Tuần 23. Chiều tối (Mộ)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Minh Phương
Ngày gửi: 07h:53' 12-01-2022
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 82
Nguồn:
Người gửi: Minh Phương
Ngày gửi: 07h:53' 12-01-2022
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 82
Số lượt thích:
0 người
NHỮNG LIÊN HỆ VÀ NHẬN ĐỊNH ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Tự Tình 2 – Hồ Xuân Hương
Câu Cá Mùa Thu – Nguyễn Khuyến
Thương Vợ - Trần Tế Xương
Bài Ca Ngất Ngưởng – Nguyễn Công Trứ
Sa Hành Đoản Ca – Cao Bá Quát
Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu
NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ
TỰ TÌNH 2 – HỒ XUÂN HƯƠNG
Tác giả Hồ Xuân Hương
Sách Văn học trung đại Việt Nam của Lê Trí Viễn có viết: “Hồ Xuân Hương là tiếng nói tâm tình của người phụ nữ, thể hiện một bản lĩnh sống mạnh mẽ khác thường.”
Giáo sư Nguyễn Lộc có viết: “Hồ Xuân Hương là một nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa bởi thơ bà trước hết là tiếng nói tâm tình của người phụ nữ.”
Nhà thơ Xuân Diệu từng có nhận xét về thơ Hồ Xuân Hương: “Xuân Hương có mấy bài thơ than thân, làm thành một bộ ba song song nhau, bài nào cũng tiêu tao, cũng nói ra tự đáy lòng của người phụ nữ.”
Tác phẩm Tự Tình 2
“Tự Tình 2 là bài thơ cho thấy khát vọng sống, hạnh phúc và tài năng độc đáo của Bà Chúa thơ Nôm trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ và xây dựng hình tượng.”
“Bài thơ Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương vừa nói lên bi kịch duyên phận, vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của tác giả.”
“Thơ là tự truyện của khát vọng.”
LIÊN HỆ: TỰ TÌNH 2
“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng.”
(Lấy chồng chung – Hồ Xuân Hương)
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
3. “Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”
(Kiều ở lầu Ngưng Bích – Nguyễn Du)
4. “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa.”
(Nỗi thương mình – Nguyễn Du)
5. “Hỡi chàng ôi hỡi chàng ôi,
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.”
(Khóc Tổng Cóc – Hồ Xuân Hương)
NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ
CÂU CÁ MÙA THU – NGUYỄN KHUYẾN
Tác giả Nguyễn Khuyến
“Có thể nói với Nguyễn Khuyến lần đầu tiên nông thôn Việt Nam mới thực sự đi vào văn học.”
Xuân Diệu đã viết: “Thơ Yên Đổ vẫn phảng phất bay lượn giữa quê hương đồng chiêm trũng Hà Nam, trên quê hương làng mạc Việt Nam tất cả; bởi Nguyễn Khuyến đã tạo nên một tình yêu quê hương làng mạc trong văn học, tình yêu đồng bào, bà con dân quê trong xóm mình.”
Nhà thơ Xuân Diệu từng nhận xét: “Nguyễn Khuyến trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm. Mà trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu Vịnh, Thu Điếu, Thu Ẩm.”
4. “Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam.”
Tác phẩm Câu Cá Mùa Thu
“Bài thơ Câu cá mùa thu thể hiện sự cảm nhận về nghệ thuật gợi tả tinh tế của Nguyễn Khuyến về cảnh sắc mùa thu đồng bằng Bắc Bộ. Đồng thời, cho thấy tình yêu thiên nhiên đất nước, tâm trạng thời thế và tài thơ Nôm của tác giả này.”
Xuân Diệu có viết: “Bài thơ Thu Vịnh là có thần hơn hết, nhưng ta vẫn phải nhận bài Thu Điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam.”
“Cảnh sắc mùa thu đẹp, nhưng tĩnh lặng vắng bóng người, vắng cả âm thanh dù đó là sự chuyển động nhưng đó là sự chuyển động rất khẽ khàng và cả tiếng cá đớp mồi cũng không làm không gian xao động.”
LIÊN HỆ: CÂU CÁ MÙA THU
“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao 3. “ Em không nghe mùa thu
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu Dưới trăng mờ thổn thức
Nước biếc trông như tầng khói phủ Em không nghe rạo rực
Song thưa để mặc ánh trăng vào. Hình ảnh kẻ chinh phu
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái, Trong lòng người cô phụ?
Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Em không nghe rừng thu
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Lá thu kêu xào xạc
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.” Con nai vàng ngơ ngác
(Thu Vịnh – Nguyễn Khuyến) Đạp trên lá vàng khô”
2. “Năm gian nhà cỏ thấp le te ( Tiếng thu-Lưu Trọng Lư)
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe 4. “ Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt Tóc buồn rơi xuống lệ hàng ngàn
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe Đây mùa thu tới-mùa thu tới
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt? Vạt áo mơ phai dệt lá vàng”
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe (Đây mùa thu tới-Xuân Diệu)
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy.
Độ năm ba chén đã say nhè.”
(Thu Ẩm – Nguyễn Khuyến)
NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ
THƯƠNG VỢ - TRẦN TẾ XƯƠNG
Tác giả Trần Tế Xương
“Thương vợ là sự ngợi ca đức hi sinh của người phụ nữ và sự thấu hiểu của người chồng.”
“Với tình cảm thương yêu, quý trọng, tác giả đã ghi lại một cách xúc động, chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh. Thương vợ là bài thơ tiêu biểu cho thơ trữ tình của Trần Tế Xương: xúc cảm, chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc.”
“Bài thơ Thương Vợ cho ta thấy cái tài, cái tình của nhà thơ Trần Tế Xương.”
Tác phẩm Thương Vợ
“Con người nhà thơ Tú Xương cũng hiện lên rất rõ, từ dáng vẻ đến tâm hồn, từ cá tính đến tâm sự, cả nỗi đau đến vẻ đẹp, vừa rất riêng, vừa tiêu biểu cho cả một lớp người, một loại tâm trạng...”
Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu nhận xét: “Tú Xương là nhà thơ trào phúng có biệt tài. Ông ghi lại những cảnh đời lố lăng bằng ngọn bút hiện thực sâu sắc, bằng những hình ảnh góc cạnh, ngôn ngữ sắc bén.”
“Nói đến tài làm thơ của Tú Xương, nhiều người đã đặc biệt chú ý đến sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố hiện thực, trào phúng và trữ tình, trong đó trữ tình là gốc. Với Tú Xương, vẫn chưa thấy chắc chắn có bài thơ chữ Hán nào, chỉ thấy thơ Nôm viết bằng các thể loại cổ điển: thơ Đường Luật – thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, phú, văn tế, câu đối, hát nói, lục bát. Ở thể loại nào Tú Xương cũng tỏ ra là một nghệ sĩ bậc thầy.”
LIÊN HỆ: THƯƠNG VỢ
“Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.”
(Ca dao Việt Nam)
2. “Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ
Đem chuyện trăm năm trở lại bàn.”
(Quan tại gia – Trần Tế Xương)
“Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.”
(Ca dao Việt Nam)
4. “Thân em như phận con rùa.”
(Ca dao Việt Nam)
5. “Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn mướn không công
Thân này ví biết dường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong.”
(Kiếp lấy chồng chung – Hồ Xuân Hương)
NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ
BÀI CA NGẤT NGƯỞNG-NGUYỄN CÔNG TRỨ
Tác giả Nguyễn Công Trứ
Đánh giá về Nguyễn Công Trứ, sách Đại Nam liệt truyện viết: “Công Trứ là người trác lạc, có tài khí...Trứ làm quan thường bị bãi cách rồi được cân nhắc lên ngay. Tỏ sức ở chiến trường, nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở rộng ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn. Khi tuổi già về nghỉ, tức thì bỏ qua việc đời, chơi thú sơn thủy, trải hơn 10 năm có cái hứng thú phớt thoảng ra ngoài sự vật.”
Lê Thước từng nhận định: “Cụ Nguyễn Công Trứ là bậc anh hùng hào kiệt, lập phẩm rất cao, giữ lòng rất chính...”
Tác phẩm Bài Ca Ngất Ngưởng
“Bài ca ngất ngưởng thể hiện tâm hồn tự do phóng khoáng cùng thái độ tự tin của Nguyễn Công Trứ giữa cuộc đời.”
“Cái nét ướng, cái ngất ngưởng, cái ngạo nghễ, kiêu bạc ở Nguyễn Công Trứ là thái độ sống của một người tự tin, tự khẳng định tài năng của mình, ý thức rõ ràng về bản ngã của mình giữa một thuở giao thời.”
“Nếu như ngâm khúc thể hiện một con người cô đơn, đau xót đi tìm những giá trị của mình đã bị mất mát thì thể thơ hát nói, một thể thông dụng trong ca trù lại thể hiện một con người tài tứ thoát vòng cương tỏa, thoát sáo, thoát tạc lụy, danh lợi, nắm lấy phút vui hiện tại.”
LIÊN HỆ: BÀI CA NGẤT NGƯỞNG
“Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.”
(Đi Thi Tự Vịnh – Nguyễn Công Trứ)
2. “Chí làm trai Nam, Bắc, Đông,Tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.”
(Chí làm trai – Nguyễn Công Trứ)
3. “Xuống ngựa, lên xe, nọ tượng nhàn
Lượm mùi giáng chức với thăng quan
Điền viên dạo chiếc xe bò cái
Sẵn tấm mo che miệng thế gian.”
(Thơ đề mo cau – Nguyễn Công Trứ)
4. “Chí tang bồng hẹn với giang san
Đường trung hiếu, chữ quân thân là gánh vác.”
(Nợ tang bồng – Nguyễn Công Trứ)
NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ
SA HÀNH ĐOẢN CA – CAO BÁ QUÁT
Tác giả Cao Bá Quát
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã nhận xét: “Cao Bá Quát đúng là một con người có cái nhìn ít hợp cỡ với khuôn lồng của chế độ phong kiến.”
Tác phẩm Sa Hành Đoản Ca
“Tác phẩm Sa hành đoản ca là tiếng thở than oán, oán trách của Cao Bá Quát về bi kịch của bản thân nhà thơ.”
LIÊN HỆ: SA HÀNH ĐOẢN CA
1. “Nhân tài đất Bắc nào ai đó
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.”
(Vịnh khoa thi hương – Trần Tế Xương)
2. “Kẻ chức bồi, người tước cu li
Thông ngôn, kí lục chi chi
Mãn đời lính tập, trọn vì quan sang.”
(Á tế á ca – Phan Bội Châu)
3. “Sĩ khí rụt rè gà phải cáo
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi.”
(Than đạo học – Trần Tế Xương)
NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC -NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Tác giả Nguyễn Đình Chiểu
Nhận định của Xuân Diệu: “Cái ưu ái đối với người lao động, sự kính mến họ là một đặc điểm của tâm hồn Đồ Chiểu.”
“Nguyễn Đình Chiểu – ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc.”
Phạm Văn Đồng khẳng định: “Nguyễn Đình Chiểu là một chiến sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta. Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu sao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa và tư tưởng.”
Tác phẩm Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
Phạm Văn Đồng cho rằng: “Khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang”
“Với bài văn tế này, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ. Ở đây là người nông dân nghĩa quân chống giặc cứu nước.”
“Có thể nói lần đầu tiên trong văn học dân tộc, người nông dân nghĩa sĩ chống giặc ngoại xâm đã được dựng một tượng đài nghệ thuật bất tử.”
LIÊN HỆ: VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
1. “Ngày mười tám trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn.”
(Đại cáo Bình Ngô – Nguyễn Trãi)
2. “Mười ban võng hệ nào đợi tập rèn
Chín chục trận binh thư không chờ bày bố.”
(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu)
3. “Ôi, chết thế không thể nào chết được
Không thể chết những người dân yêu nước
Những con người không chịu ô danh.”
(Thù muôn đời muôn kiếp không tan – Tố Hữu)
4. “Có biết bao người con gái con trai
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Nhưng họ đã làm nên Đất Nước.”
(Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm)
Tự Tình 2 – Hồ Xuân Hương
Câu Cá Mùa Thu – Nguyễn Khuyến
Thương Vợ - Trần Tế Xương
Bài Ca Ngất Ngưởng – Nguyễn Công Trứ
Sa Hành Đoản Ca – Cao Bá Quát
Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu
NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ
TỰ TÌNH 2 – HỒ XUÂN HƯƠNG
Tác giả Hồ Xuân Hương
Sách Văn học trung đại Việt Nam của Lê Trí Viễn có viết: “Hồ Xuân Hương là tiếng nói tâm tình của người phụ nữ, thể hiện một bản lĩnh sống mạnh mẽ khác thường.”
Giáo sư Nguyễn Lộc có viết: “Hồ Xuân Hương là một nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa bởi thơ bà trước hết là tiếng nói tâm tình của người phụ nữ.”
Nhà thơ Xuân Diệu từng có nhận xét về thơ Hồ Xuân Hương: “Xuân Hương có mấy bài thơ than thân, làm thành một bộ ba song song nhau, bài nào cũng tiêu tao, cũng nói ra tự đáy lòng của người phụ nữ.”
Tác phẩm Tự Tình 2
“Tự Tình 2 là bài thơ cho thấy khát vọng sống, hạnh phúc và tài năng độc đáo của Bà Chúa thơ Nôm trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ và xây dựng hình tượng.”
“Bài thơ Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương vừa nói lên bi kịch duyên phận, vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của tác giả.”
“Thơ là tự truyện của khát vọng.”
LIÊN HỆ: TỰ TÌNH 2
“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng.”
(Lấy chồng chung – Hồ Xuân Hương)
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
3. “Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”
(Kiều ở lầu Ngưng Bích – Nguyễn Du)
4. “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa.”
(Nỗi thương mình – Nguyễn Du)
5. “Hỡi chàng ôi hỡi chàng ôi,
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.”
(Khóc Tổng Cóc – Hồ Xuân Hương)
NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ
CÂU CÁ MÙA THU – NGUYỄN KHUYẾN
Tác giả Nguyễn Khuyến
“Có thể nói với Nguyễn Khuyến lần đầu tiên nông thôn Việt Nam mới thực sự đi vào văn học.”
Xuân Diệu đã viết: “Thơ Yên Đổ vẫn phảng phất bay lượn giữa quê hương đồng chiêm trũng Hà Nam, trên quê hương làng mạc Việt Nam tất cả; bởi Nguyễn Khuyến đã tạo nên một tình yêu quê hương làng mạc trong văn học, tình yêu đồng bào, bà con dân quê trong xóm mình.”
Nhà thơ Xuân Diệu từng nhận xét: “Nguyễn Khuyến trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm. Mà trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu Vịnh, Thu Điếu, Thu Ẩm.”
4. “Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam.”
Tác phẩm Câu Cá Mùa Thu
“Bài thơ Câu cá mùa thu thể hiện sự cảm nhận về nghệ thuật gợi tả tinh tế của Nguyễn Khuyến về cảnh sắc mùa thu đồng bằng Bắc Bộ. Đồng thời, cho thấy tình yêu thiên nhiên đất nước, tâm trạng thời thế và tài thơ Nôm của tác giả này.”
Xuân Diệu có viết: “Bài thơ Thu Vịnh là có thần hơn hết, nhưng ta vẫn phải nhận bài Thu Điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam.”
“Cảnh sắc mùa thu đẹp, nhưng tĩnh lặng vắng bóng người, vắng cả âm thanh dù đó là sự chuyển động nhưng đó là sự chuyển động rất khẽ khàng và cả tiếng cá đớp mồi cũng không làm không gian xao động.”
LIÊN HỆ: CÂU CÁ MÙA THU
“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao 3. “ Em không nghe mùa thu
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu Dưới trăng mờ thổn thức
Nước biếc trông như tầng khói phủ Em không nghe rạo rực
Song thưa để mặc ánh trăng vào. Hình ảnh kẻ chinh phu
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái, Trong lòng người cô phụ?
Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Em không nghe rừng thu
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Lá thu kêu xào xạc
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.” Con nai vàng ngơ ngác
(Thu Vịnh – Nguyễn Khuyến) Đạp trên lá vàng khô”
2. “Năm gian nhà cỏ thấp le te ( Tiếng thu-Lưu Trọng Lư)
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe 4. “ Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt Tóc buồn rơi xuống lệ hàng ngàn
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe Đây mùa thu tới-mùa thu tới
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt? Vạt áo mơ phai dệt lá vàng”
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe (Đây mùa thu tới-Xuân Diệu)
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy.
Độ năm ba chén đã say nhè.”
(Thu Ẩm – Nguyễn Khuyến)
NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ
THƯƠNG VỢ - TRẦN TẾ XƯƠNG
Tác giả Trần Tế Xương
“Thương vợ là sự ngợi ca đức hi sinh của người phụ nữ và sự thấu hiểu của người chồng.”
“Với tình cảm thương yêu, quý trọng, tác giả đã ghi lại một cách xúc động, chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, giàu đức hi sinh. Thương vợ là bài thơ tiêu biểu cho thơ trữ tình của Trần Tế Xương: xúc cảm, chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc.”
“Bài thơ Thương Vợ cho ta thấy cái tài, cái tình của nhà thơ Trần Tế Xương.”
Tác phẩm Thương Vợ
“Con người nhà thơ Tú Xương cũng hiện lên rất rõ, từ dáng vẻ đến tâm hồn, từ cá tính đến tâm sự, cả nỗi đau đến vẻ đẹp, vừa rất riêng, vừa tiêu biểu cho cả một lớp người, một loại tâm trạng...”
Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu nhận xét: “Tú Xương là nhà thơ trào phúng có biệt tài. Ông ghi lại những cảnh đời lố lăng bằng ngọn bút hiện thực sâu sắc, bằng những hình ảnh góc cạnh, ngôn ngữ sắc bén.”
“Nói đến tài làm thơ của Tú Xương, nhiều người đã đặc biệt chú ý đến sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố hiện thực, trào phúng và trữ tình, trong đó trữ tình là gốc. Với Tú Xương, vẫn chưa thấy chắc chắn có bài thơ chữ Hán nào, chỉ thấy thơ Nôm viết bằng các thể loại cổ điển: thơ Đường Luật – thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, phú, văn tế, câu đối, hát nói, lục bát. Ở thể loại nào Tú Xương cũng tỏ ra là một nghệ sĩ bậc thầy.”
LIÊN HỆ: THƯƠNG VỢ
“Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.”
(Ca dao Việt Nam)
2. “Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ
Đem chuyện trăm năm trở lại bàn.”
(Quan tại gia – Trần Tế Xương)
“Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.”
(Ca dao Việt Nam)
4. “Thân em như phận con rùa.”
(Ca dao Việt Nam)
5. “Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn mướn không công
Thân này ví biết dường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong.”
(Kiếp lấy chồng chung – Hồ Xuân Hương)
NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ
BÀI CA NGẤT NGƯỞNG-NGUYỄN CÔNG TRỨ
Tác giả Nguyễn Công Trứ
Đánh giá về Nguyễn Công Trứ, sách Đại Nam liệt truyện viết: “Công Trứ là người trác lạc, có tài khí...Trứ làm quan thường bị bãi cách rồi được cân nhắc lên ngay. Tỏ sức ở chiến trường, nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở rộng ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn. Khi tuổi già về nghỉ, tức thì bỏ qua việc đời, chơi thú sơn thủy, trải hơn 10 năm có cái hứng thú phớt thoảng ra ngoài sự vật.”
Lê Thước từng nhận định: “Cụ Nguyễn Công Trứ là bậc anh hùng hào kiệt, lập phẩm rất cao, giữ lòng rất chính...”
Tác phẩm Bài Ca Ngất Ngưởng
“Bài ca ngất ngưởng thể hiện tâm hồn tự do phóng khoáng cùng thái độ tự tin của Nguyễn Công Trứ giữa cuộc đời.”
“Cái nét ướng, cái ngất ngưởng, cái ngạo nghễ, kiêu bạc ở Nguyễn Công Trứ là thái độ sống của một người tự tin, tự khẳng định tài năng của mình, ý thức rõ ràng về bản ngã của mình giữa một thuở giao thời.”
“Nếu như ngâm khúc thể hiện một con người cô đơn, đau xót đi tìm những giá trị của mình đã bị mất mát thì thể thơ hát nói, một thể thông dụng trong ca trù lại thể hiện một con người tài tứ thoát vòng cương tỏa, thoát sáo, thoát tạc lụy, danh lợi, nắm lấy phút vui hiện tại.”
LIÊN HỆ: BÀI CA NGẤT NGƯỞNG
“Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.”
(Đi Thi Tự Vịnh – Nguyễn Công Trứ)
2. “Chí làm trai Nam, Bắc, Đông,Tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.”
(Chí làm trai – Nguyễn Công Trứ)
3. “Xuống ngựa, lên xe, nọ tượng nhàn
Lượm mùi giáng chức với thăng quan
Điền viên dạo chiếc xe bò cái
Sẵn tấm mo che miệng thế gian.”
(Thơ đề mo cau – Nguyễn Công Trứ)
4. “Chí tang bồng hẹn với giang san
Đường trung hiếu, chữ quân thân là gánh vác.”
(Nợ tang bồng – Nguyễn Công Trứ)
NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ
SA HÀNH ĐOẢN CA – CAO BÁ QUÁT
Tác giả Cao Bá Quát
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã nhận xét: “Cao Bá Quát đúng là một con người có cái nhìn ít hợp cỡ với khuôn lồng của chế độ phong kiến.”
Tác phẩm Sa Hành Đoản Ca
“Tác phẩm Sa hành đoản ca là tiếng thở than oán, oán trách của Cao Bá Quát về bi kịch của bản thân nhà thơ.”
LIÊN HỆ: SA HÀNH ĐOẢN CA
1. “Nhân tài đất Bắc nào ai đó
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.”
(Vịnh khoa thi hương – Trần Tế Xương)
2. “Kẻ chức bồi, người tước cu li
Thông ngôn, kí lục chi chi
Mãn đời lính tập, trọn vì quan sang.”
(Á tế á ca – Phan Bội Châu)
3. “Sĩ khí rụt rè gà phải cáo
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi.”
(Than đạo học – Trần Tế Xương)
NHẬN ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC -NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Tác giả Nguyễn Đình Chiểu
Nhận định của Xuân Diệu: “Cái ưu ái đối với người lao động, sự kính mến họ là một đặc điểm của tâm hồn Đồ Chiểu.”
“Nguyễn Đình Chiểu – ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc.”
Phạm Văn Đồng khẳng định: “Nguyễn Đình Chiểu là một chiến sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta. Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu sao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa và tư tưởng.”
Tác phẩm Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
Phạm Văn Đồng cho rằng: “Khúc ca của những người thất thế nhưng vẫn hiên ngang”
“Với bài văn tế này, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ. Ở đây là người nông dân nghĩa quân chống giặc cứu nước.”
“Có thể nói lần đầu tiên trong văn học dân tộc, người nông dân nghĩa sĩ chống giặc ngoại xâm đã được dựng một tượng đài nghệ thuật bất tử.”
LIÊN HỆ: VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
1. “Ngày mười tám trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn.”
(Đại cáo Bình Ngô – Nguyễn Trãi)
2. “Mười ban võng hệ nào đợi tập rèn
Chín chục trận binh thư không chờ bày bố.”
(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu)
3. “Ôi, chết thế không thể nào chết được
Không thể chết những người dân yêu nước
Những con người không chịu ô danh.”
(Thù muôn đời muôn kiếp không tan – Tố Hữu)
4. “Có biết bao người con gái con trai
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Nhưng họ đã làm nên Đất Nước.”
(Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm)
 







Các ý kiến mới nhất