Tìm kiếm Bài giảng
Tuần 27. Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: trần thị hạnh
Ngày gửi: 13h:10' 08-04-2022
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 21
Nguồn:
Người gửi: trần thị hạnh
Ngày gửi: 13h:10' 08-04-2022
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 21
Số lượt thích:
1 người
(trần thị hạnh)
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
- Đặng Trần Côn -
“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”
Tình cảnh cô đơn, lẻ loi của người chính phụ
Từ láy “eo óc” : âm thanh lúc to, lúc nhỏ, thưa thớt -> tang tóc, buồn gã, quạng hiu ( nghệ thuật tả tĩnh )
Ngoại cảnh
Năm trống( năm canh): thao thức suốt năm canh trong nỗi cô đơn
Bóng hòe phất phơ: gợi sự tĩnh lặng và nỗi buồn xót xa.
=> Sự trôi chảy của thời gian, sự hoang vắng của không gian.
=> Sự thao thức triền miên trong cô đơn của người chinh phụ
Người phụ nữ thấm thía bi kịch của cuộc đời mình:
- Thời gian: một khắc một giờ dài như một năm => thời gian đo bằng nỗi buồn cô đơn
- Không gian: mở rộng trận miền biển xa => không gian được đo bằng chiều dài của nỗi đau, nỗi sầu.
Thời gian ở đây được cảm nhận và bị chi phối bởi sức nặng tâm lí.
Ngoại cảnh được miêu tả kĩ thông qua những chi tiết mang tính chọn lọc về không gian, thời gian, âm thanh, hình ảnh, đã tạo ra bức phông nền cho sự xuất hiện, sự bộc bạch của nhân vật trữ tình. Đồng thời, chính những chi tiết này cũng toát lên tiếng nói nội tâm của con người qua trạng thái tồn tại của nó - một trong những đặc trưng tiêu biểu nhất của thể loại ngâm khúc nói riêng và thơ trữ tình nói chung.
“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”
Hành động
+ “hương gượng đốt”
+ “gương gượng soi”
+ “sắt cầm gượng gảy…”
><
+ “hồn đà mê mải”
+ “lệ lại châu chan”
+ “dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”
Chìm đắm mê man trong nỗi buồn
Lệ chan chứa vì xót xa tủi than
Lo sợ điều chẳng lành,đau xót vô cùng
- Điệp từ `` gương`` 3 lần cho thấy sự miễn cưỡng trong hành động. Người chính phụ ép bản thân làm những việt thường ngày để khỏa lấp nỗi nhớ nhưng tất cả đều kiến cho nỗi nhớ ấy thành hình, thành nét rõ ràng hơn. Tất cả mọi thứ đều được liên kết nỗi nhớ.
Hình ảnh ước lệ
+ Sắt cầm: đàn sắt đàn cầm tượng trưng cho vợ chồng hòa hợp
+ Dây uyên: tượng trưng cho lứa đôi gắn bó.
+ Phím loan: biểu tượng cho tình yêu đôi lứa
=> Lòng cô đơn quặn thắt, khát khao thầm kín về hạnh phúc đôi lứa
Đặc sắc nghệ thuật: Miêu tả nội tâm nhân vật đặc sắc.
- Tả nội tâm nhân vật qua ngoại cảnh, qua hành động, tả trực tiếp tâm trạng
- Các biện pháp tu từ: ẩn dụ, đối, ước lệ tượng trương, đặc biệt nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.
-Ngôn ngữ tinh tế, sáng tạo, từ láy biểu cảm....
- Thể song thất lục bát âm điệu buồn thương da diết....
- Đặng Trần Côn -
“Gà eo óc gáy sương năm trống
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”
Tình cảnh cô đơn, lẻ loi của người chính phụ
Từ láy “eo óc” : âm thanh lúc to, lúc nhỏ, thưa thớt -> tang tóc, buồn gã, quạng hiu ( nghệ thuật tả tĩnh )
Ngoại cảnh
Năm trống( năm canh): thao thức suốt năm canh trong nỗi cô đơn
Bóng hòe phất phơ: gợi sự tĩnh lặng và nỗi buồn xót xa.
=> Sự trôi chảy của thời gian, sự hoang vắng của không gian.
=> Sự thao thức triền miên trong cô đơn của người chinh phụ
Người phụ nữ thấm thía bi kịch của cuộc đời mình:
- Thời gian: một khắc một giờ dài như một năm => thời gian đo bằng nỗi buồn cô đơn
- Không gian: mở rộng trận miền biển xa => không gian được đo bằng chiều dài của nỗi đau, nỗi sầu.
Thời gian ở đây được cảm nhận và bị chi phối bởi sức nặng tâm lí.
Ngoại cảnh được miêu tả kĩ thông qua những chi tiết mang tính chọn lọc về không gian, thời gian, âm thanh, hình ảnh, đã tạo ra bức phông nền cho sự xuất hiện, sự bộc bạch của nhân vật trữ tình. Đồng thời, chính những chi tiết này cũng toát lên tiếng nói nội tâm của con người qua trạng thái tồn tại của nó - một trong những đặc trưng tiêu biểu nhất của thể loại ngâm khúc nói riêng và thơ trữ tình nói chung.
“Hương gượng đốt hồn đà mê mải
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”
Hành động
+ “hương gượng đốt”
+ “gương gượng soi”
+ “sắt cầm gượng gảy…”
><
+ “hồn đà mê mải”
+ “lệ lại châu chan”
+ “dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”
Chìm đắm mê man trong nỗi buồn
Lệ chan chứa vì xót xa tủi than
Lo sợ điều chẳng lành,đau xót vô cùng
- Điệp từ `` gương`` 3 lần cho thấy sự miễn cưỡng trong hành động. Người chính phụ ép bản thân làm những việt thường ngày để khỏa lấp nỗi nhớ nhưng tất cả đều kiến cho nỗi nhớ ấy thành hình, thành nét rõ ràng hơn. Tất cả mọi thứ đều được liên kết nỗi nhớ.
Hình ảnh ước lệ
+ Sắt cầm: đàn sắt đàn cầm tượng trưng cho vợ chồng hòa hợp
+ Dây uyên: tượng trưng cho lứa đôi gắn bó.
+ Phím loan: biểu tượng cho tình yêu đôi lứa
=> Lòng cô đơn quặn thắt, khát khao thầm kín về hạnh phúc đôi lứa
Đặc sắc nghệ thuật: Miêu tả nội tâm nhân vật đặc sắc.
- Tả nội tâm nhân vật qua ngoại cảnh, qua hành động, tả trực tiếp tâm trạng
- Các biện pháp tu từ: ẩn dụ, đối, ước lệ tượng trương, đặc biệt nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.
-Ngôn ngữ tinh tế, sáng tạo, từ láy biểu cảm....
- Thể song thất lục bát âm điệu buồn thương da diết....
 









Các ý kiến mới nhất