Tìm kiếm Bài giảng
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG TỈNH TIỀN GIANG DANH NHÂN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Ngọc Nga
Ngày gửi: 10h:20' 20-12-2021
Dung lượng: 574.5 KB
Số lượt tải: 39
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Ngọc Nga
Ngày gửi: 10h:20' 20-12-2021
Dung lượng: 574.5 KB
Số lượt tải: 39
Số lượt thích:
0 người
LỊCH SỬ TỈNH TIỀN GIANG
DANH NHÂN TIÊU BIỂU
1.Danh thần LÊ VĂN DUYỆT
2. Anh hùng chống Pháp NGUYỄN HỮU HUÂN
3. Thái hậu TỪ DỤ
4. Nhà văn HỒ BIỂU CHÁNH
5.Soạn giả cải lương TRẦN HỮU TRANG
4. Nhà văn HỒ BIỂU CHÁNH
Tóm tắt lý lịch Hồ Biểu Chánh
Nhà văn Hồ Biểu Chánh sinh ngày 1-10-1884 tại Tỉnh Tiền Giang, nước Việt Nam. Ông sống và làm việc chủ yếu ở Thành phố Hồ Chí Minh, nước Việt Nam. Ông sinh thuộc cung Thiên Bình, cầm tinh con (giáp) khỉ (Giáp Thân 1884). Hồ Biểu Chánh xếp hạng nổi tiếng thứ 48036 trên thế giới và thứ 27 trong danh sách Nhà văn nổi tiếng.
- Tìm đường (Vĩnh Hội – năm 1939)
- Vợ già chồng trẻ (Phú Nhuận – năm 1957)
- Thầy Thông ngôn (Sài Gòn – năm 1926)
- Tiền bạc, bạc tiền (Sài Gòn – năm 1925)
- Tơ hồng vương vấn (năm 1955)
- Vì nghĩa vì tình (Càn Long – năm 1929)
- Ý và tình (Vĩnh Hội – năm 1938 – 1942)
Hồ Biểu Chánh thời trẻ
Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn.
Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi.
Tháng 8/1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt.
Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương.
SOẠN GIẢ CẢI LƯƠNG
TRẦN HỮU TRANG
Tiểu sử
Ông sinh năm 1906 tại xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình nông dân. Ngay từ nhỏ ông đã say mê đàn hát. Lúc đầu ông đi theo các gánh hát làm thư ký chép vở, sau đó được Mười Giảng (tức Đặng Công Danh) hướng dẫn dạy dỗ. Ông cho ra mắt kịch bản đầu tay Lửa đỏ lòng son vào năm 1928.
Thập niên 1930, ông nổi tiếng với hàng loạt sáng tác như Tô Ánh Nguyệt (1934), Lan và Điệp (1936), nhất là Đời cô Lựu (1937). Ông cộng tác với các gánh hát Trần Đắc, Năm Phỉ, Phụng Hảo, Năm Châu. Những sáng tác sau đó Tìm hạnh phúc, Mộng hoa vương, Chị chồng tôi, Tình lụy... hay Khi người điên biết yêu - cộng tác với Năm Châu, Lê Hoài Nở - tiếp tục gây tiếng vang lớn.
Sau Cách mạng tháng 8, ông hăng hái tham gia kháng chiến, làm Chủ tịch ủy ban kháng chiến xã Phú Kiết. Năm 1947, ông trở lại hoạt động tại Sài Gòn. Năm 1954, ông lại hoạt động trong phong trào hòa bình Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1960, ông tham gia Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và được bầu làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng. Ông mất vào ngày 1 tháng 10 năm 1966, tại suối Cây vùng Sa Mát trong một trận bom oanh tạc của Mỹ.
Trần Hữu Trang đã được Nhà nước truy tặng Huân chương Thành đồng và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 (1996). Tên ông còn được đặt tên cho một con đường, một ngôi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tên của ông còn được đặt cho tên Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang và Giải thưởng Trần Hữu Trang - một giải thưởng lớn trong lĩnh vực cải lương.
CHÀO TẠM BIỆT
DANH NHÂN TIÊU BIỂU
1.Danh thần LÊ VĂN DUYỆT
2. Anh hùng chống Pháp NGUYỄN HỮU HUÂN
3. Thái hậu TỪ DỤ
4. Nhà văn HỒ BIỂU CHÁNH
5.Soạn giả cải lương TRẦN HỮU TRANG
4. Nhà văn HỒ BIỂU CHÁNH
Tóm tắt lý lịch Hồ Biểu Chánh
Nhà văn Hồ Biểu Chánh sinh ngày 1-10-1884 tại Tỉnh Tiền Giang, nước Việt Nam. Ông sống và làm việc chủ yếu ở Thành phố Hồ Chí Minh, nước Việt Nam. Ông sinh thuộc cung Thiên Bình, cầm tinh con (giáp) khỉ (Giáp Thân 1884). Hồ Biểu Chánh xếp hạng nổi tiếng thứ 48036 trên thế giới và thứ 27 trong danh sách Nhà văn nổi tiếng.
- Tìm đường (Vĩnh Hội – năm 1939)
- Vợ già chồng trẻ (Phú Nhuận – năm 1957)
- Thầy Thông ngôn (Sài Gòn – năm 1926)
- Tiền bạc, bạc tiền (Sài Gòn – năm 1925)
- Tơ hồng vương vấn (năm 1955)
- Vì nghĩa vì tình (Càn Long – năm 1929)
- Ý và tình (Vĩnh Hội – năm 1938 – 1942)
Hồ Biểu Chánh thời trẻ
Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn.
Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi.
Tháng 8/1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt.
Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương.
SOẠN GIẢ CẢI LƯƠNG
TRẦN HỮU TRANG
Tiểu sử
Ông sinh năm 1906 tại xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình nông dân. Ngay từ nhỏ ông đã say mê đàn hát. Lúc đầu ông đi theo các gánh hát làm thư ký chép vở, sau đó được Mười Giảng (tức Đặng Công Danh) hướng dẫn dạy dỗ. Ông cho ra mắt kịch bản đầu tay Lửa đỏ lòng son vào năm 1928.
Thập niên 1930, ông nổi tiếng với hàng loạt sáng tác như Tô Ánh Nguyệt (1934), Lan và Điệp (1936), nhất là Đời cô Lựu (1937). Ông cộng tác với các gánh hát Trần Đắc, Năm Phỉ, Phụng Hảo, Năm Châu. Những sáng tác sau đó Tìm hạnh phúc, Mộng hoa vương, Chị chồng tôi, Tình lụy... hay Khi người điên biết yêu - cộng tác với Năm Châu, Lê Hoài Nở - tiếp tục gây tiếng vang lớn.
Sau Cách mạng tháng 8, ông hăng hái tham gia kháng chiến, làm Chủ tịch ủy ban kháng chiến xã Phú Kiết. Năm 1947, ông trở lại hoạt động tại Sài Gòn. Năm 1954, ông lại hoạt động trong phong trào hòa bình Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1960, ông tham gia Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và được bầu làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng. Ông mất vào ngày 1 tháng 10 năm 1966, tại suối Cây vùng Sa Mát trong một trận bom oanh tạc của Mỹ.
Trần Hữu Trang đã được Nhà nước truy tặng Huân chương Thành đồng và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 (1996). Tên ông còn được đặt tên cho một con đường, một ngôi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tên của ông còn được đặt cho tên Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang và Giải thưởng Trần Hữu Trang - một giải thưởng lớn trong lĩnh vực cải lương.
CHÀO TẠM BIỆT
 








Các ý kiến mới nhất