Tìm kiếm Bài giảng
Hệ thống TV học về TV hai lá mầm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hà
Ngày gửi: 21h:20' 16-12-2021
Dung lượng: 6.1 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hà
Ngày gửi: 21h:20' 16-12-2021
Dung lượng: 6.1 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
Nhóm 1: Nguyễn Văn Ban
Nguyễn Thị Hà
Nguyễn Thị Liên
PHÂN LỚP CẨM CHƯỚNG
Phân lớp Cẩm chướng (danh pháp khoa học: Caryophyllidae) là một danh pháp thực vật ở cấp phân lớp. Cho đến nay vẫn không có sự đồng thuận hoàn toàn về việc các bộ nào có thể được coi là thuộc về phân lớp này, ngoại trừ duy nhất là nó phải luôn luôn chứa bộ Cẩm chướng (Caryophyllales). Lưu ý rằng đây chỉ là khó khăn về vấn đề đặt tên gọi: Các đơn vị thực vật khác nhau ở cấp nhỏ hơn được gọi bằng tên nào mà có rất ít tranh cãi về việc các loài, họ, bộ đang xem xét có quan hệ họ hàng như thế nào.
Bộ Caryophyllales- bộ Cẩm chướng
Bộ Polygonales- bộ Rau răm
Bộ Plumbaginales- bộ Bạch hoa đan
1. Bộ Cẩm chướng (Caryophyllales)
- Là một bộ thực vật có hoa. Theo cập nhật ngày 8 tháng 4 năm 2007 của hệ thống APG II thì bộ này chứa 33 họ với khoảng 692 chi và khoảng 11.155 loài.
Họ Achatocarpaceae: Khoảng 10 loài trong 2 chi (Achatocarpus và Phaulothamnus) ở khu vực từ tây nam Hoa Kỳ tới cận nhiệt đới Nam Mỹ.
Họ Aizoaceae – họ phiên hạnh, hoa đá.
Họ Amaranthaceae – họ rau dền, rau rệu.
Họ Ancistrocladaceae – họ Trung quân.
Họ Asteropeiaceae: Một chi Asteropeia, ở Madagascar.
Họ Barbeuiaceae: Họ mới so với APG, chỉ có một loài dây leo tại Madagascar với danh pháp Barbeuia madagascariensis.
Họ Basellaceae – họ Mồng tơi.
Họ Cactaceae – họ Xương rồng.
Họ Caryophyllaceae – họ Cẩm chướng.
Họ Didiereaceae: - họ Xương rồng Madagascar, gồm 4 chi đặc hữu ở miền nam Madagascar.
Họ Dioncophyllaceae: Ba loài sinh sống trong khu vực rừng mưa Tây Phi là Dioncophyllum thollonii, Habropetalum dawei và Triphyophyllum peltatum.
Họ Droseraceae – họ Gọng vó
Họ Drosophyllaceae - họ Gọng vó Iberia, một loài duy nhất với danh pháp Drosophyllum lusitanicum sinh sống tại khu vực bán đảo Iberia (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha) cũng như ở Maroc.
Họ Frankeniaceae: Khoảng trên 90 loài trong một chi (Frankenia).
Họ Gisekiaceae: Họ mới so với APG.
Họ Halophytaceae: Họ mới so với APG, chỉ có một loài cây thân thảo duy nhất với danh pháp Halophytum ameghinoi, sinh sống tại khu vực Patagonia (miền nam Nam Mỹ)
Họ Basellaceae – họ Mồng tơi.
Họ Cactaceae – họ Xương rồng.
Họ Caryophyllaceae – họ Cẩm chướng.
Họ Didiereaceae: - họ Xương rồng Madagascar, gồm 4 chi đặc hữu ở miền nam Madagascar.
Họ Dioncophyllaceae: Ba loài sinh sống trong khu vực rừng mưa Tây Phi là Dioncophyllum thollonii, Habropetalum dawei và Triphyophyllum peltatum.
Họ Droseraceae – họ Gọng vó.
Họ Drosophyllaceae - họ Gọng vó Iberia, một loài duy nhất với danh pháp Drosophyllum lusitanicum sinh sống tại khu vực bán đảo Iberia (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha) cũng như ở Maroc.
Họ Frankeniaceae: Khoảng trên 90 loài trong một chi (Frankenia).
Họ Gisekiaceae: Họ mới so với APG.
Họ Halophytaceae: Họ mới so với APG, chỉ có một loài cây thân thảo duy nhất với danh pháp Halophytum ameghinoi, sinh sống tại khu vực Patagonia (miền nam Nam Mỹ)
Họ Limeaceae với 2 chi (Limeum, Macarthuria) và khoảng 23 loài. Họ Lophiocarpaceae với 2 chi (Corbichonia, Lophiocarpus) và khoảng 6 loài.
Họ Molluginaceae – họ Cỏ bình cu, cỏ bụng cu hay họ Rau đắng đất
Họ Montiaceae với khoảng 10 chi (Claytonia, Hectorella, Lewisia, Montia, Montiopsis, Phemeranthus v.v)
Họ Nepenthaceae – họ Nắp ấm, sinh sống tại khu vực Cựu thế giới. Lưu ý còn một họ khác cũng gọi là họ Nắp ấm là họ Sarraceniaceae - họ Nắp ấm sinh sống tại khu vực Tân thế giới thuộc bộ Thạch nam (Ericales).
Họ Nyctaginaceae – họ Hoa giấy (bông phấn)
Họ Physenaceae: Họ đặc hữu Madagascar với khoảng 2 loài trong 1 chi Physena.
Họ Phytolaccaceae – họ Thương lục
Họ Plumbaginaceae – họ Bạch hoa đan (đuôi công)
Họ Polygonaceae – họ Rau răm
Họ Portulacaceae – họ Rau sam, theo APG III chỉ chứa 1 chi (Portulaca).
Họ Rhabdodendraceae: Hai đến ba loài trong một chi Rhabdodendron, vùng nhiệt đới Nam Mỹ.
Họ Sarcobataceae: Một đến hai loài trong chi Sarcobatus, trước đây coi thuộc về họ Rau muối (Chenopodiaceae). Bản thân họ Rau muối này hiện nay đa phần được coi là một phân họ trong họ Dền.
Họ Simmondsiaceae: Một loài cây bụi (Simmondsia chinensis) ở Bắc Mỹ.
Họ Stegnospermataceae: Khoảng ba loài trong một chi (Stegnosperma) ở Trung Mỹ và Caribe.
Họ Limeaceae với 2 chi (Limeum, Macarthuria) và khoảng 23 loài. Họ Lophiocarpaceae với 2 chi (Corbichonia, Lophiocarpus) và khoảng 6 loài.
Họ Molluginaceae – họ Cỏ bình cu, cỏ bụng cu hay họ Rau đắng đất
Họ Montiaceae với khoảng 10 chi (Claytonia, Hectorella, Lewisia, Montia, Montiopsis, Phemeranthus v.v)
Họ Nepenthaceae – họ Nắp ấm, sinh sống tại khu vực Cựu thế giới. Lưu ý còn một họ khác cũng gọi là họ Nắp ấm là họ Sarraceniaceae - họ Nắp ấm sinh sống tại khu vực Tân thế giới thuộc bộ Thạch nam (Ericales).
Họ Nyctaginaceae – họ Hoa giấy (bông phấn).
Họ Physenaceae: Họ đặc hữu Madagascar với khoảng 2 loài trong 1 chi Physena.
Họ Phytolaccaceae – họ Thương lục
Họ Talinaceae với 2 chi (Talinella, Talinum) và khoảng 22 loài
Họ Tamaricaceae- Họ Thánh liễu (sanh liễu, dương liễu ??)
1.1. Họ Amaranthaceae – họ rau dền, rau rệu:
Là một họ chứa khoảng 160-180 chi với khoảng 2.050-2.500 loài. Phần lớn các loài là cây thân thảo hay cây bụi nhỏ; rất ít loài là cây gỗ hay dây leo.
Đặc điểm của họ:
- Lá của các loài trong họ này là lá đơn, có thể mọc đối hay so le, các mép lá nhẵn hay hơi có khía và chúng không có các lá kèm. Trong phần lớn các trường hợp, hoặc là có sự tập hợp ở gốc hay ở ngọn các lá.
- Các hoa hoặc là mọc đơn hoặc mọc thành cụm dạng xim hoa, cành hoa hay chùy hoa. Thông thường chúng là hoa hoàn hảo (lưỡng tính) và đối xứng tỏa tia. Một số ít loài có hoa đơn tính. Các hoa có 4-5 cánh hoa, thông thường kết nối với nhau và có khoảng 1-5 nhị hoa. Nhụy hoa dạng dưới bầu có 3-5 lá đài kết nối với nhau.
- Quả có thể là quả bế, quả hạch, hay quả nang nứt theo đường vòng, ít thấy dạng quả mọng.
Đại diện: Rau Dền
Rau Dền
Ở Việt Nam, rau dền thường thấy là dền đỏ (dền tía - Amaranthus tricolor), dền cơm (dền trắng - Amaranthus viridis) làm rau ăn; dền gai (Amaranthus spinosus) mọc hoang dại.
Chi Dền là những loài cây thân thảo, có bộ rễ khỏe, ăn sâu nên khả năng chịu hạn, chịu nước tốt, sức nảy mầm cao.
Chu kỳ phát triển của nó tương đối ngắn, các giống dền trắng và dền đỏ ở Việt Nam gieo hạt sau 25-30 ngày là có thể đem trồng, sau khi trồng 25-30 ngày đã thu hoạch được. Các loài dền hạt trồng làm cây lương thực gieo hạt sau 3-4 ngày bắt đầu nảy mầm và ra hoa sau đó khoảng 2 tháng rưỡi.
Chi Mào gà
Chúng là những cây làm cảnh hay có thể ăn được, có hình dạng và sử dụng tương tự như cây rau dền. Chúng được gọi là cây mào gà do màu sắc và hình dạng hoa giống như mào của gà.
1.2. Họ Mồng tơi
Đặc điểm: Họ này bao gồm khoảng 20 loài thực vật thân thảo (một số là dây leo).
Đại diện: Mồng tơi
1.3. Họ Xương rồng
Là các loài cây mọng nước hai lá mầm và có hoa
Có nhiều dạng phát triển: thành cây lớn, thành bụi hoặc phủ sát mặt đất. Đa số các loài xương rồng đều mọc và phát triển từ đất, nhưng cũng có rất nhiều loài ký sinh trên các loài cây khác để phát triển.
Xương rồng
1.4. Họ Cẩm chướng
Nó là một họ lớn, với khoảng từ 82 đến trên 120 chi (tùy theo việc xem xét một vài chi theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp) và trên 2.200 loài tới khoảng 3.000 loài.
Chủ yếu là cây thân thảo, đa dạng nhất tại khu vực ôn đới, với một vài loài sinh sống trong miền núi tại khu vực nhiệt đới.
- Đặc điểm: Lá gần như luôn luôn mọc đối, hiếm khi mọc vòng. Phiến lá nguyên, có cuống lá và thường có lá kèm. Các lá kèm này không tạo thành bao vỏ.
Hoa lưỡng tính ở đầu cành, mọc đơn lẻ hay thành các cụm hoa dạng xim hoa. Cụm hoa có thể là xim hai ngả.
Hoa cân đối, chủ yếu mẫu 5, nghĩa là với 5 cánh hoa và 5 lá đài, nhưng đôi khi chỉ 4 cánh hoa. Các lá đài rời hay hợp. Các cánh hoa nhăn hay chẻ sâu ở tận cùng. Đài hoa có thể phồng hình trụ
Quả không dày cùi thịt. Thường là quả nang, ít thấy dạng quả kiên nhỏ.
Đại diện: Cẩm Chướng thơm lùn
Là một loài cây thân thảo có tuổi thọ ngắn, cao 30–75 cm, với hoa trong một cụm dày đặc lên đến 30 ở đầu thân. Mỗi hoa có đường kính 2–3 cm với năm cánh hoa có các cạnh có răng cưa. Thực vật hoang dã có hoa màu đỏ với đế hoa trắng, nhưng màu sắc trong phạm vi trồng trọt có màu từ trắng, hồng, đỏ, và màu tím với hoa văn loang lổ
Cẩm Chướng gấm
Cẩm chướng gấm là một cây thảo một năm hay hai năm, mọc thành bụi nhỏ, cao trung bình từ 30 tới 50 cm, có khi tới 60 cm. Hoa đơn độc hay họp thành chuỳ hoặc xim thưa, hơi thơm, 4 lá bắc không đều, cánh hoa dính nhau, các phiến màu đỏ (có những giống trồng có hoa trắng, hồng, tím và màu lốm đốm), có râu. Hoa dại mọc tháng 5-6, hoa trồng thì tới tháng 9.
1.5. Họ Hoa giấy hay họ Bông phấn
Chứa khoảng 30-31 chi với 405 loài
Họ này có kiểu quả độc nhất vô nhị, gọi là "quả tụ", và nhiều chi có hạt phấn cực lớn (>100 µm).
Đại diện: Bông phấn
Là một chi thực vật có hoa trong họ Nyctaginaceae, được biết đến như là bông phấn, với các tên gọi trong tiếng Anh là four-o`clocks (bốn giờ) hay umbrellaworts (cỏ dù).[2] Loài được biết đến nhiều nhất có lẽ là Mirabilis jalapa, được trồng tại Việt Nam với tên gọi bông phấn.
Chi này chứa các loài cây thân thảo, chủ yếu được tìm thấy tại châu Mỹ. Một số loài tạo thành các rễ củ cho phép chúng sống lâu năm qua các mùa khô và lạnh. Chúng có hoa nhỏ với họng sâu, thường rất thơm.
Đại diện: Chi Hoa giấy hay chi Bông giấy
Các loài trong chi này là các loại dây leo dạng gỗ, cây bụi hay cây thân gỗ có gai. Các loài dây leo mọc cao tới 1–12 m, bò trên các loài cây khác bằng các gai có móc. Các gai có mũi nhọn chứa chất dạng sáp màu đen dễ dàng để lại trong thịt của các nạn nhân không ngờ vực. Chúng luôn xanh tươi khi lượng mưa dồi dào quanh năm, nhưng lại là sớm rụng lá nếu sống trong môi trường có mùa khô. Các lá mọc so le, lá đơn hình trứng nhọn mũi, dài 4–13 cm và rộng 2–6 cm. Hoa thật sự của chúng nhỏ và nói chung có màu trắng, nhưng mỗi cụm 3 hoa được bao quanh bằng 3 hay 6 lá bắc với màu rực rỡ gắn liền với nhóm thực vật này, bao gồm các màu hồng, tím, tía, đỏ, cam, trắng hay vàng.
Quả là dạng quả bế hẹp, 5 thùy.
1.6. Họ Rau sam
Bao gồm khoảng 20-23 chi với khoảng 500 loài.
Đặc điểm: dưới dạng các cây thân thảo hay cây bụi nhỏ.
2.Bộ Rau răm (Polygonales)
Bộ Rau răm chỉ gồm 1 họ là Họ Rau răm.
Họ Rau răm hay còn gọi là họ Nghể, họ Kiều mạch có danh pháp khoa học là Polygonaceae, chứa khoảng 43-53 chi và trên 1.100 loài cây thân thảo, cây bụi và cây thân gỗ nhỏ với các cơ quan sinh sản đơn tính xuất hiện tên cùng một cây hay trên hai cây khác nhau. Một số thành viên trong họ này được biết đến như là kiều mạch, chút chít, đại hoàng, nghể, rau răm, hà thủ ô đỏ, hoa ti gôn
2.1. Rau răm
Rau răm là một loại cây lưu niên sinh trưởng tốt nhất trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trong điều kiện nóng ẩm nhưng không sống được nếu vĩ độ trên 32° hay quá nhiều nước. Trong điều kiện thuận lợi, thân cây có thể cao từ 15 đến 30 cm. Khi quá lạnh hoặc quá nóng, cây rau răm sẽ lụi tàn.
Mặt trên lá răm màu lục sẫm, điểm đốm màu nâu nhạt còn mặt dưới màu hung đỏ. Thân răm có đốt.
Ở Việt Nam răm được trồng làm rau hoặc có khi mọc tự nhiên. Rau răm có thể sinh trưởng tốt trong mùa hè ở vùng khí hâu ôn đới châu Âu. Cây rau răm ưa sáng và chịu được đất thoát nước tốt.
2.2. Hà thủ ô đỏ
là một loài hà thủ ô cây thân mềm dạng dây leo quấn với nhau, rễ phình to thành củ màu đỏ. Lá hình tim, đầu nhọn, dài 5 - 7cm, rộng 3 – 5 cm. Cụm hoa hình chùy mọc ở đầu cành hoặc nách lá, mang nhiều hoa. Hoa nhỏ, màu trắng, 3 mảnh vòng ngoài lớn lên cùng quả. Quả 3 cạnh, khô, không tự mở.
2.3. Chi Ti-gôn hay còn gọi chi hiếu nữ, Ăng-ti-gôn (danh pháp khoa học: Antigonon) là tên gọi chung để chỉ chi thực vật thuộc họ Rau răm
Ti-gôn có thể bám vào giàn hoặc bất cứ vật gì ở gần để leo lên độ cao 9–12 m, là loại cây thường xanh tại các vùng khí hậu không có băng giá, lá hình trái tim kích thước khoảng 4 cm, mùa hè ra hoa thành chùm với các sắc độ từ trắng đến hồng và đỏ san hô. Ti-gôn dễ trồng, cần nhiều ánh nắng để ra được nhiều hoa, ưa đất ẩm nhưng cũng chịu được đất khô hạn.
Tại Việt Nam, loài du nhập là A. leptopus, thường được trồng leo tường rào hoặc giàn cho đẹp và lấy bóng mát.
3. Bộ Bạch hoa đan hay bộ Đuôi công
(Plumbaginales)
Gồm 1 họ duy nhất là họ Họ Bạch hoa đan hay họ Đuôi công ( Plumbaginacea).
Phần lớn các loài trong họ này là cây thân thảo sống lâu năm, nhưng có một số ít là dạng dây leo hay cây bụi nhỏ. Các loài có hoa lưỡng tính, được thụ phấn nhờ côn trùng. Chúng được tìm thấy trong nhiều khu vực có khí hậu khác nhau, từ khu vực có khí hậu cận Bắc cực tới nhiệt đới, nhưng nói chung hay gắn liền với các thảo nguyên, đầm lầy và ven biển, trong các điều kiện đất mặn.
Nguyễn Thị Hà
Nguyễn Thị Liên
PHÂN LỚP CẨM CHƯỚNG
Phân lớp Cẩm chướng (danh pháp khoa học: Caryophyllidae) là một danh pháp thực vật ở cấp phân lớp. Cho đến nay vẫn không có sự đồng thuận hoàn toàn về việc các bộ nào có thể được coi là thuộc về phân lớp này, ngoại trừ duy nhất là nó phải luôn luôn chứa bộ Cẩm chướng (Caryophyllales). Lưu ý rằng đây chỉ là khó khăn về vấn đề đặt tên gọi: Các đơn vị thực vật khác nhau ở cấp nhỏ hơn được gọi bằng tên nào mà có rất ít tranh cãi về việc các loài, họ, bộ đang xem xét có quan hệ họ hàng như thế nào.
Bộ Caryophyllales- bộ Cẩm chướng
Bộ Polygonales- bộ Rau răm
Bộ Plumbaginales- bộ Bạch hoa đan
1. Bộ Cẩm chướng (Caryophyllales)
- Là một bộ thực vật có hoa. Theo cập nhật ngày 8 tháng 4 năm 2007 của hệ thống APG II thì bộ này chứa 33 họ với khoảng 692 chi và khoảng 11.155 loài.
Họ Achatocarpaceae: Khoảng 10 loài trong 2 chi (Achatocarpus và Phaulothamnus) ở khu vực từ tây nam Hoa Kỳ tới cận nhiệt đới Nam Mỹ.
Họ Aizoaceae – họ phiên hạnh, hoa đá.
Họ Amaranthaceae – họ rau dền, rau rệu.
Họ Ancistrocladaceae – họ Trung quân.
Họ Asteropeiaceae: Một chi Asteropeia, ở Madagascar.
Họ Barbeuiaceae: Họ mới so với APG, chỉ có một loài dây leo tại Madagascar với danh pháp Barbeuia madagascariensis.
Họ Basellaceae – họ Mồng tơi.
Họ Cactaceae – họ Xương rồng.
Họ Caryophyllaceae – họ Cẩm chướng.
Họ Didiereaceae: - họ Xương rồng Madagascar, gồm 4 chi đặc hữu ở miền nam Madagascar.
Họ Dioncophyllaceae: Ba loài sinh sống trong khu vực rừng mưa Tây Phi là Dioncophyllum thollonii, Habropetalum dawei và Triphyophyllum peltatum.
Họ Droseraceae – họ Gọng vó
Họ Drosophyllaceae - họ Gọng vó Iberia, một loài duy nhất với danh pháp Drosophyllum lusitanicum sinh sống tại khu vực bán đảo Iberia (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha) cũng như ở Maroc.
Họ Frankeniaceae: Khoảng trên 90 loài trong một chi (Frankenia).
Họ Gisekiaceae: Họ mới so với APG.
Họ Halophytaceae: Họ mới so với APG, chỉ có một loài cây thân thảo duy nhất với danh pháp Halophytum ameghinoi, sinh sống tại khu vực Patagonia (miền nam Nam Mỹ)
Họ Basellaceae – họ Mồng tơi.
Họ Cactaceae – họ Xương rồng.
Họ Caryophyllaceae – họ Cẩm chướng.
Họ Didiereaceae: - họ Xương rồng Madagascar, gồm 4 chi đặc hữu ở miền nam Madagascar.
Họ Dioncophyllaceae: Ba loài sinh sống trong khu vực rừng mưa Tây Phi là Dioncophyllum thollonii, Habropetalum dawei và Triphyophyllum peltatum.
Họ Droseraceae – họ Gọng vó.
Họ Drosophyllaceae - họ Gọng vó Iberia, một loài duy nhất với danh pháp Drosophyllum lusitanicum sinh sống tại khu vực bán đảo Iberia (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha) cũng như ở Maroc.
Họ Frankeniaceae: Khoảng trên 90 loài trong một chi (Frankenia).
Họ Gisekiaceae: Họ mới so với APG.
Họ Halophytaceae: Họ mới so với APG, chỉ có một loài cây thân thảo duy nhất với danh pháp Halophytum ameghinoi, sinh sống tại khu vực Patagonia (miền nam Nam Mỹ)
Họ Limeaceae với 2 chi (Limeum, Macarthuria) và khoảng 23 loài. Họ Lophiocarpaceae với 2 chi (Corbichonia, Lophiocarpus) và khoảng 6 loài.
Họ Molluginaceae – họ Cỏ bình cu, cỏ bụng cu hay họ Rau đắng đất
Họ Montiaceae với khoảng 10 chi (Claytonia, Hectorella, Lewisia, Montia, Montiopsis, Phemeranthus v.v)
Họ Nepenthaceae – họ Nắp ấm, sinh sống tại khu vực Cựu thế giới. Lưu ý còn một họ khác cũng gọi là họ Nắp ấm là họ Sarraceniaceae - họ Nắp ấm sinh sống tại khu vực Tân thế giới thuộc bộ Thạch nam (Ericales).
Họ Nyctaginaceae – họ Hoa giấy (bông phấn)
Họ Physenaceae: Họ đặc hữu Madagascar với khoảng 2 loài trong 1 chi Physena.
Họ Phytolaccaceae – họ Thương lục
Họ Plumbaginaceae – họ Bạch hoa đan (đuôi công)
Họ Polygonaceae – họ Rau răm
Họ Portulacaceae – họ Rau sam, theo APG III chỉ chứa 1 chi (Portulaca).
Họ Rhabdodendraceae: Hai đến ba loài trong một chi Rhabdodendron, vùng nhiệt đới Nam Mỹ.
Họ Sarcobataceae: Một đến hai loài trong chi Sarcobatus, trước đây coi thuộc về họ Rau muối (Chenopodiaceae). Bản thân họ Rau muối này hiện nay đa phần được coi là một phân họ trong họ Dền.
Họ Simmondsiaceae: Một loài cây bụi (Simmondsia chinensis) ở Bắc Mỹ.
Họ Stegnospermataceae: Khoảng ba loài trong một chi (Stegnosperma) ở Trung Mỹ và Caribe.
Họ Limeaceae với 2 chi (Limeum, Macarthuria) và khoảng 23 loài. Họ Lophiocarpaceae với 2 chi (Corbichonia, Lophiocarpus) và khoảng 6 loài.
Họ Molluginaceae – họ Cỏ bình cu, cỏ bụng cu hay họ Rau đắng đất
Họ Montiaceae với khoảng 10 chi (Claytonia, Hectorella, Lewisia, Montia, Montiopsis, Phemeranthus v.v)
Họ Nepenthaceae – họ Nắp ấm, sinh sống tại khu vực Cựu thế giới. Lưu ý còn một họ khác cũng gọi là họ Nắp ấm là họ Sarraceniaceae - họ Nắp ấm sinh sống tại khu vực Tân thế giới thuộc bộ Thạch nam (Ericales).
Họ Nyctaginaceae – họ Hoa giấy (bông phấn).
Họ Physenaceae: Họ đặc hữu Madagascar với khoảng 2 loài trong 1 chi Physena.
Họ Phytolaccaceae – họ Thương lục
Họ Talinaceae với 2 chi (Talinella, Talinum) và khoảng 22 loài
Họ Tamaricaceae- Họ Thánh liễu (sanh liễu, dương liễu ??)
1.1. Họ Amaranthaceae – họ rau dền, rau rệu:
Là một họ chứa khoảng 160-180 chi với khoảng 2.050-2.500 loài. Phần lớn các loài là cây thân thảo hay cây bụi nhỏ; rất ít loài là cây gỗ hay dây leo.
Đặc điểm của họ:
- Lá của các loài trong họ này là lá đơn, có thể mọc đối hay so le, các mép lá nhẵn hay hơi có khía và chúng không có các lá kèm. Trong phần lớn các trường hợp, hoặc là có sự tập hợp ở gốc hay ở ngọn các lá.
- Các hoa hoặc là mọc đơn hoặc mọc thành cụm dạng xim hoa, cành hoa hay chùy hoa. Thông thường chúng là hoa hoàn hảo (lưỡng tính) và đối xứng tỏa tia. Một số ít loài có hoa đơn tính. Các hoa có 4-5 cánh hoa, thông thường kết nối với nhau và có khoảng 1-5 nhị hoa. Nhụy hoa dạng dưới bầu có 3-5 lá đài kết nối với nhau.
- Quả có thể là quả bế, quả hạch, hay quả nang nứt theo đường vòng, ít thấy dạng quả mọng.
Đại diện: Rau Dền
Rau Dền
Ở Việt Nam, rau dền thường thấy là dền đỏ (dền tía - Amaranthus tricolor), dền cơm (dền trắng - Amaranthus viridis) làm rau ăn; dền gai (Amaranthus spinosus) mọc hoang dại.
Chi Dền là những loài cây thân thảo, có bộ rễ khỏe, ăn sâu nên khả năng chịu hạn, chịu nước tốt, sức nảy mầm cao.
Chu kỳ phát triển của nó tương đối ngắn, các giống dền trắng và dền đỏ ở Việt Nam gieo hạt sau 25-30 ngày là có thể đem trồng, sau khi trồng 25-30 ngày đã thu hoạch được. Các loài dền hạt trồng làm cây lương thực gieo hạt sau 3-4 ngày bắt đầu nảy mầm và ra hoa sau đó khoảng 2 tháng rưỡi.
Chi Mào gà
Chúng là những cây làm cảnh hay có thể ăn được, có hình dạng và sử dụng tương tự như cây rau dền. Chúng được gọi là cây mào gà do màu sắc và hình dạng hoa giống như mào của gà.
1.2. Họ Mồng tơi
Đặc điểm: Họ này bao gồm khoảng 20 loài thực vật thân thảo (một số là dây leo).
Đại diện: Mồng tơi
1.3. Họ Xương rồng
Là các loài cây mọng nước hai lá mầm và có hoa
Có nhiều dạng phát triển: thành cây lớn, thành bụi hoặc phủ sát mặt đất. Đa số các loài xương rồng đều mọc và phát triển từ đất, nhưng cũng có rất nhiều loài ký sinh trên các loài cây khác để phát triển.
Xương rồng
1.4. Họ Cẩm chướng
Nó là một họ lớn, với khoảng từ 82 đến trên 120 chi (tùy theo việc xem xét một vài chi theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp) và trên 2.200 loài tới khoảng 3.000 loài.
Chủ yếu là cây thân thảo, đa dạng nhất tại khu vực ôn đới, với một vài loài sinh sống trong miền núi tại khu vực nhiệt đới.
- Đặc điểm: Lá gần như luôn luôn mọc đối, hiếm khi mọc vòng. Phiến lá nguyên, có cuống lá và thường có lá kèm. Các lá kèm này không tạo thành bao vỏ.
Hoa lưỡng tính ở đầu cành, mọc đơn lẻ hay thành các cụm hoa dạng xim hoa. Cụm hoa có thể là xim hai ngả.
Hoa cân đối, chủ yếu mẫu 5, nghĩa là với 5 cánh hoa và 5 lá đài, nhưng đôi khi chỉ 4 cánh hoa. Các lá đài rời hay hợp. Các cánh hoa nhăn hay chẻ sâu ở tận cùng. Đài hoa có thể phồng hình trụ
Quả không dày cùi thịt. Thường là quả nang, ít thấy dạng quả kiên nhỏ.
Đại diện: Cẩm Chướng thơm lùn
Là một loài cây thân thảo có tuổi thọ ngắn, cao 30–75 cm, với hoa trong một cụm dày đặc lên đến 30 ở đầu thân. Mỗi hoa có đường kính 2–3 cm với năm cánh hoa có các cạnh có răng cưa. Thực vật hoang dã có hoa màu đỏ với đế hoa trắng, nhưng màu sắc trong phạm vi trồng trọt có màu từ trắng, hồng, đỏ, và màu tím với hoa văn loang lổ
Cẩm Chướng gấm
Cẩm chướng gấm là một cây thảo một năm hay hai năm, mọc thành bụi nhỏ, cao trung bình từ 30 tới 50 cm, có khi tới 60 cm. Hoa đơn độc hay họp thành chuỳ hoặc xim thưa, hơi thơm, 4 lá bắc không đều, cánh hoa dính nhau, các phiến màu đỏ (có những giống trồng có hoa trắng, hồng, tím và màu lốm đốm), có râu. Hoa dại mọc tháng 5-6, hoa trồng thì tới tháng 9.
1.5. Họ Hoa giấy hay họ Bông phấn
Chứa khoảng 30-31 chi với 405 loài
Họ này có kiểu quả độc nhất vô nhị, gọi là "quả tụ", và nhiều chi có hạt phấn cực lớn (>100 µm).
Đại diện: Bông phấn
Là một chi thực vật có hoa trong họ Nyctaginaceae, được biết đến như là bông phấn, với các tên gọi trong tiếng Anh là four-o`clocks (bốn giờ) hay umbrellaworts (cỏ dù).[2] Loài được biết đến nhiều nhất có lẽ là Mirabilis jalapa, được trồng tại Việt Nam với tên gọi bông phấn.
Chi này chứa các loài cây thân thảo, chủ yếu được tìm thấy tại châu Mỹ. Một số loài tạo thành các rễ củ cho phép chúng sống lâu năm qua các mùa khô và lạnh. Chúng có hoa nhỏ với họng sâu, thường rất thơm.
Đại diện: Chi Hoa giấy hay chi Bông giấy
Các loài trong chi này là các loại dây leo dạng gỗ, cây bụi hay cây thân gỗ có gai. Các loài dây leo mọc cao tới 1–12 m, bò trên các loài cây khác bằng các gai có móc. Các gai có mũi nhọn chứa chất dạng sáp màu đen dễ dàng để lại trong thịt của các nạn nhân không ngờ vực. Chúng luôn xanh tươi khi lượng mưa dồi dào quanh năm, nhưng lại là sớm rụng lá nếu sống trong môi trường có mùa khô. Các lá mọc so le, lá đơn hình trứng nhọn mũi, dài 4–13 cm và rộng 2–6 cm. Hoa thật sự của chúng nhỏ và nói chung có màu trắng, nhưng mỗi cụm 3 hoa được bao quanh bằng 3 hay 6 lá bắc với màu rực rỡ gắn liền với nhóm thực vật này, bao gồm các màu hồng, tím, tía, đỏ, cam, trắng hay vàng.
Quả là dạng quả bế hẹp, 5 thùy.
1.6. Họ Rau sam
Bao gồm khoảng 20-23 chi với khoảng 500 loài.
Đặc điểm: dưới dạng các cây thân thảo hay cây bụi nhỏ.
2.Bộ Rau răm (Polygonales)
Bộ Rau răm chỉ gồm 1 họ là Họ Rau răm.
Họ Rau răm hay còn gọi là họ Nghể, họ Kiều mạch có danh pháp khoa học là Polygonaceae, chứa khoảng 43-53 chi và trên 1.100 loài cây thân thảo, cây bụi và cây thân gỗ nhỏ với các cơ quan sinh sản đơn tính xuất hiện tên cùng một cây hay trên hai cây khác nhau. Một số thành viên trong họ này được biết đến như là kiều mạch, chút chít, đại hoàng, nghể, rau răm, hà thủ ô đỏ, hoa ti gôn
2.1. Rau răm
Rau răm là một loại cây lưu niên sinh trưởng tốt nhất trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trong điều kiện nóng ẩm nhưng không sống được nếu vĩ độ trên 32° hay quá nhiều nước. Trong điều kiện thuận lợi, thân cây có thể cao từ 15 đến 30 cm. Khi quá lạnh hoặc quá nóng, cây rau răm sẽ lụi tàn.
Mặt trên lá răm màu lục sẫm, điểm đốm màu nâu nhạt còn mặt dưới màu hung đỏ. Thân răm có đốt.
Ở Việt Nam răm được trồng làm rau hoặc có khi mọc tự nhiên. Rau răm có thể sinh trưởng tốt trong mùa hè ở vùng khí hâu ôn đới châu Âu. Cây rau răm ưa sáng và chịu được đất thoát nước tốt.
2.2. Hà thủ ô đỏ
là một loài hà thủ ô cây thân mềm dạng dây leo quấn với nhau, rễ phình to thành củ màu đỏ. Lá hình tim, đầu nhọn, dài 5 - 7cm, rộng 3 – 5 cm. Cụm hoa hình chùy mọc ở đầu cành hoặc nách lá, mang nhiều hoa. Hoa nhỏ, màu trắng, 3 mảnh vòng ngoài lớn lên cùng quả. Quả 3 cạnh, khô, không tự mở.
2.3. Chi Ti-gôn hay còn gọi chi hiếu nữ, Ăng-ti-gôn (danh pháp khoa học: Antigonon) là tên gọi chung để chỉ chi thực vật thuộc họ Rau răm
Ti-gôn có thể bám vào giàn hoặc bất cứ vật gì ở gần để leo lên độ cao 9–12 m, là loại cây thường xanh tại các vùng khí hậu không có băng giá, lá hình trái tim kích thước khoảng 4 cm, mùa hè ra hoa thành chùm với các sắc độ từ trắng đến hồng và đỏ san hô. Ti-gôn dễ trồng, cần nhiều ánh nắng để ra được nhiều hoa, ưa đất ẩm nhưng cũng chịu được đất khô hạn.
Tại Việt Nam, loài du nhập là A. leptopus, thường được trồng leo tường rào hoặc giàn cho đẹp và lấy bóng mát.
3. Bộ Bạch hoa đan hay bộ Đuôi công
(Plumbaginales)
Gồm 1 họ duy nhất là họ Họ Bạch hoa đan hay họ Đuôi công ( Plumbaginacea).
Phần lớn các loài trong họ này là cây thân thảo sống lâu năm, nhưng có một số ít là dạng dây leo hay cây bụi nhỏ. Các loài có hoa lưỡng tính, được thụ phấn nhờ côn trùng. Chúng được tìm thấy trong nhiều khu vực có khí hậu khác nhau, từ khu vực có khí hậu cận Bắc cực tới nhiệt đới, nhưng nói chung hay gắn liền với các thảo nguyên, đầm lầy và ven biển, trong các điều kiện đất mặn.
 








Các ý kiến mới nhất