Tìm kiếm Bài giảng
Tuần 12. Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thiên Phương
Ngày gửi: 07h:17' 29-01-2022
Dung lượng: 11.6 MB
Số lượt tải: 30
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thiên Phương
Ngày gửi: 07h:17' 29-01-2022
Dung lượng: 11.6 MB
Số lượt tải: 30
Số lượt thích:
0 người
Khái quát văn học
Việt Nam
X – XIX
Mục lục
Giai đoạn từ TK XVIII đến nửa đầu TK XIX
1. Hoàn cảnh
Phát triển trong hoàn cảnh đất nước có nhiều biến động bởi nội chiến phong kiến và phong trào nông dân khởi nghĩa, đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn. Chế độ phong kiến đi từ khủng hoảng đến suy thoái.
2. Tình hình
Văn học phát triển vượt bậc, đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Đây là giai đoạn rực rỡ nhất của văn học trung đại Việt Nam, được mệnh danh là giai đoạn văn học cổ điển.
3. Nội dung
Thể kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX, xuất hiện trào lưu nhân đạo chủ nghĩa.
Nổi bật với những tiếng nói đòi quyền sống, hạnh phúc và đấu tranh giải phóng con người, nhất là người phụ nữ.
Tác phẩm tiêu biểu: Chinh phụ ngâm – nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn, bản dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm
Chinh phụ ngâm hay Chinh phụ ngâm khúc, ra đời vào khoảng năm 1741 giai đoạn sơ kỳ Cảnh Hưng, về sau được nhiều người dịch ra thơ Nôm.
Viết theo lối lập cổ, dài 476 câu thơ, các câu trong bài ngắn dài khác nhau, dài nhất 12, 13 chữ, ngắn nhất chỉ 3,4 chữ.
Chinh phụ ngâm có hình thức là một lời độc thoại nội tâm mà vai chính, cũng là vai duy nhất đứng ra độc thoại trong truyện là một người vợ có chồng tham gia cuộc chiến do triều đình phong kiến chủ xướng, kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn buồn tủi phải xa chồng.
Cung oán ngâm khúc hay gọi tắt là Cung oán tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Gia Thiều, viết bằng chữ Nôm, gồm 356 câu thơ làm theo thể song thất lục bát.
Cung oán ngâm khúc là khúc ca ai oán của người cung nữ có tài sắc, lúc đầu được nhà vua sủng ái sau bị ruồng bỏ, là tiếng thét oán hờn của một trang nữ lưu tố cáo và phản kháng chế độ phong kiến đã đối xử phũ phàng tàn ác đối với phẩm giá và những tình cảm trong sáng, cao quý của người phụ nữ
Truyện Kiều là một truyện thơ của đại thi hào Nguyễn Du. Được xem là truyện thơ nổi tiếng nhất xét vào hàng kinh điển trong văn học Việt Nam. Tác phẩm được viết bằng chữ Nôm, thể lục bát, gồm 3254 câu.
Câu chuyện dựa theo tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một thi sĩ thời nhà Minh, Trung Quốc
Ra đời trong khoảng 1814 – 1820 sau khi Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc, có người cho rằng ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng cuối thời Lê, đầu thời Tây Sơn.
Tác phẩm kể lại cuộc đời đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp, tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh.
Ngoài ra còn có thơ Hồ Xuân Hương, thơ Bà Huyện Thanh Quan…Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… vẫn tiếp tục tinh thần nhân đạo truyền thống, đồng thời hướng nhiều vào thế giới tình cảm riêng tư và ý thức cá nhân của con người.
4.Nghệ thuật
Phát triển mạnh về cả văn xuôi và văn vần, văn học chữ Hán và chữ Nôm
Văn học chữ Nôm và những thể loại văn học dân tộc như thơ Nôm viết theo thể Đường luật, ngâm khúc viết theo thể song thất lục bát,… được khẳng định đạt tới đỉnh cao.
Văn xuôi tự sự chữ Hán đạt được những thành tựu nghệ thuật lớn, tiểu thuyết chương hồi với Hoàng Lê nhất thống chí ( Ngô gia văn phái); thể kí với Thượng kinh kí sự ( Lê Hữu Trác)
Thượng kinh ký sự (上京記事, Ký sự lên kinh đô) là tập ký sự bằng chữ Hán của nhà y học và nhà văn Lê Hữu Trác (biệt hiệu: Hải Thượng Lãn Ông, có nghĩa: Ông già lười Hải Thượng). Theo nhà văn Đoàn Minh Tuấn, thì đây là một thiên phóng sự duy nhất của văn học Việt xưa viết về người thật, việc thật với cách hành văn giản dị, tinh tế và sinh động.
Hoàng Lê nhất thống chí hay An Nam nhất thống chí hay Lê quý ngoại sử, tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Hán, nằm trong Ngô gia văn phái tùng thư của các tác giải thuộc dông họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, Hà Nội.
Ngày phát hành 1804
Phản ánh cuộc tranh chấp quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến thời Lê mạt và phong trào Tây Sơn
Vũ trung tùy bút (chữ Hán: 雨中隨筆, nghĩa là Tùy bút trong mưa) của danh sĩ Phạm Đình Hổ (1768-1839) là một tập truyện bằng chữ Hán, theo thể loại ký nổi tiếng tại Việt Nam.
Vũ trung tùy bút, hiểu theo nghĩa tùy theo ngọn bút viết trong khi mưa, được viết khoảng thời Lê mạt Nguyễn sơ, ghi lại nhiều sự việc xảy ra vào cuối đời Lê và đời Tây Sơn.
Nhận xét
Phản ánh sâu sắc cuộc sống xã hội đương thời của người Việt Nam.
Thể hiện tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của con người Việt Nam
Đến cuối thế kỉ XVIII, nền văn học dân gian ở nước ta càng phát triển rực rỡ dưới nhiều hình thức phong phú, từ tục ngữ, ca dao đến truyện thơ dài, kí….
Việt Nam
X – XIX
Mục lục
Giai đoạn từ TK XVIII đến nửa đầu TK XIX
1. Hoàn cảnh
Phát triển trong hoàn cảnh đất nước có nhiều biến động bởi nội chiến phong kiến và phong trào nông dân khởi nghĩa, đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn. Chế độ phong kiến đi từ khủng hoảng đến suy thoái.
2. Tình hình
Văn học phát triển vượt bậc, đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Đây là giai đoạn rực rỡ nhất của văn học trung đại Việt Nam, được mệnh danh là giai đoạn văn học cổ điển.
3. Nội dung
Thể kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX, xuất hiện trào lưu nhân đạo chủ nghĩa.
Nổi bật với những tiếng nói đòi quyền sống, hạnh phúc và đấu tranh giải phóng con người, nhất là người phụ nữ.
Tác phẩm tiêu biểu: Chinh phụ ngâm – nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn, bản dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm
Chinh phụ ngâm hay Chinh phụ ngâm khúc, ra đời vào khoảng năm 1741 giai đoạn sơ kỳ Cảnh Hưng, về sau được nhiều người dịch ra thơ Nôm.
Viết theo lối lập cổ, dài 476 câu thơ, các câu trong bài ngắn dài khác nhau, dài nhất 12, 13 chữ, ngắn nhất chỉ 3,4 chữ.
Chinh phụ ngâm có hình thức là một lời độc thoại nội tâm mà vai chính, cũng là vai duy nhất đứng ra độc thoại trong truyện là một người vợ có chồng tham gia cuộc chiến do triều đình phong kiến chủ xướng, kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn buồn tủi phải xa chồng.
Cung oán ngâm khúc hay gọi tắt là Cung oán tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Gia Thiều, viết bằng chữ Nôm, gồm 356 câu thơ làm theo thể song thất lục bát.
Cung oán ngâm khúc là khúc ca ai oán của người cung nữ có tài sắc, lúc đầu được nhà vua sủng ái sau bị ruồng bỏ, là tiếng thét oán hờn của một trang nữ lưu tố cáo và phản kháng chế độ phong kiến đã đối xử phũ phàng tàn ác đối với phẩm giá và những tình cảm trong sáng, cao quý của người phụ nữ
Truyện Kiều là một truyện thơ của đại thi hào Nguyễn Du. Được xem là truyện thơ nổi tiếng nhất xét vào hàng kinh điển trong văn học Việt Nam. Tác phẩm được viết bằng chữ Nôm, thể lục bát, gồm 3254 câu.
Câu chuyện dựa theo tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một thi sĩ thời nhà Minh, Trung Quốc
Ra đời trong khoảng 1814 – 1820 sau khi Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc, có người cho rằng ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng cuối thời Lê, đầu thời Tây Sơn.
Tác phẩm kể lại cuộc đời đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp, tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh.
Ngoài ra còn có thơ Hồ Xuân Hương, thơ Bà Huyện Thanh Quan…Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… vẫn tiếp tục tinh thần nhân đạo truyền thống, đồng thời hướng nhiều vào thế giới tình cảm riêng tư và ý thức cá nhân của con người.
4.Nghệ thuật
Phát triển mạnh về cả văn xuôi và văn vần, văn học chữ Hán và chữ Nôm
Văn học chữ Nôm và những thể loại văn học dân tộc như thơ Nôm viết theo thể Đường luật, ngâm khúc viết theo thể song thất lục bát,… được khẳng định đạt tới đỉnh cao.
Văn xuôi tự sự chữ Hán đạt được những thành tựu nghệ thuật lớn, tiểu thuyết chương hồi với Hoàng Lê nhất thống chí ( Ngô gia văn phái); thể kí với Thượng kinh kí sự ( Lê Hữu Trác)
Thượng kinh ký sự (上京記事, Ký sự lên kinh đô) là tập ký sự bằng chữ Hán của nhà y học và nhà văn Lê Hữu Trác (biệt hiệu: Hải Thượng Lãn Ông, có nghĩa: Ông già lười Hải Thượng). Theo nhà văn Đoàn Minh Tuấn, thì đây là một thiên phóng sự duy nhất của văn học Việt xưa viết về người thật, việc thật với cách hành văn giản dị, tinh tế và sinh động.
Hoàng Lê nhất thống chí hay An Nam nhất thống chí hay Lê quý ngoại sử, tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Hán, nằm trong Ngô gia văn phái tùng thư của các tác giải thuộc dông họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, Hà Nội.
Ngày phát hành 1804
Phản ánh cuộc tranh chấp quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến thời Lê mạt và phong trào Tây Sơn
Vũ trung tùy bút (chữ Hán: 雨中隨筆, nghĩa là Tùy bút trong mưa) của danh sĩ Phạm Đình Hổ (1768-1839) là một tập truyện bằng chữ Hán, theo thể loại ký nổi tiếng tại Việt Nam.
Vũ trung tùy bút, hiểu theo nghĩa tùy theo ngọn bút viết trong khi mưa, được viết khoảng thời Lê mạt Nguyễn sơ, ghi lại nhiều sự việc xảy ra vào cuối đời Lê và đời Tây Sơn.
Nhận xét
Phản ánh sâu sắc cuộc sống xã hội đương thời của người Việt Nam.
Thể hiện tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của con người Việt Nam
Đến cuối thế kỉ XVIII, nền văn học dân gian ở nước ta càng phát triển rực rỡ dưới nhiều hình thức phong phú, từ tục ngữ, ca dao đến truyện thơ dài, kí….
 








Các ý kiến mới nhất