Bài 10. Bài thơ về tiểu đội xe không kính

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Tạ Quang Ngọc
Ngày gửi: 20h:10' 21-11-2021
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 71
Nguồn:
Người gửi: Tạ Quang Ngọc
Ngày gửi: 20h:10' 21-11-2021
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 71
Số lượt thích:
0 người
hình ảnh người lính
trong các tác phẩm
thơ văn hiện đại
TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NAY
I. Đôi nét về tình hình lịch sử và văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến nay.
1.Lịch sử
Cách mạng tháng 8/1945 thắng lợi. Nền độc lập kéo dài một năm. Cuối năm 1946, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Nghe theo lời kêu gọi của Bác, cả nước đứng lên chống Pháp với một tinh thần: “Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”
7/5/1954, kháng chiến kết thúc thắng lợi, Miền Bắc được giải phóng, Miền Nam bắt đầu kháng chiến chống Mỹ.
Hàng vạn thanh niên miền Bắc lên đường cầm súng chiến đấu. Hàng vạn thanh niên xung phong xẻ núi, phá bom mở đường. Đánh Mỹ trở thành lý tưởng của thời đại. Thôi thúc các thế hệ nối tiếp nhau ra trận.
Ngày 30/4/1975 kháng chiến kết thúc thắng lợi khép lại lịch sử 30 năm kiên cường chiến đấu chống Pháp - Mỹ. Người lính lại trở về cuộc sống đời thường, xây dựng quê hương đất nước.
2. Văn học
- Các sáng tác của các nhà văn, nhà thơ đã bám sát cuộc kháng chiến đầy gian khổ, hào hùng của dân tộc để phản ánh chân thực về cuộc kháng chiến.
Nội dung phản ánh:
+ Lòng yêu nước, khát vọng hoà bình
+ Tinh thần chiến đấu dũng cảm, vượt mọi khó khăn.
+ Tình người cao đẹp.
II. Hình ảnh người lính trong văn học hiện đại từ sau 1945 đến nay.
Đồng chí (Chính Hữu)- S¸ng t¸c n¨m 1948.
Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật) – S¸ng t¸c n¨m 1969.
1. Xuất thân:
- Từ những người nông dân vốn quen với cấy cày, ruộng đồng, sống cuộc đời lam lũ ở khắp các miền quê.
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
(Đồng chí-Chính Hữu)
Là những học sinh, sinh viên rời ghế nhà trường xung phong đi chiến đấu (những chiến sĩ lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”).
Họ là những người nông dân, học sinh, sinh viên…đều từ nhân dân mà ra vì nhân dân mà chiến đấu.
2. Lý tưởng cao đẹp
- Họ là những người cùng chung một lý tưởng cao đẹp: chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc.
3. Hoàn cảnh sống chiến đấu
Thiên nhiên khắc nghiệt và thực tế ở chiến trường.
“Đêm nay rừng hoang sương muối”
(Đồng chí-Chính Hữu)
“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Bụi phun tóc trắng như người già.
Mưa tu«n mưa xối như ngoài trời”
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính
- Phạm Tiến Duật)
Cuộc chiến đấu diễn ra trong mọi hoàn cảnh: trong đêm đông lạnh buốt, hay nắng lửa mưa ngàn, nơi chiến trường ác liệt. Người lính phải gắng vượt lên tất cả để hoàn thành nhiệm vụ.
b. Bệnh tật, bom đạn đe doạ sự sống.
- “Sốt run người vầng chán ướt mồ hôi”
(Đồng chí – Chính Hữu)
“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính -Phạm Tiến Duật)
Cuộc sống chiến đấu ở chiến trường đầy gian khổ, thiếu thốn. Những cơn sốt rét rừng hành hạ, ốm đau thiếu thuốc men, bom đạn rình rập đe doạ sự sống, chiến tranh ác liệt, người lính phải đối mặt với hiểm nguy.
c. Trang bị thô sơ, thiếu thốn.
“Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Chân không giày”
(Đồng chí-Chính Hữu)
“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy”
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính-Phạm Tiến Duật)
Trong những năm tháng kháng chiến, người lính phải vượt qua muôn vàn khó khăn, thiếu thốn về trang bị, cái ăn cái mặc, vũ khí đánh giặc.
Tóm lại: Bằng những hình ảnh chân thực, sống động, những nét vẽ không màu. Thơ ca đã gieo vào lòng người đọc những xúc động lắng sâu về hoàn cảnh sống, chiến đấu vô cùng gian khổ, thiếu thốn, hy sinh, thử thách, của những người lính cách mạng-những anh bộ đội cụ Hồ. Đất nước gian lao, cuộc đời người lính cách mạng cũng đầy khó khăn thử thách. Người lính có vượt lên chiến thắng mọi hoàn cảnh mới chiến thắng được kẻ thù. Thơ ca đã ghi lại những hình ảnh về những năm tháng không thể quên của lịch sử dân tộc.
4. Vẻ đẹp phẩm chất.
Giàu lòng yêu nước
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Lµng t«i nghÌo ®Êt cµy lªn sái ®¸
Anh víi t«i ®«i ngêi xa l¹
Tự phương trời chẳng hẹn cũng quen nhau
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”
(Đồng chí-Chính Hữu)
“Không có kính rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.”
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật)
Những người lính ra đi từ mọi miền quê của đất nước, họ gác lại những tình cảm ước mơ riêng, băng qua bom đạn, vượt qua mọi khó khăn, để tiến về phía trước. Quyết tâm ra đi chiến đấu để bảo vệ độc lập. Tất cả đều bắt nguồn từ lòng yêu nước sâu sắc.
b. Dũng cảm, kiên cường
“Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”
(Đồng chí-Chính Hữu)
“Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn th¼ng.
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim”
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính-Phạm Tiến Duật)
Những người lính dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu. Mọi khó khăn gian khổ, bom đạn của kẻ thù lùi lại phía sau bởi ở họ có một lòng yêu nước sâu sắc, một lý tưởng cao đẹp “Đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”. Với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”.
c. Tình đồng chí gắn bó
“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”.
(Đồng chí-Chính Hữu)
“Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”.
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính-Phạm Tiến Duật)
Với ba nữ thanh niên xung phong: Họ yêu thương, chia sẻ mọi niềm vui, nỗi buồn trong công việc, trong cuộc sống. Phương Định băng bó vết thương và chăm sóc cho Nho, chia cho Nho niềm vui nho nhỏ khi thấy mưa đá ở Trường Sơn. Chị Thao lo lắng khi Nho bị thương.
Đó là tình cảm sẻ chia ấm áp, gắn bó keo sơn như tình anh em ruột thịt. Trong gian nan thử thách, tình đồng đội càng toả sáng, trong chiến đấu gian khổ, đồng đội là nguồn động viên là cánh tay dìu đỡ, là người chia lửa khi giáp mặt quân thù.
d. Lạc quan, tin tưởng
“Đầu súng trăng treo”
(Đồng chí-Chính Hữu)
- “Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính-Phạm Tiến Duật)
Đó là niềm lạc quan của cả một thế hệ, ra trận đánh giặc thành khát vọng tuổi trẻ. Người lính luôn tin vào chân lý sáng ngời của thời đại. Niềm lạc quan, yêu đời giúp họ thêm sức mạnh chiến thắng mọi hoàn cảnh.
Tóm lại: Dù hoàn cảnh chiến đấu còn đầy những cam go, thử thách, vẻ đẹp phẩm chất cách mạng của người lính vẫn rạng ngời toả sáng.Thơ ca kháng chiến đã tập trung phản ánh, tôn lên dáng đứng của những con người mới trong cuộc chiến đấu chống xâm lược: Yêu nước, căm thù giặc, lạc quan, gắn bó đoàn kết. Đó phải chăng là vẻ đẹp của con người thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Họ chính là những bài ca đi cùng năm tháng, bất tử với thời gian.
Câu hỏi thảo luận:
Trong vẻ đẹp phẩm chất cách mạng của người lính, đâu là vẻ đẹp truyền thống,đâu là nét mới của thời đại?
* Giống nhau:Là những con người mang lý tưởng yêu nước, chiến đấu quên mình cho độc lập tự do,tình đồng đội keo sơn thắm thiết.Trang bị thiếu thốn,thô sơ, cuộc sống chiến đấu vô cùng gian khổ.
*Khác nhau :
-Người lính trong kháng chiến chống Pháp:Phần lớn xuất thân từ nông dân, cuộc sống nhiều thiếu thốn,trang bị vũ khí thô sơ.
-Người lính trong kháng chiến chống Mỹ:trẻ trung,sôi nổi hơn, xuất thân từ nhiều tầng lơp, có người là học sinh-sinh viên,trang bị có phần hiện đại hơn.
III. Luyện tập
Những cảm nhận của em về khổ thơ cuối trong tác phÈm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.(ViÕt ®o¹n v¨n tõ 8 ®Õn 10 c©u theo c¸ch lËp luËn quy n¹p)
Đoạn văn
Đọc thơ Phạm Tiến Duật, người đọc dễ dàng nhận ra hình ảnh quen thuộc thường gặp đó là hình ảnh người lính .Bốn câu thơ cuối bài "Bài thơ về tiểu đọi xe không kính" đã dựng lên hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính,rất bất ngờ,thú vị.Hai câu thơ đầu dồn dập những mất mát, khó khăn do giặc Mỹ gieo xuống: xe không kính, không đèn,không mui, thùng xe xước.Điẹp ngữ "không có" như nhân lên thử thách khốc liệt.Nhưng vượt lên những mất mát ,khó khăn,đoàn xe vẫn hăm hở tiến ra phía trước, hưóng ra tiền tuyến với một tình cảm thiêng liêng:Vì miền Nam vì cuộc chiến đấu giành độc lập,thống nhất đât nước.Đặc biệt toả sáng trong đoạn thơ là hình ảnh :``Trong xe có một trái tim".Sức mạnh của cả đoàn xe,gốc rễ phẩm chất anh hùng của người cầm lái đọng kết lại ở trái tim người lính.Một trái tim của tình yêu tổ quốc, tình yêu thưong đồng bào miền Nam đã khích lệ,động viên người chiến sỹ lái xe vượt qua mọi gian khổ, luôn lạc quan ,bình tĩnh chắc tay lái đưa những đoàn xe thẳng tiến về miền Nam. Bốn câu thơ đã thể hiện rõ niềm tin và sức mạnh tinh thần của những người lính lái xe trong thời kì kháng chiến chống đế quốc Mỹ.
NGHỊ LUẬN VĂN HỌC: ĐỐI VỚI ĐỀ THI HSG VĂN 9 THƯỜNG RA DƯỚI DẠNG PHÂN TÍCH, LÀM SÁNG TỎ MỘT Ý KIẾN, MỘT NHẬN ĐỊNH.
CẤU TRÚC MỘT BÀI NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH MỘT Ý KIẾN, NHẬN ĐỊNH
Dàn ý của dạng bài giải quyết một vấn đề lí luận văn học:
Dàn ý chung phần thân bài như sau:
Thao tác Nội dung Mức độ tư duy:
Mở bài: Tùy theo yêu cầu của đề để có những hướng tiếp cận mở bài khác nhau.
2. Thân bài:
2.1. Giải thích:
– Giải thích các thuật ngữ, các từ ngữ, hình ảnh khó hiểu trong nhận định.
– Chốt vấn đề nghị luận: Như vậy, vấn đề cần bàn ở đây là gì? (Đọc – Hiểu)
22. Bàn luận:
– Sử dụng các kiến thức lí luận văn học để lí giải vấn đề nghị luận.
– Trả lời cho câu hỏi “vì sao?” (Vận dụng Tổng hợp)
2.3. Chứng minh:
– Chọn chi tiết trong tác phẩm để làm rõ các biểu hiện của vấn đề nghị luận. (Phân tích)
+Luận điểm 1:
+Luận điểm 2:
+Luận điểm 3:
…………
2.4. Đánh giá:
– Đánh giá tính đúng đắn của vấn đề nghị luận.
– Bổ sung, phản biện lại vấn đề (Nếu có) (Đánh giá)
2.5. Liên hệ:
3. Kết bài.
Rút ra bài học cho nhà văn trong quá trình vận dụng sáng tác và bạn đọc trong quá trình tiếp nhận.
Khi làm bài, cần vận dụng linh hoạt các bước trên nhưng nhất thiết phải có đầy đủ các thao tác này để bài viết không bị mất điểm.
Câu 2 (12 điểm)
Bàn về thơ có ý kiến: Bài thơ hay là bữa tiệc ngôn từ. Trong khi đó lại có ý kiến cho rằng: Gốc của thơ là tình cảm.
I. Mở bài.
Giới thiệu vấn đề nghị luận, trích dẫn ý kiến.
II. Thân bài:
1. Giải thích (3đ)
– Thơ hay là bữa tiệc ngôn từ: ý nói cái hay của bài thơ trước hết là nhờ cái hay của ngôn từ (sống động, phong phú…), giống như sự hấp dẫn của những ”món ăn” ngon bằng ngôn từ.
– Gốc của thơ là tình cảm: nhấn mạnh tư tưởng tình cảm là then chốt quyết định giá trị của một bài thơ.
=>Hai ý kiến là hai cách định nghĩa về thơ có sự nối tiếp những quan niệm trước đó. Một bên khẳng định sức mạnh của thơ là ở ngôn từ, một bên khẳng định sức mạnh của thơ nằm ở tư tưởng, tình cảm chứ không phải ở ngôn từ.
2* Lý giải,Khẳng định tính đúng đắn của vấn đề (6đ )
– Nói thơ hay là bữa tiệc ngôn từ bởi vì: một bài thơ ngôn ngữ trúc trắc, sáo rỗng, tầm thường thì không thể gọi là thơ hay. Ngược lại, bài thơ hay là khi nó bày ra trước độc giả một “bữa tiệc ngôn từ”, với những ngôn từ được nhà thơ công phu lựa chọn, tổ chức, biến nó trở thành nghệ thuật
– Gốc của thơ là tình cảm bởi vì: thơ là chuyện của tâm hồn, của lòng người cho nên việc thể hiện tất cả mọi vui buồn trong cuộc đời là một nhu cầu bức thiết của thơ. Hơn nữa tình cảm ấy thường tiêu biểu, điển hình, khơi dậy trong trái tim người đọc những rung động sâu xa,
=>Mỗi ý kiến đều xác đáng nhưng chưa toàn diện, chưa khái quát được đặc trưng thơ ca vì:
+ Nếu người nghệ sĩ chỉ chú ý rèn câu đúc chữ mà không chú ý đến nội dung tư tưởng của tác phẩm thì sáng tác thơ ca chỉ là những kỹ xảo vờn vẽ, là lối thơ chuộng hình thức. Thơ ca chỉ neo đậu vững chắc trong bạn đọc khi nó có nội dung tư tưởng sâu sắc, hình thức thể hiện độc đáo.
+ Gốc của thơ là tình cảm, sức sống của thơ là tư tưởng, nhưng các nhà thơ từ xưa đến nay nếu không muốn lặp lại người khác và lặp lại chính mình thì quá trình sáng tác đòi hỏi người nghệ sĩ phải tìm đến “bữa tiệc ngôn từ”.
=>Tóm lại một tác phẩm hay,có giá trị phải đầy đủ hai yếu tố:thơ về tiểu đội xe không kính hội tụ cả hai yếu tố đó.
3* Phân tích, chứng minh.
a. Luận điểm1. Bài thơ về tiểu đôi xe không kính là bữa tiệc ngôn từ.
- Nhan đề bài thơ khá dài,thu hút người đọc ở vẻ mới lạ, độc đáo.
+Bài thơ có cách đặt đầu đề hơi lạ. Bởi rõ ràng đây là một bài thơ, vậy mà tác giả lại ghi là “bài thơ” - cách ghi như thế có vẻ hơi thừa. Lẽ thứ hai là hình ảnh tiểu đội xe không kính. Xe không kính tức là xe hỏng, không hoàn hảo, là những chiếc xe không đẹp, vậy thì có gì là thơ. Vì đã nói đến thơ, tức là nói đến một cái gì đó đẹp đẽ, lãng mạn, bay bổng. Vậy, đây rõ ràng là một dụng ý nghệ thuật của Phạm Tiến Duật. Dường như, tác giả đã tìm thấy, phát hiện, khẳng định cái chất thơ, cái đẹp nằm ngay trong hiện thực đời sống bình thường nhất, thậm chí trần trụi, khốc liệt nhất, ngay cả trong sự tàn phá dữ dội, ác liệt của chiến tranh.
+Tiếp đến là hình ảnh độc đáo, gây ấn tượng mạnh là những chiếc xe không kính. Từ bài thơ có vẻ như hơi thừa, nhưng thực ra từ đó lại nằm trong chủ định của tác giả và tạo nên sự liên kết giữa hai sự vật có vẻ xa lạ nhau: “bài thơ” và “xe không kính”. Xe không kính thì chẳng có gì làm nên thơ cả, vậy mà nó đã trở thành hình ảnh trung tâm của một bài thơ. Tác giả đã tìm ra chất thơ ở những điều tưởng chừng rất khô khan, trần trụi. Đó chính là chất thơ từ hiện thực gian khổ, ác liệt ở nơi chiến trường.
- Xây dựng hệ thống ngôn ngữ tự nhiên, giọng điệu sôi nổi, chất liệu thơ chân thực,gần gũi, mang đạm tính khẩu ngữ, tự nhiên gợi cảm.
+Thành công đầu tiên của Phạm Tiến Duật trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính là đã xây dựng được một hệ thống ngôn ngữ tự nhiên, giọng điệu sôi nổi, chất liệu thơ chân thực, gần gũi, gợi cảm. Ngôn ngữ của bài thơ gần gũi với lời nói thường, mang tính khẩu ngữ, tự nhiên, sinh động và khỏe khoắn:
“Không có kính không phải vì xe không có kính”
“Không có kính, ừ thì có bụi”
“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”
+Giọng điệu tự nhiên, trẻ trung, có vẻ tinh nghịch pha một chút ngang tàng, rất phù hợp với những đối tượng miêu tả:
“Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”.
=>Ngôn ngữ và giọng điệu ấy rất phù hợp với việc khắc họa hình ảnh những chiến sĩ lái xe trẻ trung hiên ngang, bất chấp nguy hiểm, khó khăn. Đó là những người lính tươi trẻ, yêu cuộc đời, yêu đất nước, tinh thần tràn đầy niềm tin tưởng, quyết chiến đấu, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
b. Luận điểm2. Gốc của thơ là tình cảm,trong bài thơ về tiểu đội xe không kính còn thể hiện ở sự ngợi ca ngợi những vẻ đẹp tâm hồn người lính.
_ Tư thế ung dung, hiên ngang, bình tĩnh, tự tin:
+ Những câu thơ tả thực, chính xác đến từng chi tiết. Không có kính chắn gió, bảo hiểm, xe lại chạy nhanh nên người lái phải đối mặt với bao khó khăn nguy hiểm: nào là “gió vào xoa mắt đắng”, nào là “con đường chạy thẳng vào tim”, rồi “sao trời”, rồi “cánh chim” đột ngột, bất ngờ như sa, như ùa- rơi rụng, va đập, quăng ném.... vào buồng lái, vào mặt mũi, thân mình. Dường như chính nhà thơ cũng đang cầm lái, hay ngồi trong buồng lái của những chiếc xe không kính nên câu chữ mới sinh động và cụ thể, đầy ấn tượng, gợi cảm giác chân thực đến thế.
+ Cảm giác, ấn tượng căng thẳng, đầy thử thách. Song người chiến sĩ không run sợ, hoảng hốt, trái lại tư thế các anh vấn hiên ngang, tinh thần các anh vẫn vững vàng.... “ung dung.... nhìn thẳng. Hai câu thơ “ung dung.... thẳng” đã nhấn mạnh tư thế ngồi lái tuyệt đẹp của người chiến sĩ trên những chiếc xe không kính. Đảo ngữ “ung dung” với điệp từ “nhìn” cho ta thấy cái tư thế ung dung, thong thả, khoan thai, bình tĩnh, tự tin của người làm chủ, chiến thắng hoàn cảnh. Bầu không khí căng thẳng với “Bom giật, bom rung”, vậy mà họ vẫn nhìn thẳng, cái nhìn hướng về phía trước của một con người luôn coi thường hiểm nguy. Nhịp thơ 2/2/2
-Thái độ bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ, tinh thần lạc quan hồn nhiên, yêu đời của người lính trẻ.
+ Nếu như hai khổ trên là những cảm giác về những khó khăn thử thách dù sao cũng vẫn mơ hồ thì đến đây, thử thách, khó khăn ập tới cụ thể, trực tiếp. Đó là “bụi phun tóc trắng” và “mưa tuôn xối xả” (gió, bụi, mưa tượng trưng cho gian khổ thử thách ở đời). Trên con đường chi viện cho miền Nam ruột thịt, những người lính đã nếm trải đủ mùi gian khổ.
+ Trước thử thách mới, người chiến sĩ vẫn không nao núng. Các anh càng bình tĩnh, dũng cảm hơn. “mưa tuôn, mưa xối xả”, thời tiết khắc nghiệt, dữ đội nhưng đối với họ tất cả chỉ “chuyện nhỏ”, chẳng đáng bận tâm, chúng lại như đem lại niềm vui cho người lính.Chấp nhận thực tế, câu thơ vẫn vút lên tràn đầy niềm lạc quan sôi nổi: “không có kính ừ thì có bụi, ừ thì ướt áo”. Những tiếng “ừ thì” vang lên như một thách thức, một chấp nhận khó khăn đầy chủ động, một thái độ cứng cỏi. Dường như gian khổ hiểm nguy của chiến tranh chưa làm mảy may ảnh hưởng đến tinh thần của họ, trái lại họ xem đây là một dịp để thử sức mình như người xưa xem hoạn nạn khó khăn để chứng tỏ chí làm trai.
- Tình đồng chí, đồng đội thắm thiết.
- Sau mỗi trận mưa bom bão đạn cùng với những chiếc xe bị tàn phá nặng nề hơn, họ lại gặp nhau trong những phút dừng chân ngắn ngủi tạo thành một “tiểu đội xe không kính” – tiểu đội những chàng trai lái xe quả cảm, hiên ngang mà hồn nhiên tinh nghịch. Hình tượng người chiến sĩ lái xe thêm một nét đẹp nữa về tâm hồn và tình cảm. Đấy là tình cảm gắn bó, chia sẻ ngọt bùi của những chàng trai vui vẻ, sôi nổi, yêu đời. Cái bắt tay độc đáo là biểu hiện đẹp đẽ ấm lòng của tình đồng chí, đồng đội đầy mộc mạc nhưng thấm thía : “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”, cái bắt tay thay cho lời nói. Chỉ có những người lính, những chiếc xe thời chống Mĩ mới có thể có những cái bắt tay ấy, một chi tiết nhỏ nhưng mang dấu ấn của cả một thời đại hào hùng.
- Lúc cắm trại, các anh trò chuyện, ăn uống, nghỉ ngơi thoải mái, xuềnh xoàng, nhường nhịn nhau như anh em ruột thịt: chung bát,chung đũa, mắc võng chông chênh... chỉ trong một thoáng chốc. Tình cảm gia đình người lính thật bình dị, ấm áp thân thương tạo nên sức mạnh,
- Lòng yêu nước, nhiệt huyết của tuổi trẻ quyết tâm giải phóng miền nam…
Hai câu đầu là hình ảnh những chiếc xe không còn nguyên vẹn về phương tiện kĩ thuật, dồn dập những mất mát, khó khăn do quân địch gieo xuống, do đường trường gây ra: những chiếc xe bị hư hỏng nhiều hơn “không kính, không mui, không đèn, thùng xe có xước...” và biết bao chiến sĩ đã dũng cảm hi sinh. Ấy vậy mà những chiếc xe mang trên mình đầy thương tích đó lại như những chiến sĩ kiên cường vượt lên trên bom đạn, hăm hở lao ra tiền tuyến với một tình cảm thiêng liêng:
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước. Chỉ cần trong xe có một trái tim”
- Vậy là đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở tiến ra phía trước, hướng ra tiền tuyến lớn với một tình cảm thiêng liêng “vì Miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giành độc lập thống nhất đất nước đang vẫy gọi. Bởi vì trong những chiếc xe đó lại nguyên vẹn một trái tim dũng cảm.
Tác phẩm đích thực là sự kết hợp của hai yếu tố trên {bữa tiệc ngôn từ và tình cảm} mới có thể tạo nên sự xuất thần cho thơ.Nhà thơ không ngừng trải nghiệm lắng nghe rung cảm của đời để tạo được cái gốc tình cảm cho thơ, và không ngừng mài dũa để thực sự trở thành bậc thầy về ngôn từ.Người tiếp nhận phải sáng suốt linh hoạt, không nên cực đoan trong tiếp nhận một quan niệm mà đi đến phủ nhận những quan điểm còn lại.
*Đáng giá tổng hợp.
- Mỗi ý kiến trên đều xác đáng nhưng chưa toàn diện,chưa khái quát hết được đặc trưng thơ ca của một tác phẩm tuy nhiên Bài thơ về tiểu đội xe không kính đã đáp ứng được hai yếu tố trên.
- Bài học đối với người cầm bút:nhà thơ là nhà thư kí trung thành của trái tim, thời đại nên không ngừng trải nghiệm, lắng nghe, rung cảm để tạo nên gốc tình cảm của thơ ca, không ngừng học hỏi để trau dồi ngôn từ.
- Bài học đối với người tiếp nhận:hiểu hơn về hoàn cảnh của cuộc kháng chiến, vẻ đẹp của người lính, niềm tự hào……
III> Kết bài: Khẳng định, đánh giá lại ý kiến
trong các tác phẩm
thơ văn hiện đại
TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NAY
I. Đôi nét về tình hình lịch sử và văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến nay.
1.Lịch sử
Cách mạng tháng 8/1945 thắng lợi. Nền độc lập kéo dài một năm. Cuối năm 1946, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Nghe theo lời kêu gọi của Bác, cả nước đứng lên chống Pháp với một tinh thần: “Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”
7/5/1954, kháng chiến kết thúc thắng lợi, Miền Bắc được giải phóng, Miền Nam bắt đầu kháng chiến chống Mỹ.
Hàng vạn thanh niên miền Bắc lên đường cầm súng chiến đấu. Hàng vạn thanh niên xung phong xẻ núi, phá bom mở đường. Đánh Mỹ trở thành lý tưởng của thời đại. Thôi thúc các thế hệ nối tiếp nhau ra trận.
Ngày 30/4/1975 kháng chiến kết thúc thắng lợi khép lại lịch sử 30 năm kiên cường chiến đấu chống Pháp - Mỹ. Người lính lại trở về cuộc sống đời thường, xây dựng quê hương đất nước.
2. Văn học
- Các sáng tác của các nhà văn, nhà thơ đã bám sát cuộc kháng chiến đầy gian khổ, hào hùng của dân tộc để phản ánh chân thực về cuộc kháng chiến.
Nội dung phản ánh:
+ Lòng yêu nước, khát vọng hoà bình
+ Tinh thần chiến đấu dũng cảm, vượt mọi khó khăn.
+ Tình người cao đẹp.
II. Hình ảnh người lính trong văn học hiện đại từ sau 1945 đến nay.
Đồng chí (Chính Hữu)- S¸ng t¸c n¨m 1948.
Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật) – S¸ng t¸c n¨m 1969.
1. Xuất thân:
- Từ những người nông dân vốn quen với cấy cày, ruộng đồng, sống cuộc đời lam lũ ở khắp các miền quê.
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
(Đồng chí-Chính Hữu)
Là những học sinh, sinh viên rời ghế nhà trường xung phong đi chiến đấu (những chiến sĩ lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”).
Họ là những người nông dân, học sinh, sinh viên…đều từ nhân dân mà ra vì nhân dân mà chiến đấu.
2. Lý tưởng cao đẹp
- Họ là những người cùng chung một lý tưởng cao đẹp: chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc.
3. Hoàn cảnh sống chiến đấu
Thiên nhiên khắc nghiệt và thực tế ở chiến trường.
“Đêm nay rừng hoang sương muối”
(Đồng chí-Chính Hữu)
“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Bụi phun tóc trắng như người già.
Mưa tu«n mưa xối như ngoài trời”
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính
- Phạm Tiến Duật)
Cuộc chiến đấu diễn ra trong mọi hoàn cảnh: trong đêm đông lạnh buốt, hay nắng lửa mưa ngàn, nơi chiến trường ác liệt. Người lính phải gắng vượt lên tất cả để hoàn thành nhiệm vụ.
b. Bệnh tật, bom đạn đe doạ sự sống.
- “Sốt run người vầng chán ướt mồ hôi”
(Đồng chí – Chính Hữu)
“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính -Phạm Tiến Duật)
Cuộc sống chiến đấu ở chiến trường đầy gian khổ, thiếu thốn. Những cơn sốt rét rừng hành hạ, ốm đau thiếu thuốc men, bom đạn rình rập đe doạ sự sống, chiến tranh ác liệt, người lính phải đối mặt với hiểm nguy.
c. Trang bị thô sơ, thiếu thốn.
“Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Chân không giày”
(Đồng chí-Chính Hữu)
“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy”
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính-Phạm Tiến Duật)
Trong những năm tháng kháng chiến, người lính phải vượt qua muôn vàn khó khăn, thiếu thốn về trang bị, cái ăn cái mặc, vũ khí đánh giặc.
Tóm lại: Bằng những hình ảnh chân thực, sống động, những nét vẽ không màu. Thơ ca đã gieo vào lòng người đọc những xúc động lắng sâu về hoàn cảnh sống, chiến đấu vô cùng gian khổ, thiếu thốn, hy sinh, thử thách, của những người lính cách mạng-những anh bộ đội cụ Hồ. Đất nước gian lao, cuộc đời người lính cách mạng cũng đầy khó khăn thử thách. Người lính có vượt lên chiến thắng mọi hoàn cảnh mới chiến thắng được kẻ thù. Thơ ca đã ghi lại những hình ảnh về những năm tháng không thể quên của lịch sử dân tộc.
4. Vẻ đẹp phẩm chất.
Giàu lòng yêu nước
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Lµng t«i nghÌo ®Êt cµy lªn sái ®¸
Anh víi t«i ®«i ngêi xa l¹
Tự phương trời chẳng hẹn cũng quen nhau
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”
(Đồng chí-Chính Hữu)
“Không có kính rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.”
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật)
Những người lính ra đi từ mọi miền quê của đất nước, họ gác lại những tình cảm ước mơ riêng, băng qua bom đạn, vượt qua mọi khó khăn, để tiến về phía trước. Quyết tâm ra đi chiến đấu để bảo vệ độc lập. Tất cả đều bắt nguồn từ lòng yêu nước sâu sắc.
b. Dũng cảm, kiên cường
“Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”
(Đồng chí-Chính Hữu)
“Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn th¼ng.
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim”
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính-Phạm Tiến Duật)
Những người lính dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu. Mọi khó khăn gian khổ, bom đạn của kẻ thù lùi lại phía sau bởi ở họ có một lòng yêu nước sâu sắc, một lý tưởng cao đẹp “Đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”. Với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”.
c. Tình đồng chí gắn bó
“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”.
(Đồng chí-Chính Hữu)
“Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”.
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính-Phạm Tiến Duật)
Với ba nữ thanh niên xung phong: Họ yêu thương, chia sẻ mọi niềm vui, nỗi buồn trong công việc, trong cuộc sống. Phương Định băng bó vết thương và chăm sóc cho Nho, chia cho Nho niềm vui nho nhỏ khi thấy mưa đá ở Trường Sơn. Chị Thao lo lắng khi Nho bị thương.
Đó là tình cảm sẻ chia ấm áp, gắn bó keo sơn như tình anh em ruột thịt. Trong gian nan thử thách, tình đồng đội càng toả sáng, trong chiến đấu gian khổ, đồng đội là nguồn động viên là cánh tay dìu đỡ, là người chia lửa khi giáp mặt quân thù.
d. Lạc quan, tin tưởng
“Đầu súng trăng treo”
(Đồng chí-Chính Hữu)
- “Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính-Phạm Tiến Duật)
Đó là niềm lạc quan của cả một thế hệ, ra trận đánh giặc thành khát vọng tuổi trẻ. Người lính luôn tin vào chân lý sáng ngời của thời đại. Niềm lạc quan, yêu đời giúp họ thêm sức mạnh chiến thắng mọi hoàn cảnh.
Tóm lại: Dù hoàn cảnh chiến đấu còn đầy những cam go, thử thách, vẻ đẹp phẩm chất cách mạng của người lính vẫn rạng ngời toả sáng.Thơ ca kháng chiến đã tập trung phản ánh, tôn lên dáng đứng của những con người mới trong cuộc chiến đấu chống xâm lược: Yêu nước, căm thù giặc, lạc quan, gắn bó đoàn kết. Đó phải chăng là vẻ đẹp của con người thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Họ chính là những bài ca đi cùng năm tháng, bất tử với thời gian.
Câu hỏi thảo luận:
Trong vẻ đẹp phẩm chất cách mạng của người lính, đâu là vẻ đẹp truyền thống,đâu là nét mới của thời đại?
* Giống nhau:Là những con người mang lý tưởng yêu nước, chiến đấu quên mình cho độc lập tự do,tình đồng đội keo sơn thắm thiết.Trang bị thiếu thốn,thô sơ, cuộc sống chiến đấu vô cùng gian khổ.
*Khác nhau :
-Người lính trong kháng chiến chống Pháp:Phần lớn xuất thân từ nông dân, cuộc sống nhiều thiếu thốn,trang bị vũ khí thô sơ.
-Người lính trong kháng chiến chống Mỹ:trẻ trung,sôi nổi hơn, xuất thân từ nhiều tầng lơp, có người là học sinh-sinh viên,trang bị có phần hiện đại hơn.
III. Luyện tập
Những cảm nhận của em về khổ thơ cuối trong tác phÈm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.(ViÕt ®o¹n v¨n tõ 8 ®Õn 10 c©u theo c¸ch lËp luËn quy n¹p)
Đoạn văn
Đọc thơ Phạm Tiến Duật, người đọc dễ dàng nhận ra hình ảnh quen thuộc thường gặp đó là hình ảnh người lính .Bốn câu thơ cuối bài "Bài thơ về tiểu đọi xe không kính" đã dựng lên hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính,rất bất ngờ,thú vị.Hai câu thơ đầu dồn dập những mất mát, khó khăn do giặc Mỹ gieo xuống: xe không kính, không đèn,không mui, thùng xe xước.Điẹp ngữ "không có" như nhân lên thử thách khốc liệt.Nhưng vượt lên những mất mát ,khó khăn,đoàn xe vẫn hăm hở tiến ra phía trước, hưóng ra tiền tuyến với một tình cảm thiêng liêng:Vì miền Nam vì cuộc chiến đấu giành độc lập,thống nhất đât nước.Đặc biệt toả sáng trong đoạn thơ là hình ảnh :``Trong xe có một trái tim".Sức mạnh của cả đoàn xe,gốc rễ phẩm chất anh hùng của người cầm lái đọng kết lại ở trái tim người lính.Một trái tim của tình yêu tổ quốc, tình yêu thưong đồng bào miền Nam đã khích lệ,động viên người chiến sỹ lái xe vượt qua mọi gian khổ, luôn lạc quan ,bình tĩnh chắc tay lái đưa những đoàn xe thẳng tiến về miền Nam. Bốn câu thơ đã thể hiện rõ niềm tin và sức mạnh tinh thần của những người lính lái xe trong thời kì kháng chiến chống đế quốc Mỹ.
NGHỊ LUẬN VĂN HỌC: ĐỐI VỚI ĐỀ THI HSG VĂN 9 THƯỜNG RA DƯỚI DẠNG PHÂN TÍCH, LÀM SÁNG TỎ MỘT Ý KIẾN, MỘT NHẬN ĐỊNH.
CẤU TRÚC MỘT BÀI NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH MỘT Ý KIẾN, NHẬN ĐỊNH
Dàn ý của dạng bài giải quyết một vấn đề lí luận văn học:
Dàn ý chung phần thân bài như sau:
Thao tác Nội dung Mức độ tư duy:
Mở bài: Tùy theo yêu cầu của đề để có những hướng tiếp cận mở bài khác nhau.
2. Thân bài:
2.1. Giải thích:
– Giải thích các thuật ngữ, các từ ngữ, hình ảnh khó hiểu trong nhận định.
– Chốt vấn đề nghị luận: Như vậy, vấn đề cần bàn ở đây là gì? (Đọc – Hiểu)
22. Bàn luận:
– Sử dụng các kiến thức lí luận văn học để lí giải vấn đề nghị luận.
– Trả lời cho câu hỏi “vì sao?” (Vận dụng Tổng hợp)
2.3. Chứng minh:
– Chọn chi tiết trong tác phẩm để làm rõ các biểu hiện của vấn đề nghị luận. (Phân tích)
+Luận điểm 1:
+Luận điểm 2:
+Luận điểm 3:
…………
2.4. Đánh giá:
– Đánh giá tính đúng đắn của vấn đề nghị luận.
– Bổ sung, phản biện lại vấn đề (Nếu có) (Đánh giá)
2.5. Liên hệ:
3. Kết bài.
Rút ra bài học cho nhà văn trong quá trình vận dụng sáng tác và bạn đọc trong quá trình tiếp nhận.
Khi làm bài, cần vận dụng linh hoạt các bước trên nhưng nhất thiết phải có đầy đủ các thao tác này để bài viết không bị mất điểm.
Câu 2 (12 điểm)
Bàn về thơ có ý kiến: Bài thơ hay là bữa tiệc ngôn từ. Trong khi đó lại có ý kiến cho rằng: Gốc của thơ là tình cảm.
I. Mở bài.
Giới thiệu vấn đề nghị luận, trích dẫn ý kiến.
II. Thân bài:
1. Giải thích (3đ)
– Thơ hay là bữa tiệc ngôn từ: ý nói cái hay của bài thơ trước hết là nhờ cái hay của ngôn từ (sống động, phong phú…), giống như sự hấp dẫn của những ”món ăn” ngon bằng ngôn từ.
– Gốc của thơ là tình cảm: nhấn mạnh tư tưởng tình cảm là then chốt quyết định giá trị của một bài thơ.
=>Hai ý kiến là hai cách định nghĩa về thơ có sự nối tiếp những quan niệm trước đó. Một bên khẳng định sức mạnh của thơ là ở ngôn từ, một bên khẳng định sức mạnh của thơ nằm ở tư tưởng, tình cảm chứ không phải ở ngôn từ.
2* Lý giải,Khẳng định tính đúng đắn của vấn đề (6đ )
– Nói thơ hay là bữa tiệc ngôn từ bởi vì: một bài thơ ngôn ngữ trúc trắc, sáo rỗng, tầm thường thì không thể gọi là thơ hay. Ngược lại, bài thơ hay là khi nó bày ra trước độc giả một “bữa tiệc ngôn từ”, với những ngôn từ được nhà thơ công phu lựa chọn, tổ chức, biến nó trở thành nghệ thuật
– Gốc của thơ là tình cảm bởi vì: thơ là chuyện của tâm hồn, của lòng người cho nên việc thể hiện tất cả mọi vui buồn trong cuộc đời là một nhu cầu bức thiết của thơ. Hơn nữa tình cảm ấy thường tiêu biểu, điển hình, khơi dậy trong trái tim người đọc những rung động sâu xa,
=>Mỗi ý kiến đều xác đáng nhưng chưa toàn diện, chưa khái quát được đặc trưng thơ ca vì:
+ Nếu người nghệ sĩ chỉ chú ý rèn câu đúc chữ mà không chú ý đến nội dung tư tưởng của tác phẩm thì sáng tác thơ ca chỉ là những kỹ xảo vờn vẽ, là lối thơ chuộng hình thức. Thơ ca chỉ neo đậu vững chắc trong bạn đọc khi nó có nội dung tư tưởng sâu sắc, hình thức thể hiện độc đáo.
+ Gốc của thơ là tình cảm, sức sống của thơ là tư tưởng, nhưng các nhà thơ từ xưa đến nay nếu không muốn lặp lại người khác và lặp lại chính mình thì quá trình sáng tác đòi hỏi người nghệ sĩ phải tìm đến “bữa tiệc ngôn từ”.
=>Tóm lại một tác phẩm hay,có giá trị phải đầy đủ hai yếu tố:thơ về tiểu đội xe không kính hội tụ cả hai yếu tố đó.
3* Phân tích, chứng minh.
a. Luận điểm1. Bài thơ về tiểu đôi xe không kính là bữa tiệc ngôn từ.
- Nhan đề bài thơ khá dài,thu hút người đọc ở vẻ mới lạ, độc đáo.
+Bài thơ có cách đặt đầu đề hơi lạ. Bởi rõ ràng đây là một bài thơ, vậy mà tác giả lại ghi là “bài thơ” - cách ghi như thế có vẻ hơi thừa. Lẽ thứ hai là hình ảnh tiểu đội xe không kính. Xe không kính tức là xe hỏng, không hoàn hảo, là những chiếc xe không đẹp, vậy thì có gì là thơ. Vì đã nói đến thơ, tức là nói đến một cái gì đó đẹp đẽ, lãng mạn, bay bổng. Vậy, đây rõ ràng là một dụng ý nghệ thuật của Phạm Tiến Duật. Dường như, tác giả đã tìm thấy, phát hiện, khẳng định cái chất thơ, cái đẹp nằm ngay trong hiện thực đời sống bình thường nhất, thậm chí trần trụi, khốc liệt nhất, ngay cả trong sự tàn phá dữ dội, ác liệt của chiến tranh.
+Tiếp đến là hình ảnh độc đáo, gây ấn tượng mạnh là những chiếc xe không kính. Từ bài thơ có vẻ như hơi thừa, nhưng thực ra từ đó lại nằm trong chủ định của tác giả và tạo nên sự liên kết giữa hai sự vật có vẻ xa lạ nhau: “bài thơ” và “xe không kính”. Xe không kính thì chẳng có gì làm nên thơ cả, vậy mà nó đã trở thành hình ảnh trung tâm của một bài thơ. Tác giả đã tìm ra chất thơ ở những điều tưởng chừng rất khô khan, trần trụi. Đó chính là chất thơ từ hiện thực gian khổ, ác liệt ở nơi chiến trường.
- Xây dựng hệ thống ngôn ngữ tự nhiên, giọng điệu sôi nổi, chất liệu thơ chân thực,gần gũi, mang đạm tính khẩu ngữ, tự nhiên gợi cảm.
+Thành công đầu tiên của Phạm Tiến Duật trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính là đã xây dựng được một hệ thống ngôn ngữ tự nhiên, giọng điệu sôi nổi, chất liệu thơ chân thực, gần gũi, gợi cảm. Ngôn ngữ của bài thơ gần gũi với lời nói thường, mang tính khẩu ngữ, tự nhiên, sinh động và khỏe khoắn:
“Không có kính không phải vì xe không có kính”
“Không có kính, ừ thì có bụi”
“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”
+Giọng điệu tự nhiên, trẻ trung, có vẻ tinh nghịch pha một chút ngang tàng, rất phù hợp với những đối tượng miêu tả:
“Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”.
=>Ngôn ngữ và giọng điệu ấy rất phù hợp với việc khắc họa hình ảnh những chiến sĩ lái xe trẻ trung hiên ngang, bất chấp nguy hiểm, khó khăn. Đó là những người lính tươi trẻ, yêu cuộc đời, yêu đất nước, tinh thần tràn đầy niềm tin tưởng, quyết chiến đấu, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
b. Luận điểm2. Gốc của thơ là tình cảm,trong bài thơ về tiểu đội xe không kính còn thể hiện ở sự ngợi ca ngợi những vẻ đẹp tâm hồn người lính.
_ Tư thế ung dung, hiên ngang, bình tĩnh, tự tin:
+ Những câu thơ tả thực, chính xác đến từng chi tiết. Không có kính chắn gió, bảo hiểm, xe lại chạy nhanh nên người lái phải đối mặt với bao khó khăn nguy hiểm: nào là “gió vào xoa mắt đắng”, nào là “con đường chạy thẳng vào tim”, rồi “sao trời”, rồi “cánh chim” đột ngột, bất ngờ như sa, như ùa- rơi rụng, va đập, quăng ném.... vào buồng lái, vào mặt mũi, thân mình. Dường như chính nhà thơ cũng đang cầm lái, hay ngồi trong buồng lái của những chiếc xe không kính nên câu chữ mới sinh động và cụ thể, đầy ấn tượng, gợi cảm giác chân thực đến thế.
+ Cảm giác, ấn tượng căng thẳng, đầy thử thách. Song người chiến sĩ không run sợ, hoảng hốt, trái lại tư thế các anh vấn hiên ngang, tinh thần các anh vẫn vững vàng.... “ung dung.... nhìn thẳng. Hai câu thơ “ung dung.... thẳng” đã nhấn mạnh tư thế ngồi lái tuyệt đẹp của người chiến sĩ trên những chiếc xe không kính. Đảo ngữ “ung dung” với điệp từ “nhìn” cho ta thấy cái tư thế ung dung, thong thả, khoan thai, bình tĩnh, tự tin của người làm chủ, chiến thắng hoàn cảnh. Bầu không khí căng thẳng với “Bom giật, bom rung”, vậy mà họ vẫn nhìn thẳng, cái nhìn hướng về phía trước của một con người luôn coi thường hiểm nguy. Nhịp thơ 2/2/2
-Thái độ bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ, tinh thần lạc quan hồn nhiên, yêu đời của người lính trẻ.
+ Nếu như hai khổ trên là những cảm giác về những khó khăn thử thách dù sao cũng vẫn mơ hồ thì đến đây, thử thách, khó khăn ập tới cụ thể, trực tiếp. Đó là “bụi phun tóc trắng” và “mưa tuôn xối xả” (gió, bụi, mưa tượng trưng cho gian khổ thử thách ở đời). Trên con đường chi viện cho miền Nam ruột thịt, những người lính đã nếm trải đủ mùi gian khổ.
+ Trước thử thách mới, người chiến sĩ vẫn không nao núng. Các anh càng bình tĩnh, dũng cảm hơn. “mưa tuôn, mưa xối xả”, thời tiết khắc nghiệt, dữ đội nhưng đối với họ tất cả chỉ “chuyện nhỏ”, chẳng đáng bận tâm, chúng lại như đem lại niềm vui cho người lính.Chấp nhận thực tế, câu thơ vẫn vút lên tràn đầy niềm lạc quan sôi nổi: “không có kính ừ thì có bụi, ừ thì ướt áo”. Những tiếng “ừ thì” vang lên như một thách thức, một chấp nhận khó khăn đầy chủ động, một thái độ cứng cỏi. Dường như gian khổ hiểm nguy của chiến tranh chưa làm mảy may ảnh hưởng đến tinh thần của họ, trái lại họ xem đây là một dịp để thử sức mình như người xưa xem hoạn nạn khó khăn để chứng tỏ chí làm trai.
- Tình đồng chí, đồng đội thắm thiết.
- Sau mỗi trận mưa bom bão đạn cùng với những chiếc xe bị tàn phá nặng nề hơn, họ lại gặp nhau trong những phút dừng chân ngắn ngủi tạo thành một “tiểu đội xe không kính” – tiểu đội những chàng trai lái xe quả cảm, hiên ngang mà hồn nhiên tinh nghịch. Hình tượng người chiến sĩ lái xe thêm một nét đẹp nữa về tâm hồn và tình cảm. Đấy là tình cảm gắn bó, chia sẻ ngọt bùi của những chàng trai vui vẻ, sôi nổi, yêu đời. Cái bắt tay độc đáo là biểu hiện đẹp đẽ ấm lòng của tình đồng chí, đồng đội đầy mộc mạc nhưng thấm thía : “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”, cái bắt tay thay cho lời nói. Chỉ có những người lính, những chiếc xe thời chống Mĩ mới có thể có những cái bắt tay ấy, một chi tiết nhỏ nhưng mang dấu ấn của cả một thời đại hào hùng.
- Lúc cắm trại, các anh trò chuyện, ăn uống, nghỉ ngơi thoải mái, xuềnh xoàng, nhường nhịn nhau như anh em ruột thịt: chung bát,chung đũa, mắc võng chông chênh... chỉ trong một thoáng chốc. Tình cảm gia đình người lính thật bình dị, ấm áp thân thương tạo nên sức mạnh,
- Lòng yêu nước, nhiệt huyết của tuổi trẻ quyết tâm giải phóng miền nam…
Hai câu đầu là hình ảnh những chiếc xe không còn nguyên vẹn về phương tiện kĩ thuật, dồn dập những mất mát, khó khăn do quân địch gieo xuống, do đường trường gây ra: những chiếc xe bị hư hỏng nhiều hơn “không kính, không mui, không đèn, thùng xe có xước...” và biết bao chiến sĩ đã dũng cảm hi sinh. Ấy vậy mà những chiếc xe mang trên mình đầy thương tích đó lại như những chiến sĩ kiên cường vượt lên trên bom đạn, hăm hở lao ra tiền tuyến với một tình cảm thiêng liêng:
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước. Chỉ cần trong xe có một trái tim”
- Vậy là đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở tiến ra phía trước, hướng ra tiền tuyến lớn với một tình cảm thiêng liêng “vì Miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giành độc lập thống nhất đất nước đang vẫy gọi. Bởi vì trong những chiếc xe đó lại nguyên vẹn một trái tim dũng cảm.
Tác phẩm đích thực là sự kết hợp của hai yếu tố trên {bữa tiệc ngôn từ và tình cảm} mới có thể tạo nên sự xuất thần cho thơ.Nhà thơ không ngừng trải nghiệm lắng nghe rung cảm của đời để tạo được cái gốc tình cảm cho thơ, và không ngừng mài dũa để thực sự trở thành bậc thầy về ngôn từ.Người tiếp nhận phải sáng suốt linh hoạt, không nên cực đoan trong tiếp nhận một quan niệm mà đi đến phủ nhận những quan điểm còn lại.
*Đáng giá tổng hợp.
- Mỗi ý kiến trên đều xác đáng nhưng chưa toàn diện,chưa khái quát hết được đặc trưng thơ ca của một tác phẩm tuy nhiên Bài thơ về tiểu đội xe không kính đã đáp ứng được hai yếu tố trên.
- Bài học đối với người cầm bút:nhà thơ là nhà thư kí trung thành của trái tim, thời đại nên không ngừng trải nghiệm, lắng nghe, rung cảm để tạo nên gốc tình cảm của thơ ca, không ngừng học hỏi để trau dồi ngôn từ.
- Bài học đối với người tiếp nhận:hiểu hơn về hoàn cảnh của cuộc kháng chiến, vẻ đẹp của người lính, niềm tự hào……
III> Kết bài: Khẳng định, đánh giá lại ý kiến
 







Các ý kiến mới nhất