Tìm kiếm Bài giảng
Tuần 13. Tỏ lòng (Thuật hoài)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Huyền
Ngày gửi: 21h:24' 23-03-2022
Dung lượng: 55.4 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Huyền
Ngày gửi: 21h:24' 23-03-2022
Dung lượng: 55.4 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Ôn tập: Tỏ lòng
Đề bài: Phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.
MB: VD1: Phạm Ngũ Lão được biết đến là võ tướng có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Bên cạnh đó, ông còn rất ham đọc sách, làm thơ và được xem là người văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông hiện chỉ còn hai bài thơ là "Tỏ lòng" (Thuật hoài) và "Viếng thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương". Đặc biệt, "Tỏ lòng" đã thể hiện vẻ đẹp của người anh hùng hiên ngang với lí tưởng và nhân cách lớn lao, đồng thời phản ánh hào khí Đông A của thời đại nhà Trần với sức mạnh và khí thế hào hùng.
VD2: Từ ngàn xưa, văn học Việt Nam đã thể hiện hình tượng con người Việt Nam với nhân cách cao đẹp và tinh thần yêu nước nồng nàn. Một trong những bài thơ đã khắc họa thành công vẻ đẹp kì vĩ , phi thường của con người và khí thế hào hùng của thời đại là bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.
TB:* Khái quát chung:
- Phạm Ngũ Lão là người có đóng góp to lớn trong cả hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược, là phụ tá đắc lực dưới trướng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, được Trần Quốc Tuấn yêu mến và gả con gái nuôi cho. Tuy là người theo nghiệp nhà binh, thế nhưng Phạm Ngũ Lão cũng lại là người rất mê thơ văn, ca từ thi phú, có nhiều am hiểu sâu sắc về lĩnh vực này, chính vì thế ông thường được người đời ca tụng là vị tướng văn võ toàn tài. Phạm Ngũ Lão có nhiều tác phẩm hay, tuy nhiên do sự biến đổi của lịch sử mà bị thất lạc gần hết, nay chỉ còn lại Tỏ lòng (Thuật Hoài) và Viếng Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại Vương. Trong đó Tỏ lòng là bài thơ khá nổi tiếng, nằm trong quy phạm chung nhất “Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”, thể hiện được khí phách nam nhi trong đất trời, đặc biệt là trước viễn cảnh đất nước lâm nguy, để lại bài học sâu sắc cho các thế hệ muôn đời sau. Tỏ lòng được viết vào khoảng năm 1284, ngay trước khi cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ hai diễn ra, trong bối cảnh Phạm Ngũ Lão và một số vị tướng tài khác được triều đình cử đi canh giữ biên giới phía Bắc, đề phòng sự tấn công bất ngờ của quân địch.
*Phân tích
a. Hai câu đầu: tác giả đã tái hiện lại một cách ngắn gọn và đầy đủ hình ảnh và hào khí của con người cũng như quân đội thời Trần với nghệ thuật ẩn dụ đặc sắc.
“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”
Dịch nghĩa:
“Cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu
Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu”
Thứ nhất nói về hình ảnh con người thời Trần, tác giả đã gợi mở ra một bối cảnh không gian và thời gian rộng lớn,. Phạm Ngũ Lão lấy hai chữ “giang sơn” (sông núi) để mở ra không gian địa lý của đất nước. Bên cạnh yếu tố không gian rộng lớn, thời gian cũng dài đằng đẵng “kháp kỷ thu”, tức là đã mấy thu, đã mấy năm. Trên cái nền không gian và thời gian bao la, dài rộng như thế hình tượng con người Đại Việt hiện lên thật hiên ngang với khí thế mạnh mẽ trong hai từ “hoành sóc” (cầm ngang ngọn giáo) .Câu thơ gợi ra hình ảnh người dân Đại Việt đã cầm ngang ngọn giáo canh giữ non sông trải qua mấy mùa thu. Hình ảnh đó cho thấy sự kiên cường, bền bỉ, anh dũng trong chiến đấu. Tầm vóc của nhân dân cũng trở nên vĩ đại, sánh ngang với trời đất và sẵn sàng tiêu diệt quân thù bằng ngọn giáo cầm chắc trong tay.
- Sánh với hình tượng con người, thì quân đội thời Trần cũng hiện lên với những hình ảnh ẩn dụ, so sánh trong câu thừa đề. Phạm Ngũ Lão dùng từ “Tam quân” tức là chỉ ba đạo quân chính thống trong tổ chức quân sự của ta, bao gồm tiền quân, trung quân và hậu quân. Hình ảnh này nhằm mục đích gợi ra sự đoàn kết một lòng của quân đội ta trong chiến đấu, đồng thời cũng chỉ sự hùng mạnh, khí thế chiến đấu sôi nổi và sự chuẩn bị sẵn sàng cho công cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc . Cả câu “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” nhằm nhấn mạnh sự uy vũ, hùng mạnh của quân đội thời Trần, và có thể hiểu theo 2 nghĩa: một là ba quân có sức mạnh tựa như hổ, báo mạnh mẽ nuốt trôi trâu , hai là đội quân có sức mạnh kỳ vĩ lấn át cả sao Ngưu trên trời . Với cách hiểu thứ hai, ta có thể nhận thấy một niềm cảm hứng lãng mạn hiếm thấy trong thi ca trung đại đến từ một võ tướng, cách hiểu này làm toát lên cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của đội quân mang “hào khí Đông A”. Đó cũng là sức mạnh của thời đại nhà Trần.
b.Hai câu cuối
Sau hai câu đề nói về hào khí và vẻ đẹp chung của cả dân tộc thì đến hai câu cuối, tác giả chuyển sang bày tỏ nỗi lòng, tâm tư nguyện vọng của mình:
“Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”
(Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”)
Với hai câu thơ này, ta có thể nhận rõ quan điểm “nhập thế tích cực” của Phạm Ngũ Lão, rằng phận nam nhi sinh ra đã mang trên mình món nợ công danh, và phải luôn nỗ lực cố gắng hết sức dùng tài trí của mình để đóng góp, xây dựng đất nước, trả cho kỳ được món nợ công danh. Phạm Ngũ Lão chính là một trong số những người chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm nhập thế tích cực, mặc dù ông không ra kinh ứng thí, thế nhưng ông đã chọn một cách trả nợ công danh khác đó là theo đuổi con đường tòng quân, góp sức đánh đuổi giặc ngoại xâm, làm nên công trạng cho xứng với thân nam nhi. Có thể nói rằng quan điểm “nợ công danh” đã đem đến cho trang nam nhi một mục đích sống, một lý tưởng sống cao đẹp và đáng quý.
- Thế nhưng vẻ đẹp tâm hồn của Phạm Ngũ Lão không chỉ dừng lại ở chí làm trai hay món nợ công danh thông thường, mà nó còn được phát triển lên một tầm cao mới thông qua nỗi thẹn của ông khi nghe chuyện Vũ hầu. Có thể nói Phạm Ngũ Lão là người có công danh, sự nghiệp coi như đã trả được món nợ công danh, thế nhưng khi đứng trước chuyện của Vũ hầu - Gia Cát Lượng, thì lại lấy làm xấu hổ bởi bản thân mình không thể đạt tới trình độ như tiền nhân, người giúp Lưu Bị tranh đoạt giang sơn trong bối cảnh tam quốc. Tác giả tự thấy rằng chút công danh cỏn con của mình cũng chẳng thể sánh vào đâu so với cổ nhân, tự lấy thế làm thẹn, đồng thời cũng tự dặn lòng phải phấn đấu nhiều hơn nữa để trả cho đủ món nợ của nam nhi. Từ đó có thể thấy vẻ đẹp tâm hồn của Phạm Ngũ Lão hiện lên với hai nét chính ấy là ý chí, nỗ lực, mong muốn được đóng góp công sức xây dựng giang sơn, lập công danh sự nghiệp hiển hách và lý tưởng, khát khao trở thành một nhân vật lịch sự lỗi lạc tựa Gia Cát, lưu danh sử sách muôn đời.
Bàn luận, đánh giá…
- Baì thơ Đường luật ngắn gọn, với những nét đặc sắc về nghệ thuật: chặt chẽ về niêm luật, sử dụng thành công những hình ảnh tự nhiên kì vĩ, tượng trưng, cách nói phóng đại, đa nghĩa, đa dạng về giọng điệu…
- Bài thơ nằm trong mạch nguồn cảm hứng hào hùng của hào khí Đông A (hào khí thời Trần, Đông A là chiết tự của chữ Trần). Đó là không khí hào hùng, là tinh thần tự lập ,tự cường, lòng yêu nước cháy bỏng, là khát vọng lập công giúp nước, là ý chí quyết chiến quyết thắng mọi kẻ thù.
KB: Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão là một bài thơ tuy ngắn gọn nhưng lại mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, trước hết là ca ngợi vẻ đẹp của con người và quân đội thời Trần, sau đó là khai mở ra bài học về món nợ công danh cho nam nhi khắp thiên hạ, đồng thời cũng thể hiện khát khao, lý tưởng và nhân cách cao đẹp của một nhà nho, nhà quân sự trên bước đường công danh, sao cho xứng với Tổ quốc dân tộc.
Đề bài: Phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.
MB: VD1: Phạm Ngũ Lão được biết đến là võ tướng có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Bên cạnh đó, ông còn rất ham đọc sách, làm thơ và được xem là người văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông hiện chỉ còn hai bài thơ là "Tỏ lòng" (Thuật hoài) và "Viếng thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương". Đặc biệt, "Tỏ lòng" đã thể hiện vẻ đẹp của người anh hùng hiên ngang với lí tưởng và nhân cách lớn lao, đồng thời phản ánh hào khí Đông A của thời đại nhà Trần với sức mạnh và khí thế hào hùng.
VD2: Từ ngàn xưa, văn học Việt Nam đã thể hiện hình tượng con người Việt Nam với nhân cách cao đẹp và tinh thần yêu nước nồng nàn. Một trong những bài thơ đã khắc họa thành công vẻ đẹp kì vĩ , phi thường của con người và khí thế hào hùng của thời đại là bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.
TB:* Khái quát chung:
- Phạm Ngũ Lão là người có đóng góp to lớn trong cả hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược, là phụ tá đắc lực dưới trướng của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, được Trần Quốc Tuấn yêu mến và gả con gái nuôi cho. Tuy là người theo nghiệp nhà binh, thế nhưng Phạm Ngũ Lão cũng lại là người rất mê thơ văn, ca từ thi phú, có nhiều am hiểu sâu sắc về lĩnh vực này, chính vì thế ông thường được người đời ca tụng là vị tướng văn võ toàn tài. Phạm Ngũ Lão có nhiều tác phẩm hay, tuy nhiên do sự biến đổi của lịch sử mà bị thất lạc gần hết, nay chỉ còn lại Tỏ lòng (Thuật Hoài) và Viếng Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại Vương. Trong đó Tỏ lòng là bài thơ khá nổi tiếng, nằm trong quy phạm chung nhất “Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”, thể hiện được khí phách nam nhi trong đất trời, đặc biệt là trước viễn cảnh đất nước lâm nguy, để lại bài học sâu sắc cho các thế hệ muôn đời sau. Tỏ lòng được viết vào khoảng năm 1284, ngay trước khi cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ hai diễn ra, trong bối cảnh Phạm Ngũ Lão và một số vị tướng tài khác được triều đình cử đi canh giữ biên giới phía Bắc, đề phòng sự tấn công bất ngờ của quân địch.
*Phân tích
a. Hai câu đầu: tác giả đã tái hiện lại một cách ngắn gọn và đầy đủ hình ảnh và hào khí của con người cũng như quân đội thời Trần với nghệ thuật ẩn dụ đặc sắc.
“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”
Dịch nghĩa:
“Cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu
Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu”
Thứ nhất nói về hình ảnh con người thời Trần, tác giả đã gợi mở ra một bối cảnh không gian và thời gian rộng lớn,. Phạm Ngũ Lão lấy hai chữ “giang sơn” (sông núi) để mở ra không gian địa lý của đất nước. Bên cạnh yếu tố không gian rộng lớn, thời gian cũng dài đằng đẵng “kháp kỷ thu”, tức là đã mấy thu, đã mấy năm. Trên cái nền không gian và thời gian bao la, dài rộng như thế hình tượng con người Đại Việt hiện lên thật hiên ngang với khí thế mạnh mẽ trong hai từ “hoành sóc” (cầm ngang ngọn giáo) .Câu thơ gợi ra hình ảnh người dân Đại Việt đã cầm ngang ngọn giáo canh giữ non sông trải qua mấy mùa thu. Hình ảnh đó cho thấy sự kiên cường, bền bỉ, anh dũng trong chiến đấu. Tầm vóc của nhân dân cũng trở nên vĩ đại, sánh ngang với trời đất và sẵn sàng tiêu diệt quân thù bằng ngọn giáo cầm chắc trong tay.
- Sánh với hình tượng con người, thì quân đội thời Trần cũng hiện lên với những hình ảnh ẩn dụ, so sánh trong câu thừa đề. Phạm Ngũ Lão dùng từ “Tam quân” tức là chỉ ba đạo quân chính thống trong tổ chức quân sự của ta, bao gồm tiền quân, trung quân và hậu quân. Hình ảnh này nhằm mục đích gợi ra sự đoàn kết một lòng của quân đội ta trong chiến đấu, đồng thời cũng chỉ sự hùng mạnh, khí thế chiến đấu sôi nổi và sự chuẩn bị sẵn sàng cho công cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc . Cả câu “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” nhằm nhấn mạnh sự uy vũ, hùng mạnh của quân đội thời Trần, và có thể hiểu theo 2 nghĩa: một là ba quân có sức mạnh tựa như hổ, báo mạnh mẽ nuốt trôi trâu , hai là đội quân có sức mạnh kỳ vĩ lấn át cả sao Ngưu trên trời . Với cách hiểu thứ hai, ta có thể nhận thấy một niềm cảm hứng lãng mạn hiếm thấy trong thi ca trung đại đến từ một võ tướng, cách hiểu này làm toát lên cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của đội quân mang “hào khí Đông A”. Đó cũng là sức mạnh của thời đại nhà Trần.
b.Hai câu cuối
Sau hai câu đề nói về hào khí và vẻ đẹp chung của cả dân tộc thì đến hai câu cuối, tác giả chuyển sang bày tỏ nỗi lòng, tâm tư nguyện vọng của mình:
“Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”
(Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”)
Với hai câu thơ này, ta có thể nhận rõ quan điểm “nhập thế tích cực” của Phạm Ngũ Lão, rằng phận nam nhi sinh ra đã mang trên mình món nợ công danh, và phải luôn nỗ lực cố gắng hết sức dùng tài trí của mình để đóng góp, xây dựng đất nước, trả cho kỳ được món nợ công danh. Phạm Ngũ Lão chính là một trong số những người chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm nhập thế tích cực, mặc dù ông không ra kinh ứng thí, thế nhưng ông đã chọn một cách trả nợ công danh khác đó là theo đuổi con đường tòng quân, góp sức đánh đuổi giặc ngoại xâm, làm nên công trạng cho xứng với thân nam nhi. Có thể nói rằng quan điểm “nợ công danh” đã đem đến cho trang nam nhi một mục đích sống, một lý tưởng sống cao đẹp và đáng quý.
- Thế nhưng vẻ đẹp tâm hồn của Phạm Ngũ Lão không chỉ dừng lại ở chí làm trai hay món nợ công danh thông thường, mà nó còn được phát triển lên một tầm cao mới thông qua nỗi thẹn của ông khi nghe chuyện Vũ hầu. Có thể nói Phạm Ngũ Lão là người có công danh, sự nghiệp coi như đã trả được món nợ công danh, thế nhưng khi đứng trước chuyện của Vũ hầu - Gia Cát Lượng, thì lại lấy làm xấu hổ bởi bản thân mình không thể đạt tới trình độ như tiền nhân, người giúp Lưu Bị tranh đoạt giang sơn trong bối cảnh tam quốc. Tác giả tự thấy rằng chút công danh cỏn con của mình cũng chẳng thể sánh vào đâu so với cổ nhân, tự lấy thế làm thẹn, đồng thời cũng tự dặn lòng phải phấn đấu nhiều hơn nữa để trả cho đủ món nợ của nam nhi. Từ đó có thể thấy vẻ đẹp tâm hồn của Phạm Ngũ Lão hiện lên với hai nét chính ấy là ý chí, nỗ lực, mong muốn được đóng góp công sức xây dựng giang sơn, lập công danh sự nghiệp hiển hách và lý tưởng, khát khao trở thành một nhân vật lịch sự lỗi lạc tựa Gia Cát, lưu danh sử sách muôn đời.
Bàn luận, đánh giá…
- Baì thơ Đường luật ngắn gọn, với những nét đặc sắc về nghệ thuật: chặt chẽ về niêm luật, sử dụng thành công những hình ảnh tự nhiên kì vĩ, tượng trưng, cách nói phóng đại, đa nghĩa, đa dạng về giọng điệu…
- Bài thơ nằm trong mạch nguồn cảm hứng hào hùng của hào khí Đông A (hào khí thời Trần, Đông A là chiết tự của chữ Trần). Đó là không khí hào hùng, là tinh thần tự lập ,tự cường, lòng yêu nước cháy bỏng, là khát vọng lập công giúp nước, là ý chí quyết chiến quyết thắng mọi kẻ thù.
KB: Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão là một bài thơ tuy ngắn gọn nhưng lại mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, trước hết là ca ngợi vẻ đẹp của con người và quân đội thời Trần, sau đó là khai mở ra bài học về món nợ công danh cho nam nhi khắp thiên hạ, đồng thời cũng thể hiện khát khao, lý tưởng và nhân cách cao đẹp của một nhà nho, nhà quân sự trên bước đường công danh, sao cho xứng với Tổ quốc dân tộc.
 








Các ý kiến mới nhất