi hài của người dân lao động xưa.
III. TỔNG KẾT (Sgk/tr80)
1. Nghệ thuật
- Sự kết hợp lời nói với cử chỉ.
- Chơi chữ độc đáo.
2. Nội dung
-Vạch trần lối xử kiện vì tiền của quan lại.
- Người lao động vừa đáng thương, vừa đáng trách.
Đọc văn bản:
Một ông quan lớn đến hiệu thợ may may một cái áo thật sang để tiếp khách. Biết quan xưa nay nổi tiếng luồn cúi quan trên, hách dịch với dân, người thợ may hỏi:
– Xin quan lớn cho biết ngài may chiếc áo này để tiếp ai ạ?
Quan chạm lòng tự ái, cau mày lại:
– Nhà ngươi muốn biết như thế để làm gì?
Người thợ may liền đáp:
– Thưa ngài, con hỏi để may cho vừa. Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt
đằng trước phải may ngắn đi dăm tấc, còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen, thì
vạt đằng sau phải may ngắn lại.
Quan ngẫm nghĩ một hồi, gật gù cho là chí lý, truyền:
– Thế thì nhà ngươi may cho ta cả hai kiểu.
(Nguồn: “Hai kiểu áo” – Kho tàng Truyện cười dân gian Việt Nam)
*LUYỆN TẬP
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là gì?
Câu 2: Câu chuyện trên bàn về sự việc gì?
Câu 2: Người thợ may đã gợi ý may cho quan chiếc áo như thế nào ?
Câu 4: Ý nghĩa của câu chuyện trên là gì?
Gợi ý đáp án:
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính là Tự sự.
Câu 2: Câu chuyện trên bàn về việc ông quan lớn đi may áo.
Câu 3: Người thợ may đã gợi ý may cho quan “may cho vừa. Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt đằng trước phải may ngắn đi dăm tấc, còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen, thì vạt đằng sau phải may ngắn lại”.
Câu 4: Ý nghĩa câu chuyện:
-Phê phán cách ứng xử của quan lớn (luồn cúi, hách dịch)
-Người dân lao động dần có sự hiểu biết, ứng xử tế nhị (người thợ may gợi ý cach may áo cho quan).
* TÌM TÒI, MỞ RỘNG
- Chia sẻ một vấn đề tâm đắc nhất của bài học hôm nay.
- Sưu tầm 3 truyện cười dân gian Việt Nam khác.
CHÚC CÁC EM HỌC SINH
SỨC KHỎE, THÀNH CÔNG VÀ HẠNH PHÚC
 







Các ý kiến mới nhất