Tìm kiếm Bài giảng
Bài 22. Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: MAI VĂN NĂM
Ngày gửi: 09h:06' 04-03-2022
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 53
Nguồn:
Người gửi: MAI VĂN NĂM
Ngày gửi: 09h:06' 04-03-2022
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 53
Số lượt thích:
0 người
CHIẾU DỜI ĐÔ - THIÊN ĐÔ CHIẾU
(Lí Công Uẩn)
Đã bao lần bạn ngồi đọc sách về lịch sử Việt Nam chưa ? Đã bao giờ bạn nghĩ các vị vua thời xưa chưa ? Từ xưa đến nay, trải qua bao năm lịch sử, qua bao đời vua chúa, có anh minh, có bạo tàn, ta không thể không nhắc tới nhà quân sự tài ba, người lãnh đạo anh minh: vua Lí Thái Tổ (Lí Công Uẩn).
“Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn được viết cách đây hơn một ngàn năm, nhưng tại sao đến nay vẫn được lưu truyền và có sức thuyết phục mạnh mẽ người Việt Nam (cả xưa và nay) ?
I.
- Các em đọc Chú thích * và khái quát những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm (hoàn cảnh ra đời), thể chiếu.
+ Lí Công Uẩn thông minh, nhân ái, có chí lớn, lập nhiều chiến công.
+ Hoàn cảnh ra đời:
+ Thể “Chiếu”:
“Chiếu dời đô” viết bằng chữ Hán. (Văn biền ngẫu: từng cặp câu, đoạn câu cân xứng, nhịp nhàng với nhau. Ví dụ: “Đã đúng ngôi [...] mà thoáng”.
* anh minh: sáng suốt, tài giỏi.
I. TÌM HIỂU CHUNG
- Lí Công Uẩn (974 - 1028) tức Lí Thái Tổ, quê Bắc Ninh; vị vua anh minh, khai sáng triều Lí.
- Hoàn cảnh ra đời: Năm 1010, Lí Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội ngày nay).
- Thể “Chiếu”: Thể văn nghị luận trung đại, do vua dùng để ban bố mệnh lệnh.
Tượng Lí Công Uẩn ở Hà Nội
Nhà vua ban chiếu
Cố đô Hoa Lư
Toàn cảnh cố đô Hoa Lư (Ninh Bình)
Thành Đại La (Thăng Long)
Hà Nội ngày nay
II.
- Đọc: giọng trang trọng nhưng có những câu cần nhấn mạnh sắc thái tình cảm tha thiết, chân thành.
- Bố cục: Đoạn đầu: từ đầu đến “phong tục phồn thịnh”; đoạn hai: tiếp theo đến “không thể không dời đổi”; đoạn ba: còn lại.
II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm thấy đau xót về việc đó, không thể không dời đổi.
Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào ?
1.
a. Đây là đoạn có tính chất nêu tiền đề, làm chỗ dựa cho lí lẽ ở phần tiếp theo.
- Trong đoạn này, tác giả viện dẫn sử sách nói về việc dời đô của các vua Trung Quốc thời xưa ra sao ?
+ Nhà Thương...
+ Nhà Chu...
- Theo suy luận của tác giả thì việc dời đô của các vua nhà Thương, Chu nhằm mục đích gì ?
- Kết quả của việc đời đô đó ra sao ?
* viện dẫn: dẫn ra để minh họa hoặc làm chỗ dựa cho lập luận.
1. Nội dung
a. Đoạn mở đầu:
- Tác giả viện dẫn sử sách của các vua Trung Quốc thời xưa dời đô.
+ Nhà Thương năm lần đời đô.
+ Nhà Chu ba lần dời đô.
- Mục đích đời đô:
+Đóng đô ở nơi trung tâm.
+Mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho các thế hệ sau.
+ Thuận theo mệnh trời, ý dân.
- Kết quả:
Đất nước vững bền, phát triển thịnh vượng.
- Ý tác giả nói việc dời đô thuận theo mệnh trời, thuận theo ý dân, nghĩa là thế nào ?
+ Phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp nguyện vọng của nhân dân.
-> Bài học về việc định đô có mối liên hệ đặc biệt với sự hưng thịnh của đất nước.
- Theo Lí Công Uẩn, kinh đô cũ ở vùng núi Hoa Lư (Ninh Bình) của triều Đinh, Lê là không còn thích hợp, vì sao ?
+ Triều đại ngắn ngủi, đất nước không phát triển, người dân khốn khổ trong một vùng đất chật chội.
- Theo em, thực ra lí do gì khiến hai triều Đinh, Lê vẫn phải dựa vào rừng núi Hoa Lư để đóng đô ?
A. Nhà Đinh, Lê khinh thường mệnh trời.
B. Thế và lực chưa đủ mạnh.
b. Đoạn tiếp theo:
Căn cứ vào tình hình thực tế, tác giả chỉ ra vị thế của kinh đô cũ ở vùng núi Hoa Lư (Ninh Bình) của Đinh, Lê là không còn thích hợp.
-> Nhất thiết phải dời đô.
B
- Theo tác giả, địa thế thành Đại La có những thuận lợi nào ?
+ Vị thế địa lí: “Rồng cuộn hổ ngồi”.
+ Chính trị, văn hóa: “Chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.
c. Đoạn cuối:
Tác giả chỉ ra vị thế của thành Đại La có những lợi thế về địa lí, phong thủy, chính trị, văn hóa, sự sống muôn loài... : “Rồng cuộn hổ ngồi”, “chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.
-> Khẳng định thành Đại La là nơi tốt nhất để chọn làm kinh đô.
-Thế rồng cuộn hổ ngồi: thế đất giồng hình rồng cuộn, hổ ngồi, được coi là thế đất đẹp, sẽ phát triển thịnh vượng.
-Thắng địa: chỗ đất có phong cảnh và địa thế đẹp.
-Phong thủy: thuật xem đất để chọn nơi dựng nhà cửa.
- Hãy nhận xét về bố cục, trình tự lập luận của tác giả.
2. Hình thức nghệ thuật:
“CHIẾU DỜI ĐÔ”
Nêu sử sách làm tiền đề, làm chỗ dựa cho lí lẽ.
Soi sáng tiền đề vào thực tế hai triều Đinh, Lê để chỉ rõ thực tế ấy không còn thích hợp đối với sự phát triển của đất nước, nhất thiết phải dời đô.
Khẳng định thành Đại La là nơi tốt nhất để chọn làm kinh đô.
Đoạn đầu
Đoạn cuối
Đoạn tiếp theo
-> Bố cục (kết cấu) ba phần chặt chẽ.
- Chiếu là mệnh lệnh của vua ban xuống thần dân (mang tính chất đơn thoại - một chiều, mệnh lệnh). Thế nhưng kết thúc “Chiếu dời đô”, Lí Công Uẩn không ra mệnh lệnh mà lại đặt câu hỏi “Các khanh nghĩ thế nào ?”. Cách kết thúc như vậy có tác dụng gì ?
+ Kết thúc mang tính chất đối thoại, tâm tình, trao đổi, tạo ra sự đồng cảm giữa mệnh lệnh của vua với thần dân. Việc dời đô đâu chỉ là ý nguyện của riêng ai. Ông muốn những dự định mà ông đưa ra sẽ được nhân dân ủng hộ. Từ đó, người dân (người nghe) suy nghĩ và hành động một cách tự nguyện.
- Còn ở đoạn 2, tác giả viết “Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi.”. Em nhận xét gì về lời lẽ đó ?
+ Tác giả bày tỏ nỗi lòng.
- Bài chiếu có sức thuyết phục mạnh mẽ, vì những yếu tố nào.
A. Bố cục (kết cấu) ba phần chặt chẽ.
B. Giọng văn trang trọng, thể hiện suy nghĩ, tình cảm sâu sắc của tác giả về vấn đề hết sức quan trọng của đất nước.
C. Lựa chọn ngôn ngữ có tính chất tâm tình, đối thoại.
D. Lí lẽ sắc bén, tình cảm chân thành, đúng được ý nguyện của nhân dân.
E. A, B, C và D.
- Bố cục (kết cấu) ba phần chặt chẽ.
- Giọng văn trang trọng, thể hiện suy nghĩ, tình cảm sâu sắc của tác giả về vấn đề hết sức quan trọng của đất nước.
- Lựa chọn ngôn ngữ có tính chất tâm tình, đối thoại.
- Lí lẽ sắc bén, tình cảm chân thành, đúng được ý nguyện của nhân dân.
E
- Nêu ý nghĩa của văn bản.
3. Ý nghĩa văn bản:
“Chiếu dời đô” là một sự kiện trọng đại của đất nước; phản ánh khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất, ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh.
(Lí Công Uẩn)
Đã bao lần bạn ngồi đọc sách về lịch sử Việt Nam chưa ? Đã bao giờ bạn nghĩ các vị vua thời xưa chưa ? Từ xưa đến nay, trải qua bao năm lịch sử, qua bao đời vua chúa, có anh minh, có bạo tàn, ta không thể không nhắc tới nhà quân sự tài ba, người lãnh đạo anh minh: vua Lí Thái Tổ (Lí Công Uẩn).
“Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn được viết cách đây hơn một ngàn năm, nhưng tại sao đến nay vẫn được lưu truyền và có sức thuyết phục mạnh mẽ người Việt Nam (cả xưa và nay) ?
I.
- Các em đọc Chú thích * và khái quát những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm (hoàn cảnh ra đời), thể chiếu.
+ Lí Công Uẩn thông minh, nhân ái, có chí lớn, lập nhiều chiến công.
+ Hoàn cảnh ra đời:
+ Thể “Chiếu”:
“Chiếu dời đô” viết bằng chữ Hán. (Văn biền ngẫu: từng cặp câu, đoạn câu cân xứng, nhịp nhàng với nhau. Ví dụ: “Đã đúng ngôi [...] mà thoáng”.
* anh minh: sáng suốt, tài giỏi.
I. TÌM HIỂU CHUNG
- Lí Công Uẩn (974 - 1028) tức Lí Thái Tổ, quê Bắc Ninh; vị vua anh minh, khai sáng triều Lí.
- Hoàn cảnh ra đời: Năm 1010, Lí Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội ngày nay).
- Thể “Chiếu”: Thể văn nghị luận trung đại, do vua dùng để ban bố mệnh lệnh.
Tượng Lí Công Uẩn ở Hà Nội
Nhà vua ban chiếu
Cố đô Hoa Lư
Toàn cảnh cố đô Hoa Lư (Ninh Bình)
Thành Đại La (Thăng Long)
Hà Nội ngày nay
II.
- Đọc: giọng trang trọng nhưng có những câu cần nhấn mạnh sắc thái tình cảm tha thiết, chân thành.
- Bố cục: Đoạn đầu: từ đầu đến “phong tục phồn thịnh”; đoạn hai: tiếp theo đến “không thể không dời đổi”; đoạn ba: còn lại.
II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm thấy đau xót về việc đó, không thể không dời đổi.
Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào ?
1.
a. Đây là đoạn có tính chất nêu tiền đề, làm chỗ dựa cho lí lẽ ở phần tiếp theo.
- Trong đoạn này, tác giả viện dẫn sử sách nói về việc dời đô của các vua Trung Quốc thời xưa ra sao ?
+ Nhà Thương...
+ Nhà Chu...
- Theo suy luận của tác giả thì việc dời đô của các vua nhà Thương, Chu nhằm mục đích gì ?
- Kết quả của việc đời đô đó ra sao ?
* viện dẫn: dẫn ra để minh họa hoặc làm chỗ dựa cho lập luận.
1. Nội dung
a. Đoạn mở đầu:
- Tác giả viện dẫn sử sách của các vua Trung Quốc thời xưa dời đô.
+ Nhà Thương năm lần đời đô.
+ Nhà Chu ba lần dời đô.
- Mục đích đời đô:
+Đóng đô ở nơi trung tâm.
+Mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho các thế hệ sau.
+ Thuận theo mệnh trời, ý dân.
- Kết quả:
Đất nước vững bền, phát triển thịnh vượng.
- Ý tác giả nói việc dời đô thuận theo mệnh trời, thuận theo ý dân, nghĩa là thế nào ?
+ Phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp nguyện vọng của nhân dân.
-> Bài học về việc định đô có mối liên hệ đặc biệt với sự hưng thịnh của đất nước.
- Theo Lí Công Uẩn, kinh đô cũ ở vùng núi Hoa Lư (Ninh Bình) của triều Đinh, Lê là không còn thích hợp, vì sao ?
+ Triều đại ngắn ngủi, đất nước không phát triển, người dân khốn khổ trong một vùng đất chật chội.
- Theo em, thực ra lí do gì khiến hai triều Đinh, Lê vẫn phải dựa vào rừng núi Hoa Lư để đóng đô ?
A. Nhà Đinh, Lê khinh thường mệnh trời.
B. Thế và lực chưa đủ mạnh.
b. Đoạn tiếp theo:
Căn cứ vào tình hình thực tế, tác giả chỉ ra vị thế của kinh đô cũ ở vùng núi Hoa Lư (Ninh Bình) của Đinh, Lê là không còn thích hợp.
-> Nhất thiết phải dời đô.
B
- Theo tác giả, địa thế thành Đại La có những thuận lợi nào ?
+ Vị thế địa lí: “Rồng cuộn hổ ngồi”.
+ Chính trị, văn hóa: “Chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.
c. Đoạn cuối:
Tác giả chỉ ra vị thế của thành Đại La có những lợi thế về địa lí, phong thủy, chính trị, văn hóa, sự sống muôn loài... : “Rồng cuộn hổ ngồi”, “chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.
-> Khẳng định thành Đại La là nơi tốt nhất để chọn làm kinh đô.
-Thế rồng cuộn hổ ngồi: thế đất giồng hình rồng cuộn, hổ ngồi, được coi là thế đất đẹp, sẽ phát triển thịnh vượng.
-Thắng địa: chỗ đất có phong cảnh và địa thế đẹp.
-Phong thủy: thuật xem đất để chọn nơi dựng nhà cửa.
- Hãy nhận xét về bố cục, trình tự lập luận của tác giả.
2. Hình thức nghệ thuật:
“CHIẾU DỜI ĐÔ”
Nêu sử sách làm tiền đề, làm chỗ dựa cho lí lẽ.
Soi sáng tiền đề vào thực tế hai triều Đinh, Lê để chỉ rõ thực tế ấy không còn thích hợp đối với sự phát triển của đất nước, nhất thiết phải dời đô.
Khẳng định thành Đại La là nơi tốt nhất để chọn làm kinh đô.
Đoạn đầu
Đoạn cuối
Đoạn tiếp theo
-> Bố cục (kết cấu) ba phần chặt chẽ.
- Chiếu là mệnh lệnh của vua ban xuống thần dân (mang tính chất đơn thoại - một chiều, mệnh lệnh). Thế nhưng kết thúc “Chiếu dời đô”, Lí Công Uẩn không ra mệnh lệnh mà lại đặt câu hỏi “Các khanh nghĩ thế nào ?”. Cách kết thúc như vậy có tác dụng gì ?
+ Kết thúc mang tính chất đối thoại, tâm tình, trao đổi, tạo ra sự đồng cảm giữa mệnh lệnh của vua với thần dân. Việc dời đô đâu chỉ là ý nguyện của riêng ai. Ông muốn những dự định mà ông đưa ra sẽ được nhân dân ủng hộ. Từ đó, người dân (người nghe) suy nghĩ và hành động một cách tự nguyện.
- Còn ở đoạn 2, tác giả viết “Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi.”. Em nhận xét gì về lời lẽ đó ?
+ Tác giả bày tỏ nỗi lòng.
- Bài chiếu có sức thuyết phục mạnh mẽ, vì những yếu tố nào.
A. Bố cục (kết cấu) ba phần chặt chẽ.
B. Giọng văn trang trọng, thể hiện suy nghĩ, tình cảm sâu sắc của tác giả về vấn đề hết sức quan trọng của đất nước.
C. Lựa chọn ngôn ngữ có tính chất tâm tình, đối thoại.
D. Lí lẽ sắc bén, tình cảm chân thành, đúng được ý nguyện của nhân dân.
E. A, B, C và D.
- Bố cục (kết cấu) ba phần chặt chẽ.
- Giọng văn trang trọng, thể hiện suy nghĩ, tình cảm sâu sắc của tác giả về vấn đề hết sức quan trọng của đất nước.
- Lựa chọn ngôn ngữ có tính chất tâm tình, đối thoại.
- Lí lẽ sắc bén, tình cảm chân thành, đúng được ý nguyện của nhân dân.
E
- Nêu ý nghĩa của văn bản.
3. Ý nghĩa văn bản:
“Chiếu dời đô” là một sự kiện trọng đại của đất nước; phản ánh khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất, ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh.
 









Các ý kiến mới nhất