Tìm kiếm Bài giảng
Bài 11. Bếp lửa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thanh Lĩnh
Ngày gửi: 17h:36' 10-11-2022
Dung lượng: 87.1 MB
Số lượt tải: 650
Nguồn:
Người gửi: Lê Thanh Lĩnh
Ngày gửi: 17h:36' 10-11-2022
Dung lượng: 87.1 MB
Số lượt tải: 650
Số lượt thích:
0 người
Hãy quan sát tranh ảnh và cho biết nội dung bức tranh là gì?
Cục… cục tác cục
ta
Trong chương trình Ngữ Văn
THCS em đã được học bài thơ nào
có hai hình ảnh trên? Của tác giả
nào? Nội dung bài thơ?
- Tiếng gà trưa– Xuân Quỳnh
- Viết về tình cảm bà, cháu.
Em hãy đọc những câu thơ có
hai hình ảnh trên ?
Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tay bà khum soi trứng
Dành từng quả chắt chiu
Cho con gà mái ấp
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả
- Bằng Việt, tên KS: Nguyễn Việt Bằng – sinh năm
1941, quê: Thạch Thất, Hà Tây.
- Làm thơ từ đầu những năm 60 và thuộc thế hệ các
nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ k/c chống Mỹ.
- Hiện nay ông là chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ
thuật Hà Nội.
- Đề tài : Chủ yếu khái thác những kỉ niệm và ước mơ
của tuổi trẻ nên thường gần gũi với bạn độc trẻ tuổi nhất
là trong các nhà trường.
- Phong cách sáng tác : Thơ trong trẻo, mượt mà mang
giọng điệu thủ thỉ, tâm tình ; ngôn ngữ điềm đạm ; cấu
tứ mạch lạc và hệ thống thi ảnh đặc sắc.
TP chính: - Hương cây - Bếp lửa (cùng tg Lưu Quang Vũ) ;
- Những gương mặt những khoảng trời (1973) ;
- Cát sáng (1983)…
2. Tác phẩm:
Nhà thơ Bằng Việt trả lời phỏng vấn hoàn cảnh và
cảm xúc khi viết bài thơ
“…Những năm đầu theo học Luật tại đây
tôi nhớ nhà kinh khủng. Tháng 9 ở bên đó
trời se se lạnh, buổi sáng sương khói bay
mờ mờ mặt đất, ngoài cửa sổ, trên các vòm
cây gợi cảnh mùa đông ở quê nhà. Mỗi
buổi dậy sớm đi học, tôi hay nghĩ đến hình
ảnh một bếp lửa thân quen, nhớ tới hình
ảnh bà nội lụi cụi dậy sớm nấu nồi xôi, luộc
củ khoai, củ sắn cho cả nhà…” Đây cũng
chính là nguồn khơi mạch cảm xúc cho
Bằng Việt viết bài thơ “Bếp lửa”.
a. Xuất xứ:
- Bài thơ ra đời 1963, khi tác giả đang là
du học sinh ngành Luật ở Liên Xô và bắt
đầu đến với thơ.
- In trong tập “Hương cây – Bếp lửa”
(1968 – cùng tg Lưu Quang Vũ)
Bà nội tôi là một phụ nữ nông dân
chân chất, bình dị. Với tôi, bà là hiện
thân của sự cần cù, nhẫn nại và đức hi
sinh.
"Tôi viết bài thơ Bếp lửa năm 1963, lúc đang học năm
thứ 2 Đại học tổng hợp Quốc gia Kiev (Ukarina). Mùa Đông
nước Nga rất lạnh, phải đốt lò để sưởi. Ngồi sưởi lửa tôi
bỗng nhớ đến “Bếp lửa” quê nhà, nhớ bà tôi, nhớ người
nhóm bếp. Xa bà, xa gia đình khi đã trưởng thành tức là có
độ lùi xa để nhớ và suy ngẫm những giá trị tinh thần nên bài
thơ viết rất nhanh. Viết “Bếp lửa” tôi chỉ muốn giảy bày tâm
trạng thật của lòng mình.”
BẾP LỬA
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
“ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng….
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
(Bằng Việt- 1963)
- Chiến
khu: Vùng căn cứ của lực lượng cách
mạng hay lực lược kháng chiến
b. Đọc, tìm hiểu thể thơ, PTBĐ :
Thể thơ tự do
* Phương thức biểu đạt : Biểu cảm (kết hợp tự sự, miêu tả)
* Chủ đề: Bài thơ gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình
bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người
cháu đối với bà, cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.
* Ý nghĩa nhan
đề :
- “Bếp lửa” là một h/a độc đáo, sáng tạo, xuất hiện nhiều lần trong bài thơ, vừa
mang ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng :
- Trước hết, đây là một bếp lửa thực, quen thuộc, gần gũi trong mỗi gia đình của
người Việt. Đồng thời, đó là h/a gắn với kỉ niệm ấu thơ về một người bà cụ thể, có
thật của tác giả.
- Bếp lửa là biểu tượng mang ý nghĩa ẩn dụ giàu ý nghĩa :
+ Bếp lửa gợi lên sự tần tảo, chăm sóc, yêu thương của bà dành cho cháu
trong những năm tháng đói nghèo, chiến tranh để trưởng thành.
+ Bếp lửa gợi lên bao vất vả, cực nhọc của đời bà. Song bà nhóm bếp lửa
cũng chính là nhóm lên sự sống, niềm vui, niềm tin và hi vọng cho cháu.
+ Bếp lửa còn là biểu tượng của cội nguồn gia đình, quê hương, đất nước, …
đã nâng bước người cháu trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.
c. Mạch cảm xúc, bố cục bài thơ
- Bài thơ là lời tâm sự của người cháu hiếu thảo ở phương xa gửi về
người bà.
- Bài thơ được mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỷ
niệm tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làm hiện lên hình ảnh bà với
sự chăm sóc, lo toan, vât vả và tình yêu thương trìu mến dành cho đứa
cháu. Từ những kỷ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và
thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản dị mà cao quý của bà. Cuối
cùng, người cháu muốn gửi niềm mong nhớ về với bà.
-> Mạch cảm xúc bài thơ đi từ hồi tưởng về quá khứ đến hiện tại,
từ kỷ niệm đến suy ngẫm. Từ đó diễn tả niềm kính yêu vô hạn và
những suy ngẫm sâu sắc của người cháu về bà và bếp lửa quê hương.
Bố cục: 4 phần
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm,
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Hình ảnh bếp lửa
khơi nguồn cảm
xúc kỉ niệm về bà
Bếp lửa (Bằng Việt)
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói,
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy.
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay !
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi,
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh.
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên !”.
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa.
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế,
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn,
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế !
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Những kỉ niệm tuổi thơ
Tu hú ơi !chẳng đến ở cùng bà,
sống bên bà.
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ,
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui,
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,
Nhưng vẫn chẳng bao giờ quên nhắc nhở:
- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
Suy ngẫm về cuộc
đời bà và hình ảnh
bếp lửa.
Nỗi nhớ của người
cháu về bà và bếp
lửa.
* Hình ảnh nổi bật trong bài thơ
- Hình ảnh người bà
- Bếp lửa
Đây là hai hình ảnh nổi bật,
gắn bó mật thiết với nhau, vừa
tách bạch vừa hòa lẫn trong
nhau, tỏa sáng bên nhau.
II. Phân tích:
1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn kí ức tuổi thơ và bà
Hình ảnh xuất hiện đàu
bài thơ là gì? Tác giả đã
sử dụng NT gì để gợi lên
hình ảnh đó? Tác dụng?
Em hiểu gì về 2 câu
thơ: “Một bếp lửa chờn
vờn sương sớm/ Một bếp
lửa ấp iu nồng đượm”?
Từ hình ảnh bếp lửa,
người cháu đã có cảm
xúc như thế nào ở câu
thơ thứ ba?
- Ba tiếng “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần, trở
thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu
lắng, khẳng định h/a “bếp lửa” như một dấu ấn không
bao giờ phai mờ trong tâm tưởng của nhà thơ.
- “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” là h/a quen thuộc
đối với mỗi gia đình Việt Nam. H/a bếp lửa thật ấm
áp giữa cái lạnh chờn vờn “sương sớm” thật thân
thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”.
+ Từ láy “chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi
thương đến dáng hình bập bùng, chập chờn của
ngọn lửa trong kí ức.
+ “Ấp iu” gợi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm
lòng chi chút của người nhóm lửa, lại rất chính
xác với công việc nhóm bếp cụ thể.
- H/a bếp lửa đã làm trỗi dậy tình yêu thương: “Cháu
thương bà biết mấy nắng mưa”. Tình thương tràn đầy
của cháu được bộc lộ trực tiếp và giản dị. Đằng sau sự
giản dị ấy là cả một tấm lòng, một sự thấu hiểu đến tận
cùng những vất vả, nhọc nhằn, lam lũ của đời bà.
Khái quát nội dung, ý
nghĩa của ba dòng thơ
đầu?
Ở phần thứ hai của bài
thơ, tác giả đã nêu lên
những kỉ niệm nào của
tuổi thơ? Em hãy gọi tên
các kỉ niệm ấy?
=> Ba dòng thơ đầu diễn tả cảm xúc đang
dâng lên cùng với những kí ức, hồi tưởng
của tác giả về bếp lửa, về bà, là sự khái
quát tình cảm của người cháu với cuộc
đời lam lũ của người bà.
- Kỉ niệm năm lên bốn tuổi gắn với
nạn đói năm 1945;
- Kỉ niệm tám năm ở cùng bà trong
nỗi thiếu vắng cha mẹ;
- Kỉ niệm gắn với nỗi lo sợ hãi hùng
trước nạn giặc tàn phá xóm làng.
2. Những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà và bếp lửa
a. Kỉ niệm năm lên bốn tuổi gắn với nạn đói
năm 1945;
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại giờ sống mũi còn cay!
Kí ức đưa nhân vật trở về những năm “đói mòn đói mỏi” của nạn đói
năm 1945: “cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên). Thành ngữ
“đói mòn đói mỏi” – cái đói kéo dài làm mỏi mệt, kiệt sức; con ngựa gầy
rạc cùng với người bố đánh xe chắc cũng gầy khô… Giọng thơ trĩu xuống,
nao nao lòng người đọc
“Năm Ất Dậu tháng ba còn nhớ mãi
Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!
Những thây ma thất thểu đầy đường,
Rồi ngã gục không đứng lên vì… đói!”
Ta nhớ mãi cái thời kỳ đen tối!
Quên làm sao tội lỗi kẻ xâm lăng!
Quên làm sao mối thù hận khôn cùng!
Quên sao được hai triệu người chết đói!
Đói tự Bắc Giang, đói về Hà Nội
Đói ở Thái Bình, đói tới Gia Lâm
Khắp đường xa những xác đói rên nằm
Trong nắng lửa trong bụi lầm co quắp
Giữa đống trẻ chỉ còn đôi hố mắt
Đọng chút hồn sắp tắt của thây ma;
Những cánh tay gầy quờ quạng khua khua
Như muốn bắt những gì vô ảnh,
Dưới mái tóc rối bù và kết bánh
Một làn da đen sạm bọc xương đầu
Răng nhe ra như những chiếc đầu lâu
Má hóp lại, răng hằn sâu gớm ghiếc
Già trẻ gái trai không còn phân biệt,
Họ giống nhau như là những thây ma,
Như những bộ xương còn dính chút da
Chưa chết đã bốc xa mùi tử khí!
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại giờ sống mũi còn cay!
-> Nỗi ám ảnh về những năm tháng tuổi thơ gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn.
- Hình ảnh đậm chất hiện thực: - ”Đói mòn đói mỏi”, “khô rạc ngựa gầy”-
những chi tiết thơ đậm chất hiện thực đã tái hiện lại hình ảnh xóm làng
xơ xác, tiêu điều cùng những con người tiều tụy, vật lộn mưu sinh. Không
trải qua cái đói quay, đói quắt thì Bằng Việt chẳng thể viết được những
câu thơ chân thực đến thế!
- Ấn tượng nhất đối với cháu trong những năm đói khổ là mùi khói bếp
- mùi khói đã hun nhèm mắt cháu, còn là cái cay bởi xúc động của người
cháu đã trưởng thành khi nhớ về bà. Quá khứ và hiện tại đồng hiện trên
những dòng thơ. Điều này cho thấy, mùi khói bếp của bà có sức ám ảnh,
làm lay động cả thế chất và tâm hồn cháu.
-> Nhớ cái đói là nhớ về một thời ấu thơ cơ cực, gian khổ, nhọc nhằn
thiếu thốn trăm bề.
b. Kỉ niệm tám năm ở cùng bà trong nỗi thiếu vắng cha mẹ;
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
Nhóm bếp lửa nghĩa thương bà khó
nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Trong tám năm sống cùng bà, cháu
nhận dược sự yêu thương chăm sóc
của bà như thế nào?
- Tám năm ròng cháu sống cùng bà
– tám năm cháu nhận được sự che
chở, chăm sóc nuôi dưỡng của bà.
Tám năm ấy, cháu sống cùng bà vất
vả, khó khăn nhưng đầy tình yêu
thương.
- Kháng chiến bùng nổ, “Mẹ cùng cha
công tác bận không về”, bà vừa là cha,
vừa là mẹ: “bà bảo cháu nghe - Bà dạy
cháu làm, bà chăm cháu học”.
- Chính bà là người đã nuôi dưỡng,
dạy dỗ cháu nên người. Bà hay kể
chuyện những ngày ở Huế để nhắc
nhở cháu về truyền thống gia đình, về
những đau thương mất mát và cả
những chiến công của dân tộc. Bà
luôn bên cháu, dạy dỗ, chăm sóc cho
cháu lớn lên.
Liệt kê những từ ngữ thể hiện sâu
sắc tình thương yêu của bà đối với
cháu?
- Một loạt các từ ngữ “bà bảo”, ”bà
dạy”, ”bà chăm” vừa diễn tả một cách
sâu sắc tình thương bao la, sự chăm
chút hết mình của bà dành cho cháu.
Em có nghĩ gì về vai trò của bếp
lửa và người bà đối với cháu?
- Đồng thời thể hiện lòng biết ơn
của cháu đối với bà -. Tình yêu và
lòng kính trọng bà được thể hiện thật
chân thành, sâu sắc: “Nhóm bếp lửa
nghĩ thương bà khó nhọc”.
Bếp lửa của tình bà, bếp lửa của
quê hương lại gợi thêm trong cháu
những gì của tuổi thơ ?
- Bà và bếp lửa là chỗ dựa tinh
thần, là sự chăm chút, đùm bọc
dành cho cháu.
Em có suy nghĩ
gì về tiếng chim tu
hú trong kí ức của
nhà thơ?
Em có suy nghĩ
gì về hai câu thơ:
“Tu hú ơi chẳng
đến ở cùng bà –
Kêu chi hoài trên
những cánh đồng
xa”
Bếp lửa của quê hương, bếp lửa của tình bà lại gợi thêm
một kỉ niệm tuổi thơ – kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú
trên đồng quê mỗi độ hè về:
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trênnhững cánh đồng xa?
- Tiếng chim tu hú – âm thanh quen thuộc của làng quê
Việt Nam mỗi độ hè về, báo hiệu mùa lúa chín vàng đồng,
vải chín đỏ cây
- Câu hỏi tu từ “Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà – Kêu chi
hoài trên những cánh đồng xa” mới thấm thía làm sao, xót
xa làm sao! Nó diễn tả nỗi lòng da diết của tác giả khi
nhớ về tuổi thơ, nhớ về bà.
=> Những câu thơ như lời đối thoại tâm tình, cháu trò
chuyện với bà trong tâm tưởng, cháu trò chuyện với
chim tu hú trong tình yêu thương. Và tất cả đều là sự
bộc bạch của cháu dành cho người bà kính yêu. -- H/a của bà, h/a của bếp lửa và âm thanh của chim tu hú
vang vọng trong một không gian mênh mông khiến cả bài
thơ nhuốm phủ sắc màu bàng bạc của không gian hoài
niệm, của tình bà cháu đẹp như trong chuyện cổ tích.
c. Kỉ niệm gắn với nỗi lo sợ hãi hùng trước nạn giặc tàn phá
xóm làng.
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh :
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa long bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…
Thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem
đến cảm nhận gì về hình ảnh làng
quê ta lúc bấy giờ?
- Thành ngữ “cháy tàn cháy
rụi” đem đến cảm nhận về hình ảnh
làng quê hoang tàn trong khói lửa
của chiến tranh -> chi tiết mang đậm
chất hiện thực.
- Trong sự tàn phá hủy diệt ấy là sự
cưu mang, đùm bọc của xóm làng
đối với hai bà cháu- truyền thống
đùm bọc nhân ái cao đẹp của dân tộc
ta <-> tình người đã tỏa sáng.
- Điều khiến cháu xúc động nhất là
h/a bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi
để trải qua những năm tháng gian
nan, đau khổ mà không hề kêu ca,
phàn nàn. Bà mạnh mẽ, kiên cường
trước hiện thực ác liệt.
? Điều chúng ta nói trên
thể hiện qua lời dặn nào
của bà? Lời dặn ấy khiến
chúng ta suy nghĩ gì?
- Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm
ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ
nữ giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh:
“Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”
? Đến đây các em có suy
nghĩ gì về hình ảnh bà đối
với con cháu cũng như với
quê hương đất nước?
- Vậy là bà đã gồng mình gánh vác mọi
lo toan để các con yên tâm công tác. Bà
không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ,
là điểm tựa cho các con đang chiến đấu
mà còn là hậu phương vững chắc cho cả
tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc
kháng chiến chung của dân tộc. Tình
cảm bà cháu hòa quyện trong tình yêu
quê hương, Tổ quốc.
- Bà là hiện thân cụ thể nhất, sinh động nhất cho hậu phương lớn.
Trong nhiều gia đình Việt Nam, do nhiều cảnh ngộ khác nhau, mà vai trò
của người bà – bà nội, bà ngoại – đã thay thế vai trò của người mẹ hiền.
Sống trong những năm dài chiến tranh, thế nhưng bà vẫn vững lòng
trước mọi tai hoạ, thử thách.
- Các từ ngữ như “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả một cách
sâu sắc tấm lòng đôn hậu, tình thương bao la, sự chăm chút của bà đối
với cháu nhỏ. Chữ”bà” và chữ “cháu” được điệp lại 4 lần gợi tả tình bà
cháu quấn quýt yêu thương.
- Được sống trong tình thương là hạnh phúc. Người cháu trong bài
thơ “bếp lửa” tuy phải sống xa cha mẹ, tuy gặp nhiều thiếu thốn khó
khăn, nhưng em thật hạnh phúc khi được sống trong vòng tay yêu
thương của bà.
-> Bà tần tảo, giàu đức hy sinh
-> Tình yêu bà, yêu bếp lửa, yêu quê hương đất nước
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Vì sao mà tấm lòng
người bà chứa đựng được
biết bao điều như vậy ?
Em có suy nghĩ gì về
cụm từ “Rồi sớm rồi
chiều”?
Trong ký ức của cháu,
giờ đây bếp lửa đã có sự
thay đổi như thế nào? Sự
thay đổi đó có ý nghĩa gì?
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…
- Tấm lòng bà chứa đựng biết bao điều
vì trong tấm lòng đó luôn âm ỉ một ngọn lửa:
- “Rồi sớm rồi chiều” ẩn chứa cả một
dòng thời gian âm ỉ, dai dẳng mang theo cả
cuộc đời bà, mang theo bao tâm tình của
đứa cháu phương xa.
- Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể, tác giả đã
nâng lên thành “ngọn lửa” mang ý nghĩa
khái quát, tượng trưng
- “Bếp lửa” với những ấm áp, bình dị của
tình cảm gia đình, của tình bà cháu đã bùng
lên thành “ngọn lửa” của niềm tin và sức
sống cho các thế hệ mai sau.
- Điệp từ “một ngọn lửa” càng khẳng định đó chính là cội nguồn của bao
yêu thương, của những tần tảo hy sinh nơi bà.
- Trong h/a “lòng bà luôn ủ sẵn”, người đọc cảm nhận được một ngọn
lửa không bao giờ tắt qua năm tháng, một ngọn lửa bất diệt từ trong
chính trái tim bà
=> Bà không để lại cho con cháu những giá trị vật chất thông thường mà
là một điều quý giá hơn gấp bội : ngọn lửa của sự sống. Khái quát lên, bà
là hiện thân cho vẻ đẹp thiêng liêng của người giữ lửa, truyền lửa.
Từ ngọn lửa ấm nóng ấy, nhà thơ mở ra những suy ngẫm về cuộc đời
bà
3. Suy ngẫm về cuộc đời bà và hình ảnh bếp lửa
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Từ láy lận đận là suy ngẫm
của cháu về bà; điều này
gợi cho em suy nghĩ gì?
? Cụm từ “Mấy chục năm
rồi”, kết hợp với cụm từ
“thói quen dậy sớm” cho
em hiểu gì về cuộc đời bà?
- “Lận đận” - từ láy gợi hình với hai thanh
trắc đã diễn tả cả cuộc đời vất vả của bà, kết
hợp với “biết mấy nắng mưa” - ẩn dụ để chỉ
những thăng trầm của cuộc sống càng làm
đậm thêm đức hy sinh cần mẫn của bà
- “Mấy chục năm rồi”, lời thơ kể mà như đếm,
gợi lên cả một tuổi thanh xuân, cả một đời
người thức khuya dậy sớm gắn liền với khói
bếp cay nồng. Ấy vậy mà trong “thói quen dậy
sớm” ta cảm nhận được sự tần tảo, đức hy
sinh vẫn nguyên vẹn như thuở nào.
? Điệp từ “nhóm” được nhắc đi nhắc lại 4 lần có ý nghĩa gì?
- Điệp ngữ “nhóm” được nhắc lại bốn lần với những ý nghĩa phong phú,
gợi nhiều liên tưởng. Từ hành động, bà đã nhóm dậy những gì thiêng
liêng, cao quý nhất của con người. Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai là nhóm
lên:
NHÓM
Bếp lửa ấp iu
Niềm yêu thương
khoai sắn ngọt bùi
nồng đượm
Sưởi ấm cho
bà và cháu
Chăm sóc cho
cháu
Nồi xôi gạo mới
sẻ chung vui
Chia sẻ tình
làng nghĩa xóm
Những tâm
tình tuổi nhỏ
Khơi dậy trong
cháu những tình
cảm tốt đẹp
- Điệp từ vừa có ý nghĩa cụ thể vừa có ý nghĩa biểu tượng
- Ca ngợi bà là người nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa.
Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!
Câu cảm thán
Bình dị mà cao quý
Bếp lửa
Thân thuộc mà lạ kì
Gắn liền với hình ảnh người bà
4. Nỗi nhớ khôn nguôi về bà và bếp lửa
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?...
- Dòng thơ đầu có dấu chấm giữa dòng được ngắt thành hai câu->khép lại dòng hồi
tưởng
- Điệp từ “trăm”, “có” kết hợp với thủ pháp liệt kê “khói trăm tàu”, “ lửa trăm nhà”,
“niềm vui trăm ngả” => Cho thấy người cháu đã có những thay đổi lớn trong cuộc
đời, đã tìm được bao niềm vui mới; Khẳng định đứa cháu không thể quên được ngọn
lửa của bà, tấm lòng đùm bọc, ấp iu của bà. Ngọn lửa ấy đã thành kỉ niệm ấm lòng,
thành niềm tin thiêng liêng, kì diệu nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài.
- Câu hỏi tư từ và dấu chấm lửng cuối bài thơ: Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?…
-> Ở nơi xa cháu vẫn nhớ về bà – nhớ về quá khứ, về cội nguồn, về quê hương đất
nước.
->Khổ thơ chứa đựng đạo lí thủy chung, cao đẹp bao đời của người
Việt: “uống nước nhớ nguồn”. Đạo lí ấy được nuôi dưỡng ở mỗi tâm
hồn con người từ thuở ấu thơ, để rồi như chắp cánh để mỗi người bay
cao, bay xa trên hành trình cuộc đời.
=> Từ những suy ngẫm của người cháu, bài thơ biểu hiện một triết
lí sâu sắc: Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có
sức lan tỏa sáng, nâng bước con người trong suốt hành trình dài
rộng của cuộc đời. Tình yêu đất nước, bắt nguồn từ lòng yêu quý
ông bà, cha mẹ, từ những gì gẫn gũi và bình dị nhất.
III. Tổng kết
1. Nội dung:
Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài
thơ Bếp lửa gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình
bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và thể hiện lòng
biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê
hương, đất nước.
2. Nghệ thuật:
Bài thơ đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự
và bình luận .Thể thơ 8 chữ kết hợp với 7 chữ, 9 chữ phù hợp với
việc diễn tả dòng cảm xúc và suy ngẫm về bà.Giọng điệu tâm tình,
thiết tha, tự nhiên, chân thành. Thành công của bài thơ còn ở sự
sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm
tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc và suy nghĩ về bà và tình bà cháu.
Cục… cục tác cục
ta
Trong chương trình Ngữ Văn
THCS em đã được học bài thơ nào
có hai hình ảnh trên? Của tác giả
nào? Nội dung bài thơ?
- Tiếng gà trưa– Xuân Quỳnh
- Viết về tình cảm bà, cháu.
Em hãy đọc những câu thơ có
hai hình ảnh trên ?
Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tay bà khum soi trứng
Dành từng quả chắt chiu
Cho con gà mái ấp
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả
- Bằng Việt, tên KS: Nguyễn Việt Bằng – sinh năm
1941, quê: Thạch Thất, Hà Tây.
- Làm thơ từ đầu những năm 60 và thuộc thế hệ các
nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ k/c chống Mỹ.
- Hiện nay ông là chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ
thuật Hà Nội.
- Đề tài : Chủ yếu khái thác những kỉ niệm và ước mơ
của tuổi trẻ nên thường gần gũi với bạn độc trẻ tuổi nhất
là trong các nhà trường.
- Phong cách sáng tác : Thơ trong trẻo, mượt mà mang
giọng điệu thủ thỉ, tâm tình ; ngôn ngữ điềm đạm ; cấu
tứ mạch lạc và hệ thống thi ảnh đặc sắc.
TP chính: - Hương cây - Bếp lửa (cùng tg Lưu Quang Vũ) ;
- Những gương mặt những khoảng trời (1973) ;
- Cát sáng (1983)…
2. Tác phẩm:
Nhà thơ Bằng Việt trả lời phỏng vấn hoàn cảnh và
cảm xúc khi viết bài thơ
“…Những năm đầu theo học Luật tại đây
tôi nhớ nhà kinh khủng. Tháng 9 ở bên đó
trời se se lạnh, buổi sáng sương khói bay
mờ mờ mặt đất, ngoài cửa sổ, trên các vòm
cây gợi cảnh mùa đông ở quê nhà. Mỗi
buổi dậy sớm đi học, tôi hay nghĩ đến hình
ảnh một bếp lửa thân quen, nhớ tới hình
ảnh bà nội lụi cụi dậy sớm nấu nồi xôi, luộc
củ khoai, củ sắn cho cả nhà…” Đây cũng
chính là nguồn khơi mạch cảm xúc cho
Bằng Việt viết bài thơ “Bếp lửa”.
a. Xuất xứ:
- Bài thơ ra đời 1963, khi tác giả đang là
du học sinh ngành Luật ở Liên Xô và bắt
đầu đến với thơ.
- In trong tập “Hương cây – Bếp lửa”
(1968 – cùng tg Lưu Quang Vũ)
Bà nội tôi là một phụ nữ nông dân
chân chất, bình dị. Với tôi, bà là hiện
thân của sự cần cù, nhẫn nại và đức hi
sinh.
"Tôi viết bài thơ Bếp lửa năm 1963, lúc đang học năm
thứ 2 Đại học tổng hợp Quốc gia Kiev (Ukarina). Mùa Đông
nước Nga rất lạnh, phải đốt lò để sưởi. Ngồi sưởi lửa tôi
bỗng nhớ đến “Bếp lửa” quê nhà, nhớ bà tôi, nhớ người
nhóm bếp. Xa bà, xa gia đình khi đã trưởng thành tức là có
độ lùi xa để nhớ và suy ngẫm những giá trị tinh thần nên bài
thơ viết rất nhanh. Viết “Bếp lửa” tôi chỉ muốn giảy bày tâm
trạng thật của lòng mình.”
BẾP LỬA
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
“ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng….
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
(Bằng Việt- 1963)
- Chiến
khu: Vùng căn cứ của lực lượng cách
mạng hay lực lược kháng chiến
b. Đọc, tìm hiểu thể thơ, PTBĐ :
Thể thơ tự do
* Phương thức biểu đạt : Biểu cảm (kết hợp tự sự, miêu tả)
* Chủ đề: Bài thơ gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình
bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người
cháu đối với bà, cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.
* Ý nghĩa nhan
đề :
- “Bếp lửa” là một h/a độc đáo, sáng tạo, xuất hiện nhiều lần trong bài thơ, vừa
mang ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng :
- Trước hết, đây là một bếp lửa thực, quen thuộc, gần gũi trong mỗi gia đình của
người Việt. Đồng thời, đó là h/a gắn với kỉ niệm ấu thơ về một người bà cụ thể, có
thật của tác giả.
- Bếp lửa là biểu tượng mang ý nghĩa ẩn dụ giàu ý nghĩa :
+ Bếp lửa gợi lên sự tần tảo, chăm sóc, yêu thương của bà dành cho cháu
trong những năm tháng đói nghèo, chiến tranh để trưởng thành.
+ Bếp lửa gợi lên bao vất vả, cực nhọc của đời bà. Song bà nhóm bếp lửa
cũng chính là nhóm lên sự sống, niềm vui, niềm tin và hi vọng cho cháu.
+ Bếp lửa còn là biểu tượng của cội nguồn gia đình, quê hương, đất nước, …
đã nâng bước người cháu trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.
c. Mạch cảm xúc, bố cục bài thơ
- Bài thơ là lời tâm sự của người cháu hiếu thảo ở phương xa gửi về
người bà.
- Bài thơ được mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỷ
niệm tuổi thơ sống bên bà tám năm ròng, làm hiện lên hình ảnh bà với
sự chăm sóc, lo toan, vât vả và tình yêu thương trìu mến dành cho đứa
cháu. Từ những kỷ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và
thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản dị mà cao quý của bà. Cuối
cùng, người cháu muốn gửi niềm mong nhớ về với bà.
-> Mạch cảm xúc bài thơ đi từ hồi tưởng về quá khứ đến hiện tại,
từ kỷ niệm đến suy ngẫm. Từ đó diễn tả niềm kính yêu vô hạn và
những suy ngẫm sâu sắc của người cháu về bà và bếp lửa quê hương.
Bố cục: 4 phần
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm,
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Hình ảnh bếp lửa
khơi nguồn cảm
xúc kỉ niệm về bà
Bếp lửa (Bằng Việt)
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói,
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy.
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay !
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi,
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh.
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên !”.
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa.
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế,
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn,
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế !
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Những kỉ niệm tuổi thơ
Tu hú ơi !chẳng đến ở cùng bà,
sống bên bà.
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ,
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui,
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,
Nhưng vẫn chẳng bao giờ quên nhắc nhở:
- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
Suy ngẫm về cuộc
đời bà và hình ảnh
bếp lửa.
Nỗi nhớ của người
cháu về bà và bếp
lửa.
* Hình ảnh nổi bật trong bài thơ
- Hình ảnh người bà
- Bếp lửa
Đây là hai hình ảnh nổi bật,
gắn bó mật thiết với nhau, vừa
tách bạch vừa hòa lẫn trong
nhau, tỏa sáng bên nhau.
II. Phân tích:
1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn kí ức tuổi thơ và bà
Hình ảnh xuất hiện đàu
bài thơ là gì? Tác giả đã
sử dụng NT gì để gợi lên
hình ảnh đó? Tác dụng?
Em hiểu gì về 2 câu
thơ: “Một bếp lửa chờn
vờn sương sớm/ Một bếp
lửa ấp iu nồng đượm”?
Từ hình ảnh bếp lửa,
người cháu đã có cảm
xúc như thế nào ở câu
thơ thứ ba?
- Ba tiếng “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần, trở
thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu
lắng, khẳng định h/a “bếp lửa” như một dấu ấn không
bao giờ phai mờ trong tâm tưởng của nhà thơ.
- “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” là h/a quen thuộc
đối với mỗi gia đình Việt Nam. H/a bếp lửa thật ấm
áp giữa cái lạnh chờn vờn “sương sớm” thật thân
thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”.
+ Từ láy “chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi
thương đến dáng hình bập bùng, chập chờn của
ngọn lửa trong kí ức.
+ “Ấp iu” gợi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm
lòng chi chút của người nhóm lửa, lại rất chính
xác với công việc nhóm bếp cụ thể.
- H/a bếp lửa đã làm trỗi dậy tình yêu thương: “Cháu
thương bà biết mấy nắng mưa”. Tình thương tràn đầy
của cháu được bộc lộ trực tiếp và giản dị. Đằng sau sự
giản dị ấy là cả một tấm lòng, một sự thấu hiểu đến tận
cùng những vất vả, nhọc nhằn, lam lũ của đời bà.
Khái quát nội dung, ý
nghĩa của ba dòng thơ
đầu?
Ở phần thứ hai của bài
thơ, tác giả đã nêu lên
những kỉ niệm nào của
tuổi thơ? Em hãy gọi tên
các kỉ niệm ấy?
=> Ba dòng thơ đầu diễn tả cảm xúc đang
dâng lên cùng với những kí ức, hồi tưởng
của tác giả về bếp lửa, về bà, là sự khái
quát tình cảm của người cháu với cuộc
đời lam lũ của người bà.
- Kỉ niệm năm lên bốn tuổi gắn với
nạn đói năm 1945;
- Kỉ niệm tám năm ở cùng bà trong
nỗi thiếu vắng cha mẹ;
- Kỉ niệm gắn với nỗi lo sợ hãi hùng
trước nạn giặc tàn phá xóm làng.
2. Những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà và bếp lửa
a. Kỉ niệm năm lên bốn tuổi gắn với nạn đói
năm 1945;
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại giờ sống mũi còn cay!
Kí ức đưa nhân vật trở về những năm “đói mòn đói mỏi” của nạn đói
năm 1945: “cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên). Thành ngữ
“đói mòn đói mỏi” – cái đói kéo dài làm mỏi mệt, kiệt sức; con ngựa gầy
rạc cùng với người bố đánh xe chắc cũng gầy khô… Giọng thơ trĩu xuống,
nao nao lòng người đọc
“Năm Ất Dậu tháng ba còn nhớ mãi
Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!
Những thây ma thất thểu đầy đường,
Rồi ngã gục không đứng lên vì… đói!”
Ta nhớ mãi cái thời kỳ đen tối!
Quên làm sao tội lỗi kẻ xâm lăng!
Quên làm sao mối thù hận khôn cùng!
Quên sao được hai triệu người chết đói!
Đói tự Bắc Giang, đói về Hà Nội
Đói ở Thái Bình, đói tới Gia Lâm
Khắp đường xa những xác đói rên nằm
Trong nắng lửa trong bụi lầm co quắp
Giữa đống trẻ chỉ còn đôi hố mắt
Đọng chút hồn sắp tắt của thây ma;
Những cánh tay gầy quờ quạng khua khua
Như muốn bắt những gì vô ảnh,
Dưới mái tóc rối bù và kết bánh
Một làn da đen sạm bọc xương đầu
Răng nhe ra như những chiếc đầu lâu
Má hóp lại, răng hằn sâu gớm ghiếc
Già trẻ gái trai không còn phân biệt,
Họ giống nhau như là những thây ma,
Như những bộ xương còn dính chút da
Chưa chết đã bốc xa mùi tử khí!
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại giờ sống mũi còn cay!
-> Nỗi ám ảnh về những năm tháng tuổi thơ gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn.
- Hình ảnh đậm chất hiện thực: - ”Đói mòn đói mỏi”, “khô rạc ngựa gầy”-
những chi tiết thơ đậm chất hiện thực đã tái hiện lại hình ảnh xóm làng
xơ xác, tiêu điều cùng những con người tiều tụy, vật lộn mưu sinh. Không
trải qua cái đói quay, đói quắt thì Bằng Việt chẳng thể viết được những
câu thơ chân thực đến thế!
- Ấn tượng nhất đối với cháu trong những năm đói khổ là mùi khói bếp
- mùi khói đã hun nhèm mắt cháu, còn là cái cay bởi xúc động của người
cháu đã trưởng thành khi nhớ về bà. Quá khứ và hiện tại đồng hiện trên
những dòng thơ. Điều này cho thấy, mùi khói bếp của bà có sức ám ảnh,
làm lay động cả thế chất và tâm hồn cháu.
-> Nhớ cái đói là nhớ về một thời ấu thơ cơ cực, gian khổ, nhọc nhằn
thiếu thốn trăm bề.
b. Kỉ niệm tám năm ở cùng bà trong nỗi thiếu vắng cha mẹ;
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
Nhóm bếp lửa nghĩa thương bà khó
nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Trong tám năm sống cùng bà, cháu
nhận dược sự yêu thương chăm sóc
của bà như thế nào?
- Tám năm ròng cháu sống cùng bà
– tám năm cháu nhận được sự che
chở, chăm sóc nuôi dưỡng của bà.
Tám năm ấy, cháu sống cùng bà vất
vả, khó khăn nhưng đầy tình yêu
thương.
- Kháng chiến bùng nổ, “Mẹ cùng cha
công tác bận không về”, bà vừa là cha,
vừa là mẹ: “bà bảo cháu nghe - Bà dạy
cháu làm, bà chăm cháu học”.
- Chính bà là người đã nuôi dưỡng,
dạy dỗ cháu nên người. Bà hay kể
chuyện những ngày ở Huế để nhắc
nhở cháu về truyền thống gia đình, về
những đau thương mất mát và cả
những chiến công của dân tộc. Bà
luôn bên cháu, dạy dỗ, chăm sóc cho
cháu lớn lên.
Liệt kê những từ ngữ thể hiện sâu
sắc tình thương yêu của bà đối với
cháu?
- Một loạt các từ ngữ “bà bảo”, ”bà
dạy”, ”bà chăm” vừa diễn tả một cách
sâu sắc tình thương bao la, sự chăm
chút hết mình của bà dành cho cháu.
Em có nghĩ gì về vai trò của bếp
lửa và người bà đối với cháu?
- Đồng thời thể hiện lòng biết ơn
của cháu đối với bà -. Tình yêu và
lòng kính trọng bà được thể hiện thật
chân thành, sâu sắc: “Nhóm bếp lửa
nghĩ thương bà khó nhọc”.
Bếp lửa của tình bà, bếp lửa của
quê hương lại gợi thêm trong cháu
những gì của tuổi thơ ?
- Bà và bếp lửa là chỗ dựa tinh
thần, là sự chăm chút, đùm bọc
dành cho cháu.
Em có suy nghĩ
gì về tiếng chim tu
hú trong kí ức của
nhà thơ?
Em có suy nghĩ
gì về hai câu thơ:
“Tu hú ơi chẳng
đến ở cùng bà –
Kêu chi hoài trên
những cánh đồng
xa”
Bếp lửa của quê hương, bếp lửa của tình bà lại gợi thêm
một kỉ niệm tuổi thơ – kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú
trên đồng quê mỗi độ hè về:
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trênnhững cánh đồng xa?
- Tiếng chim tu hú – âm thanh quen thuộc của làng quê
Việt Nam mỗi độ hè về, báo hiệu mùa lúa chín vàng đồng,
vải chín đỏ cây
- Câu hỏi tu từ “Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà – Kêu chi
hoài trên những cánh đồng xa” mới thấm thía làm sao, xót
xa làm sao! Nó diễn tả nỗi lòng da diết của tác giả khi
nhớ về tuổi thơ, nhớ về bà.
=> Những câu thơ như lời đối thoại tâm tình, cháu trò
chuyện với bà trong tâm tưởng, cháu trò chuyện với
chim tu hú trong tình yêu thương. Và tất cả đều là sự
bộc bạch của cháu dành cho người bà kính yêu. -- H/a của bà, h/a của bếp lửa và âm thanh của chim tu hú
vang vọng trong một không gian mênh mông khiến cả bài
thơ nhuốm phủ sắc màu bàng bạc của không gian hoài
niệm, của tình bà cháu đẹp như trong chuyện cổ tích.
c. Kỉ niệm gắn với nỗi lo sợ hãi hùng trước nạn giặc tàn phá
xóm làng.
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh :
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa long bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…
Thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem
đến cảm nhận gì về hình ảnh làng
quê ta lúc bấy giờ?
- Thành ngữ “cháy tàn cháy
rụi” đem đến cảm nhận về hình ảnh
làng quê hoang tàn trong khói lửa
của chiến tranh -> chi tiết mang đậm
chất hiện thực.
- Trong sự tàn phá hủy diệt ấy là sự
cưu mang, đùm bọc của xóm làng
đối với hai bà cháu- truyền thống
đùm bọc nhân ái cao đẹp của dân tộc
ta <-> tình người đã tỏa sáng.
- Điều khiến cháu xúc động nhất là
h/a bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi
để trải qua những năm tháng gian
nan, đau khổ mà không hề kêu ca,
phàn nàn. Bà mạnh mẽ, kiên cường
trước hiện thực ác liệt.
? Điều chúng ta nói trên
thể hiện qua lời dặn nào
của bà? Lời dặn ấy khiến
chúng ta suy nghĩ gì?
- Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm
ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ
nữ giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh:
“Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”
? Đến đây các em có suy
nghĩ gì về hình ảnh bà đối
với con cháu cũng như với
quê hương đất nước?
- Vậy là bà đã gồng mình gánh vác mọi
lo toan để các con yên tâm công tác. Bà
không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ,
là điểm tựa cho các con đang chiến đấu
mà còn là hậu phương vững chắc cho cả
tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc
kháng chiến chung của dân tộc. Tình
cảm bà cháu hòa quyện trong tình yêu
quê hương, Tổ quốc.
- Bà là hiện thân cụ thể nhất, sinh động nhất cho hậu phương lớn.
Trong nhiều gia đình Việt Nam, do nhiều cảnh ngộ khác nhau, mà vai trò
của người bà – bà nội, bà ngoại – đã thay thế vai trò của người mẹ hiền.
Sống trong những năm dài chiến tranh, thế nhưng bà vẫn vững lòng
trước mọi tai hoạ, thử thách.
- Các từ ngữ như “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả một cách
sâu sắc tấm lòng đôn hậu, tình thương bao la, sự chăm chút của bà đối
với cháu nhỏ. Chữ”bà” và chữ “cháu” được điệp lại 4 lần gợi tả tình bà
cháu quấn quýt yêu thương.
- Được sống trong tình thương là hạnh phúc. Người cháu trong bài
thơ “bếp lửa” tuy phải sống xa cha mẹ, tuy gặp nhiều thiếu thốn khó
khăn, nhưng em thật hạnh phúc khi được sống trong vòng tay yêu
thương của bà.
-> Bà tần tảo, giàu đức hy sinh
-> Tình yêu bà, yêu bếp lửa, yêu quê hương đất nước
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Vì sao mà tấm lòng
người bà chứa đựng được
biết bao điều như vậy ?
Em có suy nghĩ gì về
cụm từ “Rồi sớm rồi
chiều”?
Trong ký ức của cháu,
giờ đây bếp lửa đã có sự
thay đổi như thế nào? Sự
thay đổi đó có ý nghĩa gì?
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…
- Tấm lòng bà chứa đựng biết bao điều
vì trong tấm lòng đó luôn âm ỉ một ngọn lửa:
- “Rồi sớm rồi chiều” ẩn chứa cả một
dòng thời gian âm ỉ, dai dẳng mang theo cả
cuộc đời bà, mang theo bao tâm tình của
đứa cháu phương xa.
- Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể, tác giả đã
nâng lên thành “ngọn lửa” mang ý nghĩa
khái quát, tượng trưng
- “Bếp lửa” với những ấm áp, bình dị của
tình cảm gia đình, của tình bà cháu đã bùng
lên thành “ngọn lửa” của niềm tin và sức
sống cho các thế hệ mai sau.
- Điệp từ “một ngọn lửa” càng khẳng định đó chính là cội nguồn của bao
yêu thương, của những tần tảo hy sinh nơi bà.
- Trong h/a “lòng bà luôn ủ sẵn”, người đọc cảm nhận được một ngọn
lửa không bao giờ tắt qua năm tháng, một ngọn lửa bất diệt từ trong
chính trái tim bà
=> Bà không để lại cho con cháu những giá trị vật chất thông thường mà
là một điều quý giá hơn gấp bội : ngọn lửa của sự sống. Khái quát lên, bà
là hiện thân cho vẻ đẹp thiêng liêng của người giữ lửa, truyền lửa.
Từ ngọn lửa ấm nóng ấy, nhà thơ mở ra những suy ngẫm về cuộc đời
bà
3. Suy ngẫm về cuộc đời bà và hình ảnh bếp lửa
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Từ láy lận đận là suy ngẫm
của cháu về bà; điều này
gợi cho em suy nghĩ gì?
? Cụm từ “Mấy chục năm
rồi”, kết hợp với cụm từ
“thói quen dậy sớm” cho
em hiểu gì về cuộc đời bà?
- “Lận đận” - từ láy gợi hình với hai thanh
trắc đã diễn tả cả cuộc đời vất vả của bà, kết
hợp với “biết mấy nắng mưa” - ẩn dụ để chỉ
những thăng trầm của cuộc sống càng làm
đậm thêm đức hy sinh cần mẫn của bà
- “Mấy chục năm rồi”, lời thơ kể mà như đếm,
gợi lên cả một tuổi thanh xuân, cả một đời
người thức khuya dậy sớm gắn liền với khói
bếp cay nồng. Ấy vậy mà trong “thói quen dậy
sớm” ta cảm nhận được sự tần tảo, đức hy
sinh vẫn nguyên vẹn như thuở nào.
? Điệp từ “nhóm” được nhắc đi nhắc lại 4 lần có ý nghĩa gì?
- Điệp ngữ “nhóm” được nhắc lại bốn lần với những ý nghĩa phong phú,
gợi nhiều liên tưởng. Từ hành động, bà đã nhóm dậy những gì thiêng
liêng, cao quý nhất của con người. Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai là nhóm
lên:
NHÓM
Bếp lửa ấp iu
Niềm yêu thương
khoai sắn ngọt bùi
nồng đượm
Sưởi ấm cho
bà và cháu
Chăm sóc cho
cháu
Nồi xôi gạo mới
sẻ chung vui
Chia sẻ tình
làng nghĩa xóm
Những tâm
tình tuổi nhỏ
Khơi dậy trong
cháu những tình
cảm tốt đẹp
- Điệp từ vừa có ý nghĩa cụ thể vừa có ý nghĩa biểu tượng
- Ca ngợi bà là người nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa.
Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!
Câu cảm thán
Bình dị mà cao quý
Bếp lửa
Thân thuộc mà lạ kì
Gắn liền với hình ảnh người bà
4. Nỗi nhớ khôn nguôi về bà và bếp lửa
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?...
- Dòng thơ đầu có dấu chấm giữa dòng được ngắt thành hai câu->khép lại dòng hồi
tưởng
- Điệp từ “trăm”, “có” kết hợp với thủ pháp liệt kê “khói trăm tàu”, “ lửa trăm nhà”,
“niềm vui trăm ngả” => Cho thấy người cháu đã có những thay đổi lớn trong cuộc
đời, đã tìm được bao niềm vui mới; Khẳng định đứa cháu không thể quên được ngọn
lửa của bà, tấm lòng đùm bọc, ấp iu của bà. Ngọn lửa ấy đã thành kỉ niệm ấm lòng,
thành niềm tin thiêng liêng, kì diệu nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài.
- Câu hỏi tư từ và dấu chấm lửng cuối bài thơ: Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?…
-> Ở nơi xa cháu vẫn nhớ về bà – nhớ về quá khứ, về cội nguồn, về quê hương đất
nước.
->Khổ thơ chứa đựng đạo lí thủy chung, cao đẹp bao đời của người
Việt: “uống nước nhớ nguồn”. Đạo lí ấy được nuôi dưỡng ở mỗi tâm
hồn con người từ thuở ấu thơ, để rồi như chắp cánh để mỗi người bay
cao, bay xa trên hành trình cuộc đời.
=> Từ những suy ngẫm của người cháu, bài thơ biểu hiện một triết
lí sâu sắc: Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có
sức lan tỏa sáng, nâng bước con người trong suốt hành trình dài
rộng của cuộc đời. Tình yêu đất nước, bắt nguồn từ lòng yêu quý
ông bà, cha mẹ, từ những gì gẫn gũi và bình dị nhất.
III. Tổng kết
1. Nội dung:
Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài
thơ Bếp lửa gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình
bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và thể hiện lòng
biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê
hương, đất nước.
2. Nghệ thuật:
Bài thơ đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự
và bình luận .Thể thơ 8 chữ kết hợp với 7 chữ, 9 chữ phù hợp với
việc diễn tả dòng cảm xúc và suy ngẫm về bà.Giọng điệu tâm tình,
thiết tha, tự nhiên, chân thành. Thành công của bài thơ còn ở sự
sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm
tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc và suy nghĩ về bà và tình bà cháu.
 









Các ý kiến mới nhất