Tìm kiếm Bài giảng
Tài liệu Mĩ thuật làng Sình/ ĐH

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: ngô Thị Hoàn
Ngày gửi: 20h:06' 19-08-2022
Dung lượng: 9.0 MB
Số lượt tải: 13
Nguồn:
Người gửi: ngô Thị Hoàn
Ngày gửi: 20h:06' 19-08-2022
Dung lượng: 9.0 MB
Số lượt tải: 13
Số lượt thích:
0 người
MÔN: LỊCH SỬ MỸ THUẬT VIỆT NAM
_Giảng viên: Trần thị Tuyết Nhung_
*_Viên Thị Vân ( nhóm trưởng)_ *_Ngô Thị Hoàn_ *_Phan Hữu Hoàng_ *_Nguyễn Tiến Thịnh_ *_Nguyễn Văn Việt_ *_Lê Thị Thủy_ *_Nguyễn Thị Thanh_
_Xin mời cô giáo và các bạn cùng tìm hiểu về Mỹ thuật Tranh Làng Sình!_
MĨ THUẬT
TRANH LÀNG SÌNH
1. Khái quát
3. Các thể loại
5. Kết luận
-Tranh Làng Sình là tranh bản mộc - một dòng tranh dân gian Việt Nam. Tranh sản xuất ở Làng Sình - một làng nằm ven sông Hương ( Huế)
- Nghề làm tranh bắt đầu từ thế kỉ 15 nhưng đến thế kỉ 18 mí thực sự phát triển.
- Theo nghệ nhân Kỳ Hữu Phước thì vào thời các chúa Nguyễn, trong đoàn người Nam tiến lúc bấy giờ vào vùng Thuận Hóa khai hoang lập ấp, ông Kỳ Hữu Hòa mang theo phương pháp làm tranh giấy mộc bản để mưu sinh. Tranh làng Sình ra đời từ đó.
4.2, Kĩ thuật in ấn:
- Tranh Sình có nhiều loại kích thước tùy thuộc vào khổ giấy dó. Giấy dó cổ truyền có khổ 25x70cm, được xén thành cỡ pha đôi (25x35), pha ba (25x23) hay pha tư (25x17).
- Tranh khổ lớn khi in thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra.
- Tranh khổ nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên.
- Bản in đen phải chờ cho khô rồi mới đem tô màu.
-Tranh làng Sình: Được sủ dụng với mục đích cúng lễ, đặc trưng cho tín ngưỡng dân gian Huế .
- Tranh được in thủ công hoặc vẽ bằng tay.
- Tranh làng Sình: có chất liệu dân giã, đường nét, màu sắc mộc mạc. Màu chủ yếu trên tranh làng Sình là: xanh dương, vàng, đỏ, đen, lục.
- Tranh Làng Sình khác với các dòng tranh khác bởi nó được làm không cầu kì, được sản xuất theo bộ tranh, mục đích dung để thờ cúng.
- Người ta kiêng không cất giữ những bức tranh này lâu trong nhà, nên ngày nay nhiều bức tranh đã bị thất truyền.
4.1: Chất liệu:
- Bản khắc được làm từ gỗ mít.
- Giấy in tranh là giấy mộc quét điệp.
- Màu sắc: Ngày xưa được tạo từ các sản phẩm tự nhiên như :thực vật, kim loại hay từ sò điệp... Một số loại màu pha chế tự nhiên: màu vàng nhẹ (lá đung +búp hòe non), màu xanh ( hoa dành dành + lá mối), màu tím (hạt mồng tơi), màu vàng (hoa hòe), màu đỏ (dễ cây vang, đá son), màu đen (tro rơm nếp )
- Sau này do nhiều nguyên nhân nên màu sắc được tạo nên từ phẩm hóa học, giấy gió cũng được thay bằng 1 loại giấy mỏng khác đẽ kiếm hơn.
3.1, Tranh nhân vật:
Gồm các loại tượng Bà, tượng Bếp; con ảnh; ông Điệu, ông Đốc...
- Tượng Bà là những bức tranh thờ treo trên xà nhà, gọi là trang bổn mạng. Bà sẽ là người giúp đỡ và giải hạn cho nữ gia chủ. Là hình ảnh một nữ nhân cưỡi trên lưng voi hoặc ngồi trên một đài cao. ở trong một khung hình chữ nhật, phía sau có hai thị nữ cầm quạt đứng hầu
- Tượng Bếp (tờ Bếp): in hình Thổ Kỳ và hai ông Thổ Công và Thổ Địa; xung quanh là hình các khí dụng, vật phẩm, kẻ hầu người hạ.
- Con ảnh: là những “tờ thế mạng”, gồm ảnh xiêm in hình người đàn ông hoặc đàn bà để cầu đảo để thế mạng cho người lớn, và ảnh phền in hình bé trai hoặc bé gái để thế mạng cho trẻ em.
-Ngoài ra còn có các bộ tranh thờ thần để cầu an cho người như tiên sư, ông Điệu, ông Đốc, bà Thủy, tam vị Phạm Tinh…
-Ngày nay những bức tranh trang trí thuộc đề tài dân gian và tranh bát âm ra đời đã làm phong phú thêm cho tranh làng Sình.
- Tranh làng Sình mang một tín ngưỡng dân dã, nhưng thông qua chất liệu, màu sắc, chủ đề, đường nét, bố cục, tranh làng Sình đã tạo nên một nét đặc thù, không chỉ trong khía cạnh thẩm mỹ, mà nội dung tranh còn biểu lộ một thái độ, một quan niệm, một nếp sinh hoạt con người ở đây trước thiên nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa của quê hương mình.
- Hiện nay cơ chề thị trường thay đổi, Làng Sình còn rất ít gia đình theo nghề làm tranh. Tiêu biểu còn gia đình nghệ nhân Kỳ Hữu Phước đang sản xuất và lưu giữ nhiều tranh nhất.
- Tranh Làng Sình là dòng tranh duy nhất ở miền Trung đại diện cho tín ngưỡng dân gian của vùng đất Huế, góp phần to lớn làm phong phú cho nền tranh Dân gian Việt nam.
2. Đặc điểm chung
3.2, Tranh con vật
- In hình 12 con vật cầm tinh cho thập nhị địa chi trong âm lịch gồm: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
- Tranh in hình các loài gia súc trâu, bò, heo, ngựa,... dùng để cúng tế hoặc treo trong các chuồng trại nuôi gia súc để cầu cho vật nuôi tránh được dịch bệnh, phát triển đầy đàn; - Tranh có hình các linh thú như voi, cọp để dâng cúng nơi các miếu nhằm tỏ lòng thành kính của con người với các loài mãnh thú và cầu mong các mãnh thú này không giáng họa cho người.
3.3, Tranh đồ vật:
- Là những bức tranh in hình các loại áo quần; khí dụng; cung tên;… hoặc các loại tế phẩm như áo ông, áo bà, áo binh có in hoa văn trang trí.
- Thường là tranh cỡ nhỏ, dùng để đốt cho người cõi âm
4. Chất liệu,
kĩ thuật NHÓM 8
TRANH LÀNG SÌNH
www.PowerPointep.net
1. Khái quát
5. Kết luận
4. Chất liệu, kĩ thuật
2. Đặc điểm chung
3. Các thể loại tranh
Làng Sình
1. Khái quát
-Tranh Làng Sình là tranh bản mộc - một dòng tranh dân gian Việt Nam. Tranh sản xuất ở Làng Sình - một làng nằm ven sông Hương ( Huế)
- Nghề làm tranh bắt đầu từ thế kỉ 15 nhưng đến thế kỉ 18 mí thực sự phát triển.
- Theo nghệ nhân Kỳ Hữu Phước thì vào thời các chúa Nguyễn, trong đoàn người Nam tiến lúc bấy giờ vào vùng Thuận Hóa khai hoang lập ấp, ông Kỳ Hữu Hòa mang theo phương pháp làm tranh giấy mộc bản để mưu sinh. Tranh làng Sình ra đời từ đó.
2. Đặc điểm chung
-Tranh làng Sình: Được sủ dụng với mục đích cúng lễ, đặc trưng cho tín ngưỡng dân gian Huế .
- Tranh được in thủ công hoặc vẽ bằng tay.
- Tranh làng Sình: có chất liệu dân giã, đường nét, màu sắc mộc mạc. Màu chủ yếu trên tranh làng Sình là: xanh dương, vàng, đỏ, đen, lục.
- Tranh Làng Sình khác với các dòng tranh khác bởi nó được làm không cầu kì, được sản xuất theo bộ tranh, mục đích dung để thờ cúng.
- Người ta kiêng không cất giữ những bức tranh này lâu trong nhà, nên ngày nay nhiều bức tranh đã bị thất truyền.
3. Các thể loại tranh
- Tranh Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng, có khoảng 50 đề tài tranh. Các đề tài tranh chủ yếu phản ánh tín ngưỡng cổ xưa. Ngoài các đề tài về tín ngưỡng, phục vụ thờ cúng còn có tranh Tố Nữ [cần chú thích], tranh tả cảnh sinh hoạt xã hội... - Tranh phục vụ tín ngưỡng có thể chia làm ba loại: Tranh nhân vật; Trang súc vật; Tranh đồ vật.
3.1, Tranh nhân vật:
3.1.1, Tranh Tượng Bà
- Là những bức tranh thờ trên những chiếc trang bà treo trên xà nhà, gọi là trang bổn mạng. Bà sẽ là người giúp đỡ và giải hạn cho nữ gia chủ. Bà bổn mạng trên tranh Sình thường được thể hiện trong hình tướng của một nữ nhân cưỡi trên lưng voi, ở trong một khung hình chữ nhật, phía sau có hai thị nữ cầm quạt đứng hầu, hoặc chỉ cưỡi voi và có thị nữ hầu cận, hay ngồi trên một đài cao.
- Màu sắc: chủ đạo là màu tím, đỏ, hồng, vàng, xanh, viền nét đen.
- Bố cục: Cân đối, hài hòa. Nhân vật chính được mô phỏng to nhất, đặt ở chính giữa, 2 bên là nhân vật phụ nhỏ hơn. Bên dưỡi là hình ảnh chú voi rất vững chắc, tạo sự uy nghiêm cho bức tranh.
- Đường nét: mềm mại, nhẹ nhàng, phong phú.
3.1, Tranh nhân vật:
3.1.2, Tượng Bếp (cũng gọi là tờ Bếp)
Là những bức tranh in hình ba người ngồi trên trang bếp là bà Thổ Kỳ và hai ông Thổ Công và Thổ Địa; xung quanh là hình các khí dụng, vật phẩm, kẻ hầu người hạ.
- Con ảnh: là những “tờ thế mạng”, gồm ảnh xiêm in hình người đàn ông hoặc đàn bà để cầu đảo để thế mạng cho người lớn, và ảnh phền in hình bé trai hoặc bé gái để thế mạng cho trẻ em.
-Ngoài ra còn có các bộ tranh thờ thần để cầu an cho người như tiên sư, ông Điệu, ông Đốc, bà Thủy, tam vị Phạm Tinh…
-Ngày nay những bức tranh trang trí thuộc đề tài dân gian và tranh bát âm ra đời đã làm phong phú thêm cho tranh làng Sình.
3.1, Tranh nhân vật:
3.2, Tranh súc vật:
- In hình 12 con vật cầm tinh cho thập nhị địa chi trong âm lịch gồm: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
- Tranh in hình các loài gia súc trâu, bò, heo, ngựa,... dùng để cúng tế hoặc treo trong các chuồng trại nuôi gia súc để cầu cho vật nuôi tránh được dịch bệnh, phát triển đầy đàn; - Tranh có hình các linh thú như voi, cọp để dâng cúng nơi các miếu nhằm tỏ lòng thành kính của con người với các loài mãnh thú và cầu mong các mãnh thú này không giáng họa cho người.
3.3, Tranh đồ vật:
- Là những bức tranh in hình các loại áo quần; khí dụng; cung tên;… hoặc các loại tế phẩm như áo ông, áo bà, áo binh có in hoa văn trang trí.
- Thường là tranh cỡ nhỏ, dùng để đốt cho người cõi âm.
4. Chất liệu, kĩ thuật
4.1: Chất liệu:
- Bản khắc được làm từ gỗ mít.
- Giấy in tranh là giấy mộc quét điệp.
- Màu sắc: tạo từ các sản phẩm tự nhiên như :thực vật, kim loại hay từ sò điệp... Một số loại màu pha chế tự nhiên: màu vàng nhẹ (lá đung +búp hòe non), màu xanh ( hoa dành dành + lá mối), màu tím (hạt mồng tơi), màu vàng (hoa hòe), màu đỏ (dễ cây vang, đá son), màu đen (tro rơm nếp )
- Màu chủ yếu trên tranh làng Sình là: xanh dương, vàng, đỏ, đen, lục. Mỗi màu này có thể trộn với hồ điệp hoặc tô riêng, khi tô riêng phải trộn thêm keo nấu bằng da trâu tươi. - Sau này do nhiều nguyên nhân nên màu sắc được tạo nên từ phẩm hóa học.
Làng Sình
4.2, Kĩ thuật in ấn:
- Tranh làng Sình hoàn toàn làm thủ công. Để có một bức tranh phải trải qua đủ 7 công đoạn, từ xén giấy, quét điệp, in tranh trên mộc bản, phơi tranh, pha màu, tô màu, cuối cùng là điểm nhãn. Giấy dó được quét điệp cho dai, giữ màu. Vỏ điệp được nhập từ phá Tam Giang rồi người làm tranh phải tỉ mẩn ngồi giã, nghiền thật nhỏ, trộn với lớp bột gạo thành một lớp mịn quét đều lên giấy.
- Tranh Sình có nhiều loại kích thước tùy thuộc vào khổ giấy dó. Giấy dó cổ truyền có khổ 25x70cm, được xén thành cỡ pha đôi (25x35), pha ba (25x23) hay pha tư (25x17).
- Tranh khổ lớn khi in thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra.
- Với tranh khổ nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên. Bản in đen phải chờ cho khô rồi mới đem tô màu. Màu tô của tranh làng Sình tuy không được tỉa tót và vờn đậm nhạt như tranh Hàng Trống, nhưng mỗi màu đều có chỗ cố định trên tranh, tạo nên sự hòa sắc phù hợp với ý nghĩa từng tranh.
- Điểm nổi bật ở tranh làng Sình là đường nét và bố cục còn mang tính thô sơ chất phác một cách hồn nhiên. Nhưng nét độc đáo nhất của nó lại là ở chỗ tô màu. Khi đó nghệ nhân mới được thả mình theo sự tưởng tượng tự nhiên.
Nghệ nhân làng Sình đang in tranh
5. Kết luận
- Tranh làng Sình mang một tín ngưỡng dân dã, nhưng thông qua chất liệu, màu sắc, chủ đề, đường nét, bố cục, tranh làng Sình đã tạo nên một nét đặc thù, không chỉ trong khía cạnh thẩm mỹ, mà nội dung tranh còn biểu lộ một thái độ, một quan niệm, một nếp sinh hoạt con người ở đây trước thiên nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa của quê hương mình.
- Hiện nay cơ chề thị trường thay đổi, Làng Sình còn rất ít gia đình theo nghề làm tranh. Tiêu biểu còn gia đình nghệ nhân Kỳ Hữu Phước đang sản xuất và lưu giữ nhiều tranh nhất.
- Tranh Làng Sình là dòng tranh duy nhất ở miền Trung đại diện cho tín ngưỡng dân gian của vùng đất Huế, góp phần to lớn làm phong phú cho nền tranh Dân gian Việt nam.
_Giảng viên: Trần thị Tuyết Nhung_
*_Viên Thị Vân ( nhóm trưởng)_ *_Ngô Thị Hoàn_ *_Phan Hữu Hoàng_ *_Nguyễn Tiến Thịnh_ *_Nguyễn Văn Việt_ *_Lê Thị Thủy_ *_Nguyễn Thị Thanh_
_Xin mời cô giáo và các bạn cùng tìm hiểu về Mỹ thuật Tranh Làng Sình!_
MĨ THUẬT
TRANH LÀNG SÌNH
1. Khái quát
3. Các thể loại
5. Kết luận
-Tranh Làng Sình là tranh bản mộc - một dòng tranh dân gian Việt Nam. Tranh sản xuất ở Làng Sình - một làng nằm ven sông Hương ( Huế)
- Nghề làm tranh bắt đầu từ thế kỉ 15 nhưng đến thế kỉ 18 mí thực sự phát triển.
- Theo nghệ nhân Kỳ Hữu Phước thì vào thời các chúa Nguyễn, trong đoàn người Nam tiến lúc bấy giờ vào vùng Thuận Hóa khai hoang lập ấp, ông Kỳ Hữu Hòa mang theo phương pháp làm tranh giấy mộc bản để mưu sinh. Tranh làng Sình ra đời từ đó.
4.2, Kĩ thuật in ấn:
- Tranh Sình có nhiều loại kích thước tùy thuộc vào khổ giấy dó. Giấy dó cổ truyền có khổ 25x70cm, được xén thành cỡ pha đôi (25x35), pha ba (25x23) hay pha tư (25x17).
- Tranh khổ lớn khi in thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra.
- Tranh khổ nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên.
- Bản in đen phải chờ cho khô rồi mới đem tô màu.
-Tranh làng Sình: Được sủ dụng với mục đích cúng lễ, đặc trưng cho tín ngưỡng dân gian Huế .
- Tranh được in thủ công hoặc vẽ bằng tay.
- Tranh làng Sình: có chất liệu dân giã, đường nét, màu sắc mộc mạc. Màu chủ yếu trên tranh làng Sình là: xanh dương, vàng, đỏ, đen, lục.
- Tranh Làng Sình khác với các dòng tranh khác bởi nó được làm không cầu kì, được sản xuất theo bộ tranh, mục đích dung để thờ cúng.
- Người ta kiêng không cất giữ những bức tranh này lâu trong nhà, nên ngày nay nhiều bức tranh đã bị thất truyền.
4.1: Chất liệu:
- Bản khắc được làm từ gỗ mít.
- Giấy in tranh là giấy mộc quét điệp.
- Màu sắc: Ngày xưa được tạo từ các sản phẩm tự nhiên như :thực vật, kim loại hay từ sò điệp... Một số loại màu pha chế tự nhiên: màu vàng nhẹ (lá đung +búp hòe non), màu xanh ( hoa dành dành + lá mối), màu tím (hạt mồng tơi), màu vàng (hoa hòe), màu đỏ (dễ cây vang, đá son), màu đen (tro rơm nếp )
- Sau này do nhiều nguyên nhân nên màu sắc được tạo nên từ phẩm hóa học, giấy gió cũng được thay bằng 1 loại giấy mỏng khác đẽ kiếm hơn.
3.1, Tranh nhân vật:
Gồm các loại tượng Bà, tượng Bếp; con ảnh; ông Điệu, ông Đốc...
- Tượng Bà là những bức tranh thờ treo trên xà nhà, gọi là trang bổn mạng. Bà sẽ là người giúp đỡ và giải hạn cho nữ gia chủ. Là hình ảnh một nữ nhân cưỡi trên lưng voi hoặc ngồi trên một đài cao. ở trong một khung hình chữ nhật, phía sau có hai thị nữ cầm quạt đứng hầu
- Tượng Bếp (tờ Bếp): in hình Thổ Kỳ và hai ông Thổ Công và Thổ Địa; xung quanh là hình các khí dụng, vật phẩm, kẻ hầu người hạ.
- Con ảnh: là những “tờ thế mạng”, gồm ảnh xiêm in hình người đàn ông hoặc đàn bà để cầu đảo để thế mạng cho người lớn, và ảnh phền in hình bé trai hoặc bé gái để thế mạng cho trẻ em.
-Ngoài ra còn có các bộ tranh thờ thần để cầu an cho người như tiên sư, ông Điệu, ông Đốc, bà Thủy, tam vị Phạm Tinh…
-Ngày nay những bức tranh trang trí thuộc đề tài dân gian và tranh bát âm ra đời đã làm phong phú thêm cho tranh làng Sình.
- Tranh làng Sình mang một tín ngưỡng dân dã, nhưng thông qua chất liệu, màu sắc, chủ đề, đường nét, bố cục, tranh làng Sình đã tạo nên một nét đặc thù, không chỉ trong khía cạnh thẩm mỹ, mà nội dung tranh còn biểu lộ một thái độ, một quan niệm, một nếp sinh hoạt con người ở đây trước thiên nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa của quê hương mình.
- Hiện nay cơ chề thị trường thay đổi, Làng Sình còn rất ít gia đình theo nghề làm tranh. Tiêu biểu còn gia đình nghệ nhân Kỳ Hữu Phước đang sản xuất và lưu giữ nhiều tranh nhất.
- Tranh Làng Sình là dòng tranh duy nhất ở miền Trung đại diện cho tín ngưỡng dân gian của vùng đất Huế, góp phần to lớn làm phong phú cho nền tranh Dân gian Việt nam.
2. Đặc điểm chung
3.2, Tranh con vật
- In hình 12 con vật cầm tinh cho thập nhị địa chi trong âm lịch gồm: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
- Tranh in hình các loài gia súc trâu, bò, heo, ngựa,... dùng để cúng tế hoặc treo trong các chuồng trại nuôi gia súc để cầu cho vật nuôi tránh được dịch bệnh, phát triển đầy đàn; - Tranh có hình các linh thú như voi, cọp để dâng cúng nơi các miếu nhằm tỏ lòng thành kính của con người với các loài mãnh thú và cầu mong các mãnh thú này không giáng họa cho người.
3.3, Tranh đồ vật:
- Là những bức tranh in hình các loại áo quần; khí dụng; cung tên;… hoặc các loại tế phẩm như áo ông, áo bà, áo binh có in hoa văn trang trí.
- Thường là tranh cỡ nhỏ, dùng để đốt cho người cõi âm
4. Chất liệu,
kĩ thuật NHÓM 8
TRANH LÀNG SÌNH
www.PowerPointep.net
1. Khái quát
5. Kết luận
4. Chất liệu, kĩ thuật
2. Đặc điểm chung
3. Các thể loại tranh
Làng Sình
1. Khái quát
-Tranh Làng Sình là tranh bản mộc - một dòng tranh dân gian Việt Nam. Tranh sản xuất ở Làng Sình - một làng nằm ven sông Hương ( Huế)
- Nghề làm tranh bắt đầu từ thế kỉ 15 nhưng đến thế kỉ 18 mí thực sự phát triển.
- Theo nghệ nhân Kỳ Hữu Phước thì vào thời các chúa Nguyễn, trong đoàn người Nam tiến lúc bấy giờ vào vùng Thuận Hóa khai hoang lập ấp, ông Kỳ Hữu Hòa mang theo phương pháp làm tranh giấy mộc bản để mưu sinh. Tranh làng Sình ra đời từ đó.
2. Đặc điểm chung
-Tranh làng Sình: Được sủ dụng với mục đích cúng lễ, đặc trưng cho tín ngưỡng dân gian Huế .
- Tranh được in thủ công hoặc vẽ bằng tay.
- Tranh làng Sình: có chất liệu dân giã, đường nét, màu sắc mộc mạc. Màu chủ yếu trên tranh làng Sình là: xanh dương, vàng, đỏ, đen, lục.
- Tranh Làng Sình khác với các dòng tranh khác bởi nó được làm không cầu kì, được sản xuất theo bộ tranh, mục đích dung để thờ cúng.
- Người ta kiêng không cất giữ những bức tranh này lâu trong nhà, nên ngày nay nhiều bức tranh đã bị thất truyền.
3. Các thể loại tranh
- Tranh Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng, có khoảng 50 đề tài tranh. Các đề tài tranh chủ yếu phản ánh tín ngưỡng cổ xưa. Ngoài các đề tài về tín ngưỡng, phục vụ thờ cúng còn có tranh Tố Nữ [cần chú thích], tranh tả cảnh sinh hoạt xã hội... - Tranh phục vụ tín ngưỡng có thể chia làm ba loại: Tranh nhân vật; Trang súc vật; Tranh đồ vật.
3.1, Tranh nhân vật:
3.1.1, Tranh Tượng Bà
- Là những bức tranh thờ trên những chiếc trang bà treo trên xà nhà, gọi là trang bổn mạng. Bà sẽ là người giúp đỡ và giải hạn cho nữ gia chủ. Bà bổn mạng trên tranh Sình thường được thể hiện trong hình tướng của một nữ nhân cưỡi trên lưng voi, ở trong một khung hình chữ nhật, phía sau có hai thị nữ cầm quạt đứng hầu, hoặc chỉ cưỡi voi và có thị nữ hầu cận, hay ngồi trên một đài cao.
- Màu sắc: chủ đạo là màu tím, đỏ, hồng, vàng, xanh, viền nét đen.
- Bố cục: Cân đối, hài hòa. Nhân vật chính được mô phỏng to nhất, đặt ở chính giữa, 2 bên là nhân vật phụ nhỏ hơn. Bên dưỡi là hình ảnh chú voi rất vững chắc, tạo sự uy nghiêm cho bức tranh.
- Đường nét: mềm mại, nhẹ nhàng, phong phú.
3.1, Tranh nhân vật:
3.1.2, Tượng Bếp (cũng gọi là tờ Bếp)
Là những bức tranh in hình ba người ngồi trên trang bếp là bà Thổ Kỳ và hai ông Thổ Công và Thổ Địa; xung quanh là hình các khí dụng, vật phẩm, kẻ hầu người hạ.
- Con ảnh: là những “tờ thế mạng”, gồm ảnh xiêm in hình người đàn ông hoặc đàn bà để cầu đảo để thế mạng cho người lớn, và ảnh phền in hình bé trai hoặc bé gái để thế mạng cho trẻ em.
-Ngoài ra còn có các bộ tranh thờ thần để cầu an cho người như tiên sư, ông Điệu, ông Đốc, bà Thủy, tam vị Phạm Tinh…
-Ngày nay những bức tranh trang trí thuộc đề tài dân gian và tranh bát âm ra đời đã làm phong phú thêm cho tranh làng Sình.
3.1, Tranh nhân vật:
3.2, Tranh súc vật:
- In hình 12 con vật cầm tinh cho thập nhị địa chi trong âm lịch gồm: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
- Tranh in hình các loài gia súc trâu, bò, heo, ngựa,... dùng để cúng tế hoặc treo trong các chuồng trại nuôi gia súc để cầu cho vật nuôi tránh được dịch bệnh, phát triển đầy đàn; - Tranh có hình các linh thú như voi, cọp để dâng cúng nơi các miếu nhằm tỏ lòng thành kính của con người với các loài mãnh thú và cầu mong các mãnh thú này không giáng họa cho người.
3.3, Tranh đồ vật:
- Là những bức tranh in hình các loại áo quần; khí dụng; cung tên;… hoặc các loại tế phẩm như áo ông, áo bà, áo binh có in hoa văn trang trí.
- Thường là tranh cỡ nhỏ, dùng để đốt cho người cõi âm.
4. Chất liệu, kĩ thuật
4.1: Chất liệu:
- Bản khắc được làm từ gỗ mít.
- Giấy in tranh là giấy mộc quét điệp.
- Màu sắc: tạo từ các sản phẩm tự nhiên như :thực vật, kim loại hay từ sò điệp... Một số loại màu pha chế tự nhiên: màu vàng nhẹ (lá đung +búp hòe non), màu xanh ( hoa dành dành + lá mối), màu tím (hạt mồng tơi), màu vàng (hoa hòe), màu đỏ (dễ cây vang, đá son), màu đen (tro rơm nếp )
- Màu chủ yếu trên tranh làng Sình là: xanh dương, vàng, đỏ, đen, lục. Mỗi màu này có thể trộn với hồ điệp hoặc tô riêng, khi tô riêng phải trộn thêm keo nấu bằng da trâu tươi. - Sau này do nhiều nguyên nhân nên màu sắc được tạo nên từ phẩm hóa học.
Làng Sình
4.2, Kĩ thuật in ấn:
- Tranh làng Sình hoàn toàn làm thủ công. Để có một bức tranh phải trải qua đủ 7 công đoạn, từ xén giấy, quét điệp, in tranh trên mộc bản, phơi tranh, pha màu, tô màu, cuối cùng là điểm nhãn. Giấy dó được quét điệp cho dai, giữ màu. Vỏ điệp được nhập từ phá Tam Giang rồi người làm tranh phải tỉ mẩn ngồi giã, nghiền thật nhỏ, trộn với lớp bột gạo thành một lớp mịn quét đều lên giấy.
- Tranh Sình có nhiều loại kích thước tùy thuộc vào khổ giấy dó. Giấy dó cổ truyền có khổ 25x70cm, được xén thành cỡ pha đôi (25x35), pha ba (25x23) hay pha tư (25x17).
- Tranh khổ lớn khi in thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra.
- Với tranh khổ nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên. Bản in đen phải chờ cho khô rồi mới đem tô màu. Màu tô của tranh làng Sình tuy không được tỉa tót và vờn đậm nhạt như tranh Hàng Trống, nhưng mỗi màu đều có chỗ cố định trên tranh, tạo nên sự hòa sắc phù hợp với ý nghĩa từng tranh.
- Điểm nổi bật ở tranh làng Sình là đường nét và bố cục còn mang tính thô sơ chất phác một cách hồn nhiên. Nhưng nét độc đáo nhất của nó lại là ở chỗ tô màu. Khi đó nghệ nhân mới được thả mình theo sự tưởng tượng tự nhiên.
Nghệ nhân làng Sình đang in tranh
5. Kết luận
- Tranh làng Sình mang một tín ngưỡng dân dã, nhưng thông qua chất liệu, màu sắc, chủ đề, đường nét, bố cục, tranh làng Sình đã tạo nên một nét đặc thù, không chỉ trong khía cạnh thẩm mỹ, mà nội dung tranh còn biểu lộ một thái độ, một quan niệm, một nếp sinh hoạt con người ở đây trước thiên nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa của quê hương mình.
- Hiện nay cơ chề thị trường thay đổi, Làng Sình còn rất ít gia đình theo nghề làm tranh. Tiêu biểu còn gia đình nghệ nhân Kỳ Hữu Phước đang sản xuất và lưu giữ nhiều tranh nhất.
- Tranh Làng Sình là dòng tranh duy nhất ở miền Trung đại diện cho tín ngưỡng dân gian của vùng đất Huế, góp phần to lớn làm phong phú cho nền tranh Dân gian Việt nam.
 








Các ý kiến mới nhất