Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 22. Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Ngà
Ngày gửi: 23h:59' 11-03-2022
Dung lượng: 22.9 MB
Số lượt tải: 154
Số lượt thích: 0 người
* HỌC SINH
1. Đăng nhập đúng họ tên theo danh sách lớp học.
2.Chuẩn bị bài trước khi học, làm bài tập sau khi học.
3.Vào phòng học đúng giờ quy định.
4.Tắt míc khi không cần thiết, có tai nghe.
5.Không viết vẽ tự do lên phòng học.
6.Trong giờ học không chat nội dung không liên quan đến bài học.
7.Ghi chép bài đầy đủ; tích cực tương tác với giáo viên khi học; giơ tay, bật mic khi muốn phát biểu.
* PHỤ HUYNH
1. Nhắc nhở con chuẩn bị bài trước khi vào học.
2.Tạo không gian phòng học yên tĩnh, có tai nghe cho con.
3.Giám sát, nhắc nhở kịp thời ý thức của con khi học.
NỘI QUY PHÒNG
HỌC ZOOM
T
H
Ă
N
G
L
O
N
G
I

N
À
H
L
Ý
C
Ô
N
G
U

N
Đ

I
V
I

T
H
O
A
L
Ư
N
H
H

G
L
U

N
C
H
I

U
D

I
Đ
Ô
Đ

I
L
A
K
I
N
H
Đ
Ô
TÁC GIẢ
TÁC PHẨM
NỘI DUNG
NGHỆ THUẬT
Ý NGHĨA VĂN BẢN
CHIẾU DỜI ĐÔ
TÁC GIẢ
-Lí Công Uẩn (974 – 1028) tức Lí Thái Tổ, quê Đình Bảng – Từ Sơn – Bắc Ninh.
-Là người thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công.
Khi Lê Ngọa Triều mất, ông được triều thần tôn lên làm vua, lấy hiệu là Thuận Thiên.
Là người sáng lập ra vương triều nhà Lí.
TÁC PHẨM
NỘI DUNG
NGHỆ THUẬT
Ý NGHĨA VĂN BẢN
CHIẾU DỜI ĐÔ
Tượng Lí Công Uẩn ( Hà Nội)
Đại lộ Thăng Long
Con đường gốm sứ Hà nội
Hoàng thành Thăng Long
Chuông Quy Điền
Văn Miếu
Quốc Tử Giám
Tháp Bảo Thiên
Bia Văn Miếu
Chùa Một Cột
SẢN PHẨM VÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNGVÀO THỜI NHÀ LÍ
1
2
3
4
5
6
CHùA MộT CộT
VĂN MIếU XƯA
VĂN MIếU NGàY NAY
TÁC GIẢ
-Lí Công Uẩn (974 – 1028) tức Lí Thái Tổ, quê Đình Bảng – Từ Sơn – Bắc Ninh.
-Là người thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công.
Khi Lê Ngọa Triều mất, ông được triều thần tôn lên làm vua, lấy hiệu là Thuận Thiên.
Là người sáng lập ra vương triều nhà Lí.
TÁC PHẨM
-Hoàn cảnh ra đời: Ra đời năm 1010 khi vua Lí Thái Tổ có ý định rời đô từ Hoa Lư về Ninh Bình.
NỘI DUNG
NGHỆ THUẬT
Ý NGHĨA VĂN BẢN
CHIẾU DỜI ĐÔ
Ra đời vào nam 1010 nhằm bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Luư
(Ninh Bỡnh) ra Dại La (Thang Long - Hà Nội ngày nay)
TÁC GIẢ
-Lí Công Uẩn (974 – 1028) tức Lí Thái Tổ, quê Đình Bảng – Từ Sơn – Bắc Ninh.
-Là người thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công.
- Khi Lê Ngọa Triều mất, ông được triều thần tôn lên làm vua, lấy hiệu là Thuận Thiên.
- Là người sáng lập ra vương triều nhà Lí.
TÁC PHẨM
-Hoàn cảnh ra đời: Ra đời năm 1010 khi vua Lí Thái Tổ có ý định rời đô từ Hoa Lư Ninh Bình ra Đại La
NỘI DUNG
NGHỆ THUẬT

Thể loại: Chiếu
+ Hình thức: Viết bằng văn xuôi hoặc văn biền ngẫu.
+ Mục đích: Là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh.
+ Nội dung: Thường thể hiện một tư tưởng lớn lao, có ảnh hưởng đến triều đại, vận mệnh đất nước.
Ý NGHĨA VĂN BẢN
CHIẾU DỜI ĐÔ
TÁC GIẢ
-Lí Công Uẩn (974 – 1028) tức Lí Thái Tổ, quê Đình Bảng – Từ Sơn – Bắc Ninh.
-Là người thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công.
Khi Lê Ngọa Triều mất, ông được triều thần tôn lên làm vua, lấy hiệu là Thuận Thiên.
Là người sáng lập ra vương triều nhà Lí.
TÁC PHẨM
-Hoàn cảnh ra đời: Ra đời năm 1010 khi vua Lí Thái Tổ có ý định rời đô từ Hoa Lư về Ninh Bình.
NỘI DUNG
NGHỆ THUẬT

Thể loại: Chiếu
+ Hình thức: Viết bằng văn xuôi hoặc văn biền ngẫu.
+ Mục đích: Là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh.
+ Nội dung: Thường thể hiện một tư tưởng lớn lao, có ảnh hưởng đến triều đại, vận mệnh đất nước.
- Bố cục:
+ N êu lý do dời đô.
+ Nêu lý do chọn thành Đại La.
+ Khẳng định quyết tâm dời đô.
Ý NGHĨA VĂN BẢN
CHIẾU DỜI ĐÔ
TÁC GIẢ
-Lí Công Uẩn (974 – 1028) tức Lí Thái Tổ, quê Đình Bảng – Từ Sơn – Bắc Ninh.
-Là người thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công.
Khi Lê Ngọa Triều mất, ông được triều thần tôn lên làm vua, lấy hiệu là Thuận Thiên.
Là người sáng lập ra vương triều nhà Lí.
TÁC PHẨM
-Hoàn cảnh ra đời: Ra đời năm 1010 khi vua Lí Thái Tổ có ý định rời đô từ Hoa Lư về Ninh Bình.
NỘI DUNG
NGHỆ THUẬT

Thể loại: Chiếu
+ Hình thức: Viết bằng văn xuôi hoặc văn biền ngẫu.
+ Mục đích: Là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh.
+ Nội dung: Thường thể hiện một tư tưởng lớn lao, có ảnh hưởng đến triều đại, vận mệnh đất nước.
-Thuyết phục người nghe bằng lí lẽ chặt chẽ.
-Sử dụng những câu văn biền ngẫu giàu hình ảnh và sự kết hợp hài hoà giữa lí và tình.
- Bố cục:
+ N êu lý do dời đô.
+ Nêu lý do chọn thành Đại La.
+ Khẳng định quyết tâm dời đô.
Ý NGHĨA VĂN BẢN
CHIẾU DỜI ĐÔ
TÁC GIẢ
-Lí Công Uẩn (974 – 1028) tức Lí Thái Tổ, quê Đình Bảng – Từ Sơn – Bắc Ninh.
-Là người thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công.
Khi Lê Ngọa Triều mất, ông được triều thần tôn lên làm vua, lấy hiệu là Thuận Thiên.
Là người sáng lập ra vương triều nhà Lí.
TÁC PHẨM
-Hoàn cảnh ra đời: Ra đời năm 1010 khi vua Lí Thái Tổ có ý định rời đô từ Hoa Lư về Ninh Bình.
NỘI DUNG
- Khát vọng một đất nước thống nhất, độc lập, hùng cường, khẳng định ý chí tự cường và sự lớn mạnh của dân tộc Đại Việt.
NGHỆ THUẬT

Thể loại: Chiếu
+ Hình thức: Viết bằng văn xuôi hoặc văn biền ngẫu.
+ Mục đích: Là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh.
+ Nội dung: Thường thể hiện một tư tưởng lớn lao, có ảnh hưởng đến triều đại, vận mệnh đất nước.
-Thuyết phục người nghe bằng lí lẽ chặt chẽ.
-Sử dụng những câu văn biền ngẫu giàu hình ảnh và sự kết hợp hài hoà giữa lí và tình.
- Bố cục:
+ N êu lý do dời đô.
+ Nêu lý do chọn thành Đại La.
+ Khẳng định quyết tâm dời đô.
Ý NGHĨA VĂN BẢN
CHIẾU DỜI ĐÔ
TÁC GIẢ
-Lí Công Uẩn (974 – 1028) tức Lí Thái Tổ, quê Đình Bảng – Từ Sơn – Bắc Ninh.
-Là người thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công.
Khi Lê Ngọa Triều mất, ông được triều thần tôn lên làm vua, lấy hiệu là Thuận Thiên.
Là người sáng lập ra vương triều nhà Lí.
TÁC PHẨM
-Hoàn cảnh ra đời: Ra đời năm 1010 khi vua Lí Thái Tổ có ý định dời đô từ Hoa Lư Ninh Bình về Đại La (Hà Nội).
NỘI DUNG
- Thể hiện khát vọng về một đất nước thống nhất, độc lập, hùng cường, khẳng định ý chí tự cường và sự lớn mạnh của dân tộc Đại Việt.
NGHỆ THUẬT

Thể loại: Chiếu
+ Hình thức: Viết bằng văn xuôi hoặc văn biền ngẫu.
+ Mục đích: Là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh.
+ Nội dung: Thường thể hiện một tư tưởng lớn lao, có ảnh hưởng đến triều đại, vận mệnh đất nước.
-Thuyết phục người nghe bằng dẫn chứng, lí lẽ chặt chẽ.
-Sử dụng những câu văn biền ngẫu giàu hình ảnh và sự kết hợp hài hoà giữa lí và tình.
- Bố cục:
+ N êu lý do dời đô.
+ Nêu lý do chọn thành Đại La.
+ Khẳng định quyết tâm dời đô.
Ý NGHĨA VĂN BẢN
Ca ngợi vị vua anh minh, sáng suốt, với tư tưởng dân chủ tiến bộ, luôn coi dân là gốc.
-Thể hiện lòng tự hào dân tộc, lòng yêu nước nồng nàn của ông.
CHIẾU DỜI ĐÔ
CHIẾU DỜI ĐÔ
Dời đô là điều đó từng xảy ra trong lịch sử
Hạn chế của việc đóng đô ở Hoa Lưu
Dại La có nhiều lợi thế
Dại La đó từng là kinh đô
Mong đưuợc sự đồng thuận của mọi ngưuời
Lí do dời đô
Khẳng định quyết tâm dời đô
Chọn Dại La làm nơi định đô
Nhất thiết phải dời đô
Dại La là nơi tốt nhất để định đô
Lập luận của bài "Chi?u d?i dụ"
I
II
III
(1)
(2)
(3)
(1)
(2)
(3)
Bài 1. Trong văn bản “Chiếu dời đô” Lí Công Uẩn có viết:
“Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất;được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. (2) Các khanh nghĩ thế nào?”
Câu 1: Nội dung chủ yếu của đoạn văn trên là gì?
Câu 2: Giải thích thế nào là “thắng địa”?
Câu 3. Vì sao nói “Chiếu dời đô” ra đời phản ánh ý chí độc lập tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt ?
Câu 4: Viết đoạn văn (khoảng 10 câu) trình bày suy nghĩ của em về tác giả, người được nhận định là“một vị vua anh minh khai mở một triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân”.Trong đoạn văn sử dụng một câu cảm thán.( gạch chân)
Câu 5. Kể tên 2 văn bản nghị luận trung đại khác trong chương trình Ngữ văn 8 cũng nói về lòng yêu nước ( Nêu rõ tên văn bản, tác giả)
Câu 1: Học sinh nêu được nội dung của đoạn văn: Nêu những thuận lợi của địa thế thành Đại La và khẳng định đó là nơi tốt nhất để đóng đô.
Câu 2: Học sinh giải thích được:
Thắng địa: Chỗ đất có phong cảnh và địa thế đẹp.
Bài 1. Trong văn bản “Chiếu dời đô” Lí Công Uẩn có viết:
“Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất;được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. (2) Các khanh nghĩ thế nào?”
Câu 1: Nội dung chủ yếu của đoạn văn trên là gì?
Câu 2: Giải thích thế nào là “thắng địa”?
Câu 3. Vì sao nói “Chiếu dời đô” ra đời phản ánh ý chí độc lập tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt ?
Câu 4: Viết đoạn văn (khoảng 10 câu) trình bày suy nghĩ của em về tác giả, người được nhận định là“một vị vua anh minh khai mở một triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân”.Trong đoạn văn sử dụng một câu cảm thán.( gạch chân)
Câu 5. Kể tên 2 văn bản nghị luận trung đại khác trong chương trình Ngữ văn 8 cũng nói về lòng yêu nước ( Nêu rõ tên văn bản, tác giả)
Cõu 3
Vì:
- Tri?u dỡnh nh Lớ d? l?n m?nh ch?m d?t n?n phong ki?n cỏt c?.
- Dõn t?c D?i Vi?t d? s?c sỏnh ngang hng v?i phuong B?c.
- D?nh dụ ? Thang Long l nguy?n v?ng c?a nhõn dõn xõy d?ng m?t d?t nu?c d?c l?p, t? cu?ng.

Bài 1. Trong văn bản “Chiếu dời đô” Lí Công Uẩn có viết:
“Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất;được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. (2) Các khanh nghĩ thế nào?”
Câu 1: Nội dung chủ yếu của đoạn văn trên là gì?
Câu 2: Giải thích thế nào là “thắng địa”?
Câu 3. Vì sao nói “Chiếu dời đô” ra đời phản ánh ý chí độc lập tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt ?
Câu 4: Viết đoạn văn (khoảng 10 câu) trình bày suy nghĩ của em về tác giả, người được nhận định là“một vị vua anh minh khai mở một triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân”.Trong đoạn văn sử dụng một câu cảm thán.( gạch chân)
Câu 5. Kể tên 2 văn bản nghị luận trung đại khác trong chương trình Ngữ văn 8 cũng nói về lòng yêu nước ( Nêu rõ tên văn bản, tác giả)
    b. Tìm ý:
- Vua Lí Công Uẩn là“một vị vua anh minh khai mở một triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân”.
- Ông đau xót trước nỗi khổ cực của nhân dân.
- Ông quyết định chọn kinh đô mới ngay khi vừa mới lên ngôi chưa được bao lâu là vì dân chúng, để phát triển đất nước chứ không cam để kinh đô nằm khuất sâu trong rừng núi, chỉ phù hợp khi cần phòng thủ như Hoa Lư.
- Lý Công Uẩn thật tuyệt vời vì đã hiểu được khát vọng của nhân dân, khát vọng của lịch sử!
- Tuy là viết theo thể loại chiếu, chuyên dùng để ban bố mệnh lệnh của vua đến nhân dân nhưng Lý Công Uẩn lại viết một cách nhẹ nhàng, phân tích kỹ càng những thuận lợi của kinh đô mới Đại La, còn có ý muốn hỏi ý kiến quần thần, dân chúng: “ .. các khanh thấy thế nào?”. Ta bắt gặp ở đây 1 giọng nói đầy nhân từ, tấm lòng lo cho dân cho nước rất mực.
- Một người lãnh đạo anh minh biết chăm lo cho hạnh phúc lâu bền của chúng dân, không chạy theo cái lợi trước mắt mà quên đi cái lâu dài. Những điều vua nói cách đây cả ngàn năm nhưng hôm nay nhìn lại vẫn giữ nguyên tính chân lí của nó.
-  Nhờ tầm nhìn xa trông rộng ấy mà đất nước ta vững bền đến ngàn năm với thành Đại La( nay là thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến). Lý Công Uẩn, dù là vị vua, theo chế độ phong kiến, nhưng ông đã phần nào mang đến khái niệm “dân chủ”, một khái niệm rất tiến bộ sau này, là lấy dân làm chủ, triều đình, nhà nước chỉ đơn thuần là giúp đỡ nhân dân có được hạnh phúc lâu bền.



c. Viết đoạn văn
Vua Lí Công Uẩn( tác giả bài “Chiếu dời đô”) là“một vị vua anh minh khai mở một triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân”. Mở đầu bài chiếu, nhà vua giải thích tại sao lại dời đô. Và bằng một lý lẽ ngắn gọn nhưng sắc sảo, cùng với dẫn chức thiết thực, nhà vua đã khẳng định : việc dời đô không phải là hành động, là ý chí của một người. Nó là biểu hiện cho xu thế tất yếu của lịch sử. Ông đau xót trước cuộc sống cơ cực vì phải chịu cảnh đói khổ, thiên tai, giặc dã của nhân dân. Lý Công Uẩn thật tuyệt vời vì đã hiểu được khát vọng của nhân dân, khát vọng của lịch sử! Dân tộc Việt không chỉ là một nước độc lập. Muốn bảo vệ được điều ấy thì non sông, nhân tâm con người phải thu về một mối . Tất cả thần dân phải có ý chí tự cường để xây dựng nước Đại Việt thành quốc gia thống nhất vững mạnh. Muốn vậy, việc đầu tiên là phải tìm một nơi “trung tâm của trời đất”, một nơi có thế “rồng cuộn hổ ngồi”. Nhà vua đã rất tâm đắc và hào hứng nói tới cái nơi “đúng ngôi nam bắc đông tây” lại “nhìn sông dựa núi”. Nơi đây ko phải là miền Hoa Lư chật hẹp, núi non bao bọc lởm chởm mà là “ địa thế rộng mà bằng , đất đai cao mà thoáng”. Như vậy, đây là mảnh đất lí tưởng “ dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ và ngập lụt , muôn vật rất mực phong phú tốt tươi .” Thật cảm động, vị vua anh minh khai mở 1 triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân! Tìm chốn lập đô cũng vì dân, mong cho dân được hạnh phúc. Trong niềm tin của vua, có 1 kinh đô như vậy, nước Đại Việt sẽ bền vững muôn đời. Dời đô ra Thăng Long là 1 bước ngoặc rất lớn. Nó đánh dấu sự trường thành của dân tộc Đại Việt.
Chúng ta không cần phải sống phòng thủ, phải dựa vào thế hiểm trở như ở Hoa Lư để đối phó với quân thù. Chúng ta đã đủ lớn mạnh để lập đô ở nơi có thể đưa nước phát triển đi lên, đưa đất nước trở thành quốc gia độc lập sánh ngang với phương Bắc. Kinh đô Thăng Long quả là cái nôi lập đế nghiệp cho muôn đời, là nơi để cho sơn hà xã tắc được bền vững muôn đời vậy! Có thể nói, với trí tuệt anh minh, với lòng nhân hậu tuyệt vời, Lý Công Uẩn đã bày tỏ ý định dời đô giàu sức thuyết phục. Nếu như phần đầu nhà vua đưa ra những lý lẽ thuyết phục là nhờ những bằng chứng sử sách thì phần sau nhà vua đã đưa ra những suy nghĩ của riêng mình về miền đất mà vua định lập đô, không chỉ là cho ta thoả mãn về lí trí mà quan trọng hơn là bị thuyết phục bằng tình cảm. Ta bắt gặp ở đây 1 giọng nói đầy nhân từ, tấm lòng lo cho dân cho nước rất mực. Những điều vua nói cách đây cả ngàn năm nhưng hôm nay nhìn lại vẫn giữ nguyên tính chân lí của nó. Trải qua bao thăng trầm, con rồng bay lên bầu trời Hà Nội vẫn làm cho cả nước bái phục nhân cách, tài năng của Lý Công Uẩn, 1 vị vua anh minh vĩ đại.“Chiếu dời đô” là áng văn xuôi cổ độc đáo, đặc sắc của tổ tiên để lại. Ngôn ngữ trang trọng, đúng là khẩu khí của bậc đế vương . Đó là kết tinh vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ Việt Nam. Nó khơi dậy trong nhân dân ta lòng tự hào và ý chí tự cường mạnh mẽ.
Vua Lí Công Uẩn( tác giả bài “Chiếu dời đô”) là“một vị vua anh minh khai mở một triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân”. Dân chúng là cội nguồn của quốc gia, còn người lãnh đạo sẽ nâng đỡ cái cội nguồn đó. Thuận được lòng dân, đối đãi họ một cách hợp lí thì lo gì đất nước không hưng thịnh, trường tồn. Một người lãnh đạo anh minh còn biết chăm lo cho hạnh phúc lâu bền của chúng dân, không chạy theo cái lợi trước mắt mà quên đi cái lớn lâu dài. Lý Công Uẩn quả đúng là một vị vua anh minh như thế! Ông chọn kinh đô ở Đại La không phải ngẫu nhiên, mà ông đã qua quan sát, nghiên cứu thật nhiều lần. Đại La là nơi trung tâm, hội tụ của nhiều con sông lớn, lại nằm ờ đồng bằng nên rất thuận tiện cho việc đi lại; nơi đây còn có mưa thuận gió Hoà, đất đai màu mỡ, dân chúng sống trong sung túc, ấm no, muôn vật phong phú tốt tươi,... theo Lý Công Uẩn, nó xứng đáng là ’’kinh đô của bậc đế vương muôn đời".Ông chọn kinh đô mới vì dân chúng, để phát triển đất nước chứ không cam để kinh đô nằm khuất sâu trong rừng núi, chỉ phù hợp khi cần phòng thủ như Hoa Lư. Nhờ tầm nhìn xa trông rộng ấy mà đất nước ta vững bền đến ngàn năm, và ngôi thành Đại La, sau đổi tên thành Thăng Long, tức rồng bay lên, tồn tại, gắn bó suốt mấy thế kỉ cùng với triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Lý Công Uẩn dù là vị vua, theo chế độ phong kiến, nhưng ông đã phần nào mang đến khái niệm “dân chủ”, một khái niệm rất tiến bộ sau này, là lấy dân làm chủ, triều đình, nhà nước chỉ đơn thuần là giúp đỡ nhân dân có được hạnh phúc lâu bền.Thủ đô Hà Nội của chúng ta được như ngày hôm nay là nhờ vào quyết định sáng suốt với tầm nhìn vượt mọi giới hạn về không gian, thời gian của đức Thái tổ Lí Công Uẩn. Hà Nội nghìn năm văn hiến mãi mãi khắc ghi ân đức này.




2.Đọc kĩ đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
“Xưa nay, thủ đô luôn là trung tâm về văn hóa, chính trị của một đất nước. Nhìn vào thủ đô là nhìn vào sự suy thịnh của một dân tộc. Thủ đô có ý nghĩa rất lớn. Việc dời đô, lập đô là một vấn đề trọng đại quyết định phần nào với tới sự phát triển tương lai của đất nước. Muốn chọn vùng đất để định đô, việc đầu tiên là phải tìm một nơi “trung tâm của trời đất”, một nơi có thế “rồng cuộn hổ ngồi”. Nhà vua rất tâm đắc và hào hứng nói tới cái nơi “đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi”. Nơi đây không phải là miền Hoa Lư chật hẹp, núi non bao bọc lởm chởm mà là “địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng”. Thật cảm động một vị vua anh minh khai mở một triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân. Tìm chốn lập đô cũng vì dân, mong cho dân được hạnh phúc: “Dân khỏi chịu cảnh ngập lụt”. Nơi đây dân sẽ được hưởng no ấm thái bình vì“muôn vật cũng rất mực tốt tươi...”. Nhà vua đánh giá kinh đô mới “Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của của đế vương muôn đời”. Chính vì thế nhà vua mới bày tỏ ý muốn: “Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?”. (Nguồn Internet)

Câu 1: (1 điểm) Đoạn trích trên gợi em nhớ đến văn bản nào đã học trong chương trình Ngữ văn 8, tập II? Cho biết tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm đó?
Câu 2: (1 điểm) Tác phẩm được đề cập đến trong đoạn trích trên ra đời có ý nghĩa như thế nào đối với dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ?
Câu 3: (2 điểm)
a. Xác định kiểu câu của hai câu sau: (1)“Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. (2) Các khanh nghĩ thế nào?”.
b. Hãy cho biết mỗi câu văn trên thực hiện hành động nói nào?
Câu 4: (3 điểm) Viết đoạn văn (10 câu) làm sáng tỏ luận điểm “Thành Đại La xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”. Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất hai câu trần thuật, một câu nghi vấn.( gạch chân)
2.Đọc kĩ đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
“Xưa nay, thủ đô luôn là trung tâm về văn hóa, chính trị của một đất nước. Nhìn vào thủ đô là nhìn vào sự suy thịnh của một dân tộc. Thủ đô có ý nghĩa rất lớn. Việc dời đô, lập đô là một vấn đề trọng đại quyết định phần nào với tới sự phát triển tương lai của đất nước. Muốn chọn vùng đất để định đô, việc đầu tiên là phải tìm một nơi “trung tâm của trời đất”, một nơi có thế “rồng cuộn hổ ngồi”. Nhà vua rất tâm đắc và hào hứng nói tới cái nơi “đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi”. Nơi đây không phải là miền Hoa Lư chật hẹp, núi non bao bọc lởm chởm mà là “địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng”. Thật cảm động một vị vua anh minh khai mở một triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân. Tìm chốn lập đô cũng vì dân, mong cho dân được hạnh phúc: “Dân khỏi chịu cảnh ngập lụt”. Nơi đây dân sẽ được hưởng no ấm thái bình vì“muôn vật cũng rất mực tốt tươi...”. Nhà vua đánh giá kinh đô mới “Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của của đế vương muôn đời”. Chính vì thế nhà vua mới bày tỏ ý muốn: “Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?”. (Nguồn Internet)
Câu 1: (1 điểm) Đoạn trích trên gợi em nhớ đến văn bản nào đã học trong chương trình Ngữ văn 8, tập II? Cho biết tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm đó?
Câu 2: (1 điểm) Tác phẩm được đề cập đến trong đoạn trích trên ra đời có ý nghĩa như thế nào đối với dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ?
Câu 3: (2 điểm) Xác định kiểu câu của hai câu sau: (1)“Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. (2) Các khanh nghĩ thế nào?”. Hãy cho biết mỗi câu văn thực hiện hành động nói nào?
Câu 4: (3 điểm) Viết đoạn văn (10 câu) làm sáng tỏ luận điểm “Thành Đại La xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”. Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất hai câu trần thuật, một câu nghi vấn.( gạch chân)
Câu 1: (1.0 điểm)
Văn bản : “Chiếu dời đô” -> 0.25 điểm
- Tác giả : Lí Công Uẩn -> 0,25đ
- Thời điểm ra đời: Năm Canh Tuất niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất (1010) -> 0.5đ
 

Câu 1: (1 điểm) Đoạn trích trên gợi em nhớ đến văn bản nào đã học trong chương trình Ngữ văn 8, tập II? Cho biết tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm đó?
Câu 2: (1 điểm) Tác phẩm được đề cập đến trong đoạn trích trên ra đời có ý nghĩa như thế nào đối với dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ?
Câu 3: (2 điểm)
a. Xác định kiểu câu của hai câu sau: (1)“Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. (2) Các khanh nghĩ thế nào?”.
b. Hãy cho biết mỗi câu văn trên thực hiện hành động nói nào?
Câu 4: (3 điểm) Viết đoạn văn (10 câu) làm sáng tỏ luận điểm “Thành Đại La xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”. Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất hai câu trần thuật, một câu nghi vấn.( gạch chân)
Câu 2: (1.0 điểm) 
- Tác phẩm “Chiếu dời đô” ra đời có ý nghĩa phản ánh khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất -> 0.5 điểm
- Đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh. -> 0.5 điểm

Câu 1: (1 điểm) Đoạn trích trên gợi em nhớ đến văn bản nào đã học trong chương trình Ngữ văn 8, tập II? Cho biết tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm đó?
Câu 2: (1 điểm) Tác phẩm được đề cập đến trong đoạn trích trên ra đời có ý nghĩa như thế nào đối với dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ?
Câu 3: (2 điểm)
a. Xác định kiểu câu của hai câu sau: (1)“Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. (2) Các khanh nghĩ thế nào?”.
b. Hãy cho biết mỗi câu văn trên thực hiện hành động nói nào?
Câu 4: (3 điểm) Viết đoạn văn (10 câu) làm sáng tỏ luận điểm “Thành Đại La xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”. Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất hai câu trần thuật, một câu nghi vấn.( gạch chân)
Câu 3: (1.0 điểm) Xác định kiểu câu của các câu sau:
- “Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. -> Câu trần thuật (0.5 điểm), hành động trình bày (nêu ý kiến) ->0.5 điểm
- “Các khanh nghĩ thế nào?” -> Câu nghi vấn (0.5 điểm), hành động hỏi -> 0.5 điểm

Câu 1: (1 điểm) Đoạn trích trên gợi em nhớ đến văn bản nào đã học trong chương trình Ngữ văn 8, tập II? Cho biết tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm đó?
Câu 2: (1 điểm) Tác phẩm được đề cập đến trong đoạn trích trên ra đời có ý nghĩa như thế nào đối với dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ?
Câu 3: (2 điểm)
a. Xác định kiểu câu của hai câu sau: (1)“Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. (2) Các khanh nghĩ thế nào?”.
b. Hãy cho biết mỗi câu văn trên thực hiện hành động nói nào?
Câu 4: (3 điểm) Viết đoạn văn (10 câu) làm sáng tỏ luận điểm “Thành Đại La xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”. Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất hai câu trần thuật, một câu nghi vấn.( gạch chân)

Câu 1: (1 điểm) Đoạn trích trên gợi em nhớ đến văn bản nào đã học trong chương trình Ngữ văn 8, tập II? Cho biết tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm đó?
Câu 2: (1 điểm) Tác phẩm được đề cập đến trong đoạn trích trên ra đời có ý nghĩa như thế nào đối với dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ?
Câu 3: (2 điểm)
a. Xác định kiểu câu của hai câu sau: (1)“Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. (2) Các khanh nghĩ thế nào?”.
b. Hãy cho biết mỗi câu văn trên thực hiện hành động nói nào?
Câu 4: (3 điểm) Viết đoạn văn (10 câu) làm sáng tỏ luận điểm “Thành Đại La xứng đáng là “ Kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất hai câu trần thuật, một câu nghi vấn.( gạch chân)
b. Tìm ý :
-Thành Đại La xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.
- Xưa :
+ Về lịch sử: kinh đô cũ
+ Vị trí địa lí: ở trung tâm đất nước, mở ra bốn hướng nam, bắc, tây, đông; “ được cái thế rồng cuộn hổ ngồi”, “ lại tiện hướng nhìn sông dựa núi”.
+ Về địa thế: “ Rộng mà bằng”, “ đất đai cao mà thoáng”, tránh được cảnh ngập lụt.
+ Về vị thế chính trị, văn hoá: Là đầu mối giao lưu, “ Chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương”, là mảnh đất hưng thịnh “ Muôn vật cũng rất mực phong phú tốt
tươi”.
+ Về tiềm năng: là thắng địa, kinh đô bậc nhất
+ Thực tiễn lịch sử gần một nghìn năm qua đã cho thấy sự tiên đoán và khẳng định của vua Lí Thái Tổ về kinh đô Thăng Long là hoàn toàn đúng đắn. Thăng Long được chọn làm kinh đô của hầu hết các triều đại từ Lí, Trần, Hậu Lê, Mạc. Chỉ có triều Tây Sơn và triều Nguyễn chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô. Suốt nhiều thế kỉ ở thời kì phát triển, hưng thịnh của đất nước Đại Việt, kinh đô Thăng Long thực sự là nơi tụ hội và tiêu biểu cho các giá trị văn hoá, vật chất và tinh thần của đất nước, là nơi “Lắng hồn núi sông” (Nguyễn Đình Thi), cũng là một đô thị sầm uất, đứng hàng đầu trong các đô thị nước ta thời phong kiến: “ Thứ nhất Kinh kì, thứ nhì phố Hiến”. Con người “ Chẳng thơm cũng thể hoa nhài – Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” ( ca dao).
- Nay:
+ Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hà Nội linh thiêng ngàn năm được chọn làm Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà
+ Tiếp đó là Thủ đô ngàn năm văn hiến của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay.
+ Thủ đô Hà Nội của chúng ta hôm nay và mãi mãi mai sau vẫn là Thủ đô linh thiêng, hào hoa đúng như lời khẳng định của đức Thái Tổ hơn ngàn năm trước.
Thành Đại La xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. Văn bản “Chiếu dời đô” đã cho thấy tầm nhìn chiến lược của Lý Công Uẩn về Đại La, nơi sẽ dời đô đến. Một cái nhìn toàn diện, sâu sắc, chính xác về các mặt vị trí địa lí, địa thế, nhân văn... Sau một nghìn năm, Hà Nội đã trở thành thủ đô hòa bình của đất nước ta, nhân dân ta, ta càng thấy việc dời đô từ Hoa Lư ra Đại La của Lý Công Uẩn là một cống hiến vô cùng vĩ đại "mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu”.Nhà vua chứng minh và khẳng định sự đúng đắn hợp quy luật và phù hợp của việc dời đô. Đại La là một nơi có tất cả các điều kiện để phát triển đất nước “Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hưởng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. ” Đại La hiện lên đẹp về mọi mặt như địa lý, văn hóa, đầu mối giao lưu, điều kiện của dân cư và sự phong phú, tốt tươi của cảnh vật. tác giả đã nhìn từ góc nhìn của một nhà phong thủy, cho thấy tất cả những điều kiện tốt đẹp của thiên nhiên cũng như con người nơi đây. Thành Đại La ở vị trí trung tâm của đất nước. Có thế rồng cuộn hổ ngồi. Địa hình đa dạng có núi có sông, địa thế cao và khoáng đạt, mở ra bốn hướng nam, bắc, đông, tây, tiện cho việc phát triển lâu dài của quốc gia. Đây cũng là đầu mối giao lưu chính trị, văn hóa và kinh tế của cả nước. Xét toàn diện, thành Đại La có đủ điều kiện tối ưu để trở thành kinh đô mới của Đại Việt. Chứng cớ nhà vua đưa ra có sức thuyết phục rất lớn vì được cân nhắc kĩ càng trên nhiều lĩnh vực. có thể nói đây là một mảnh đất lý tưởng cho kinh đô và với những điều kiện ấy triều đại sẽ phát triển hưng thịnh.Nhà vua tự cho rằng xem cả dải đất nước Đại Việt thì chỉ có mỗi nơi đây là thắng địa. Có thể hiểu thắng địa là một nơi đất đai địa hình tốt đẹp hợp với một sự phát triển mạnh mẽ.
5.Lịch sử hơn mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với tên tuổi của những người anh hùng dân tộc vĩ đại như Lí Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp... Những người anh hùng ấy đã làm nên những chiến thắng vẻ vang, mở ra những trang sử vàng cho đất nước. Tự hào về những trang sử vẻ vang ấy, tiếp nối truyền thống yêu nước của dân tộc, tuổi trẻ hôm nay sẽ làm gì để xứng đáng với tiền nhân?
Hãy viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của bản thân về chủ đề “Tuổi trẻ và tương lai đất nước”.
1.(4,0 điểm ): Đọc kĩ đoạn văn sau rồi trả lời câu hỏi:
“Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.”
Câu 1: Giải nghĩa cụm từ “ thế rồng cuộn hổ ngồi” ? (0,5 điểm)
Câu 2: Để làm sáng tỏ luận điểm “Đại La là thắng địa xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời” tác giả đã sử dụng những luận cứ nào? (1,5 điểm)
Câu 3: Tự hào về mảnh đất Đại La ( tên gọi cũ của Hà Nội ngày nay) nghìn năm văn hiến, tiếp nối truyền thống cha ông, là một học sinh của thủ đô Hà Nội em sẽ làm gì để góp phần xây dựng thủ đô ngày càng văn minh, giàu đẹp? (Diễn đạt thành đoạn văn nghị luận ngắn 10 câu.) (2 điểm)
Câu 1. Học sinh giải thích được:
Thế rồng cuộn hổ ngồi: thế đất giống hình rồng cuộn, hổ ngồi, được coi là thế đất đẹp, sẽ phát triển thịnh vượng.(0,5 điểm)
Câu 2. Nội dung (1,5 điểm) Cần nêu rõ:
- Hệ thống luận cứ:
+ Thành Đại La có thuận lợi về mặt lịch sử: là kinh đô cũ của Cao Vương.
+ Thành Đại La có thuận lợi về vị trí địa lí: ở vào nơi trung tâm trời đât, thế rồng cuộn hổ ngồi, đúng ngôi nam bắc đông tây, tiện hướng nhìn sông dựa núi.
+ Thành Đại La có tiềm năng phát triển kinh tế: địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng, dân cư không phải chịu cảnh ngập lụt, muôn vật phong phú tốt tươi.
+ Thành Đại La là mảnh đất thịnh vượng, là đầu mối giao lưu.
+ Thành Đại La hội tụ đủ mọi mặt của đất nước, xứng đáng là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế.


Câu 3: HS diễn đạt thành đoạn văn nghị luận ngắn 3 - 5 câu
- Tự hào về mảnh đất Đại La ( tên gọi cũ của Hà Nội ngày nay) nghìn năm văn hiến, tiếp nối truyền thống cha ông, là một học sinh của thủ đô Hà Nội em thiết nghĩ, mỗi HS phải ý thức rõ vai trò chủ nhân Thăng Long để góp phần xây dựng thủ đô ngày càng văn minh, giàu đẹp.
- Phải rèn luyện sức khỏe thật tốt để có khả năng học tập rèn luyện.
- Không ngừng học tập và học hỏi, học với tất cả sự nhiệt tình và niềm say mê khám phá không ngừng để tiếp cận chân lí của tri thức nhân loại, phải “Học, học nữa, học mãi”.
-Xác định rõ mục tiêu học tập vinh quang ấy, mỗi học sinh phải xem những tấm gương hiếu học, những gương mặt tài năng trẻ không chỉ là niềm tự hào của tuổi trẻ chúng ta mà còn là cái đích vươn lên của mỗi con người.
-Trau dồi kiến thức, học đến đâu chắc đến đó; kết hợp học với hành, lí thuyết gắn với thực nghiệm để kích thích sáng tạo; tìm tòi cái mới.
- Không bao giờ quên ý thức trau dồi trở thành con người toàn diện cả tài và đức. Bởi chỉ thực sự có tài và có đức thì mới mong đóng góp được nhiều cho đất nước, cho dân tộc.
Câu 4: (2.0 điểm)
HS có thể sử dụng nhiều phương thức biểu đạt (nghị luận, biểu cảm) miễn thể hiện được những cảm nhận về những điểm nổi bật về tác giả- nhà vua Lí Công Uẩn:
Là một người thông minh, nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công.
Lí Công Uẩn đã lập nên một triều
 
Gửi ý kiến