Tìm kiếm Bài giảng
Tuần 10. Ca dao hài hước

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Ellen Donatella
Ngày gửi: 10h:36' 27-11-2021
Dung lượng: 317.5 KB
Số lượt tải: 63
Nguồn:
Người gửi: Ellen Donatella
Ngày gửi: 10h:36' 27-11-2021
Dung lượng: 317.5 KB
Số lượt tải: 63
Số lượt thích:
0 người
CA DAO HÀI HƯỚC
CA DAO HÀI HƯỚC
I. TIỂU DẪN. (T.82)
II. ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN
1. Bài ca dao 1
- Chàng trai dự tính dẫn cưới:
+ Voi, trâu, bò → Lễ vật sang trọng, linh đình, hoành tráng→ Tình yêu, sự trân trọng cô gái của chàng trai.
II. ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN
1. Bài ca dao 1
- Lí do không thực hiện được:
+ Dẫn voi sợ quốc cấm.
+ Dẫn trâu sợ họ máu hàn.
+ Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.
→Lí do chính đáng → sự hiểu biết, chu đáo của chàng trai đối với nhà gái.
CA DAO HÀI HƯỚC
I. TIỂU DẪN. (T.82)
II. ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN
1. Bài ca dao 1
Quyết định chọn vật dẫn cưới: con chuột béo
→ Cách lập luận thông minh, dí dỏm, bất ngờ → Tâm hồn lạc quan, yêu đời, vui với cảnh nghèo của chàng trai.
Lối nói phóng đại, dẫn cưới theo mức độ giảm dần + cách nói đối lập → Người lao động dù sống trong cảnh cơ hàn vẫn cười vui, vượt lên trên hoàn cảnh.
- Cô gái thách cưới:
một nhà khoai lang
→ Lễ vật bình dị, gần gũi nhưng cũng khác thường → sự thông cảm, thấu hiểu cho hoàn cảnh của người mình yêu.
+ Củ to - mời làng.
+ Củ nhỏ - mời họ hàng
+ Củ mẻ - cho con trẻ
+ Củ rím, hà - cho lợn, gà
→ Cách sử dụng vật thách cưới được sắp theo mức giảm dần → tính toán chu toàn mọi bề → cô gái là người biết lễ nghĩa, đảm đam, tháo vát.
Cô gái đặt nghĩa tình cao hơn của cải, biết hài lòng với những gì đang có → triết lí nhân sinh cao đẹp của người bình dân xưa.
2. Bài ca dao số 2
- Mở đầu: “Làm trai…” → gợi lên trách nhiệm, nghĩa vụ của đấng nam nhi đối với gia đình, xã hội.
- Thủ pháp phóng đại + đối lập:
“Khom lưng chống gối >< gánh hai hạt vừng” → thái độ chế giễu, mỉa mai của dân gian đối với những kẻ yếu đuối, lười nhác.
Phê phán loại đàn ông yếu đuối, không đáng sức trai, không có chí lớn.
III. TỔNG KẾT
1. Nghệ thuật
-Hư cấu, dựng cảnh tài tình, khắc hoạ nhân vật bằng những nét điển hình.
-Cường điệu, phóng đại, tương phản.
-Dùng ngôn từ đời thường mà đầy hàm ý.
2. Ý nghĩa văn bản
Tâm hồn lạc quan yêu đời và triết lí nhân sinh lành mạnh của người lao động Việt Nam trong ca dao – dân ca.
Cái cò lặn lội bờ ao,
Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?
Chú tôi hay tửu hay tăm,
Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa.
Ngày thì ước những ngày mưa,
Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.
Cảm nhận của anh/chị về bài ca dao trên?
Bài 1
BÀI TẬP
- Chân dung của người chú là bức biếm họa được vẽ toàn bằng những nét giễu cợt, mỉa mai:
→ Ý mỉa mai: Tuổi thanh niên sức dài vai rộng mà không lo chí thú làm ăn, lại chấp nhận sống đời tầm gửi thì quả là chẳng đáng mặt làm trai.
“Chú tôi hay tửu hay tăm,
Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa.
Ngày thì ước những ngày mưa,
Đêm thì ước những đêm thừa trống canh”
- Cô yếm đào là hình ảnh tương phản với hình ảnh của nhân vật chú tôi. Chiếc yếm đào tượng trưng cho những cô gái nông thôn trẻ, đẹp. Xứng đáng lấy cô yếm đào phải là chàng trai chăm chỉ, giỏi giang chứ không thể là người có nhiều thói hư tật xấu.
“Lỗ mũi mười tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.
Đêm nằm thì ngáy o o…
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu!”
Bài 2.
Cảm nhận của anh/chị về hình ảnh người phụ nữ trong bài ca dao trên.
Người phụ nữ mang nhiều thói xấu từ nết ăn, nết ngủ cho đến sự lười nhác, không chịu chăm chút bản thân mình - luộm thuộm, ở dơ… mặc dù anh chồng đã cố sức bênh vực theo đúng tinh thần câu tục ngữ “yêu nên tốt, ghét nên xấu” (qua cấu trúc lặp đi lặp lại “chồng yêu chồng bảo...”).
Bài 3: Sưu tầm những bài ca dao hài hước
- Nghiện ngập rượu chè:
“Rượu chè cờ bạc lu bù
Hết tiền, đã có mẹ cu bán hàng”.
- Tệ nạn tảo hôn:
“Cái bống cõng chồng đi chơi.
Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng.
Chú lái ơi! Cho tôi mượn cái gàu sòng,
Để tôi tát nước, múc chồng tôi lên”.
- Phê phán thầy bói, thầy cúng, thầy địa lí, thầy phù thủy :
“Bói cho một quẻ trong nhà
Con heo bốn cẳng, con gà hai chân”
“Bà già ra chợ cầu Đông
Xem một quẻ bói lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi, nhưng răng không còn”.
CA DAO HÀI HƯỚC
I. TIỂU DẪN. (T.82)
II. ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN
1. Bài ca dao 1
- Chàng trai dự tính dẫn cưới:
+ Voi, trâu, bò → Lễ vật sang trọng, linh đình, hoành tráng→ Tình yêu, sự trân trọng cô gái của chàng trai.
II. ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN
1. Bài ca dao 1
- Lí do không thực hiện được:
+ Dẫn voi sợ quốc cấm.
+ Dẫn trâu sợ họ máu hàn.
+ Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân.
→Lí do chính đáng → sự hiểu biết, chu đáo của chàng trai đối với nhà gái.
CA DAO HÀI HƯỚC
I. TIỂU DẪN. (T.82)
II. ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN
1. Bài ca dao 1
Quyết định chọn vật dẫn cưới: con chuột béo
→ Cách lập luận thông minh, dí dỏm, bất ngờ → Tâm hồn lạc quan, yêu đời, vui với cảnh nghèo của chàng trai.
Lối nói phóng đại, dẫn cưới theo mức độ giảm dần + cách nói đối lập → Người lao động dù sống trong cảnh cơ hàn vẫn cười vui, vượt lên trên hoàn cảnh.
- Cô gái thách cưới:
một nhà khoai lang
→ Lễ vật bình dị, gần gũi nhưng cũng khác thường → sự thông cảm, thấu hiểu cho hoàn cảnh của người mình yêu.
+ Củ to - mời làng.
+ Củ nhỏ - mời họ hàng
+ Củ mẻ - cho con trẻ
+ Củ rím, hà - cho lợn, gà
→ Cách sử dụng vật thách cưới được sắp theo mức giảm dần → tính toán chu toàn mọi bề → cô gái là người biết lễ nghĩa, đảm đam, tháo vát.
Cô gái đặt nghĩa tình cao hơn của cải, biết hài lòng với những gì đang có → triết lí nhân sinh cao đẹp của người bình dân xưa.
2. Bài ca dao số 2
- Mở đầu: “Làm trai…” → gợi lên trách nhiệm, nghĩa vụ của đấng nam nhi đối với gia đình, xã hội.
- Thủ pháp phóng đại + đối lập:
“Khom lưng chống gối >< gánh hai hạt vừng” → thái độ chế giễu, mỉa mai của dân gian đối với những kẻ yếu đuối, lười nhác.
Phê phán loại đàn ông yếu đuối, không đáng sức trai, không có chí lớn.
III. TỔNG KẾT
1. Nghệ thuật
-Hư cấu, dựng cảnh tài tình, khắc hoạ nhân vật bằng những nét điển hình.
-Cường điệu, phóng đại, tương phản.
-Dùng ngôn từ đời thường mà đầy hàm ý.
2. Ý nghĩa văn bản
Tâm hồn lạc quan yêu đời và triết lí nhân sinh lành mạnh của người lao động Việt Nam trong ca dao – dân ca.
Cái cò lặn lội bờ ao,
Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?
Chú tôi hay tửu hay tăm,
Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa.
Ngày thì ước những ngày mưa,
Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.
Cảm nhận của anh/chị về bài ca dao trên?
Bài 1
BÀI TẬP
- Chân dung của người chú là bức biếm họa được vẽ toàn bằng những nét giễu cợt, mỉa mai:
→ Ý mỉa mai: Tuổi thanh niên sức dài vai rộng mà không lo chí thú làm ăn, lại chấp nhận sống đời tầm gửi thì quả là chẳng đáng mặt làm trai.
“Chú tôi hay tửu hay tăm,
Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa.
Ngày thì ước những ngày mưa,
Đêm thì ước những đêm thừa trống canh”
- Cô yếm đào là hình ảnh tương phản với hình ảnh của nhân vật chú tôi. Chiếc yếm đào tượng trưng cho những cô gái nông thôn trẻ, đẹp. Xứng đáng lấy cô yếm đào phải là chàng trai chăm chỉ, giỏi giang chứ không thể là người có nhiều thói hư tật xấu.
“Lỗ mũi mười tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.
Đêm nằm thì ngáy o o…
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu!”
Bài 2.
Cảm nhận của anh/chị về hình ảnh người phụ nữ trong bài ca dao trên.
Người phụ nữ mang nhiều thói xấu từ nết ăn, nết ngủ cho đến sự lười nhác, không chịu chăm chút bản thân mình - luộm thuộm, ở dơ… mặc dù anh chồng đã cố sức bênh vực theo đúng tinh thần câu tục ngữ “yêu nên tốt, ghét nên xấu” (qua cấu trúc lặp đi lặp lại “chồng yêu chồng bảo...”).
Bài 3: Sưu tầm những bài ca dao hài hước
- Nghiện ngập rượu chè:
“Rượu chè cờ bạc lu bù
Hết tiền, đã có mẹ cu bán hàng”.
- Tệ nạn tảo hôn:
“Cái bống cõng chồng đi chơi.
Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng.
Chú lái ơi! Cho tôi mượn cái gàu sòng,
Để tôi tát nước, múc chồng tôi lên”.
- Phê phán thầy bói, thầy cúng, thầy địa lí, thầy phù thủy :
“Bói cho một quẻ trong nhà
Con heo bốn cẳng, con gà hai chân”
“Bà già ra chợ cầu Đông
Xem một quẻ bói lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi, nhưng răng không còn”.
 









Các ý kiến mới nhất