Bài 12. Ánh trăng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Mai Khánh Băng
Ngày gửi: 18h:08' 27-11-2022
Dung lượng: 12.2 MB
Số lượt tải: 669
Nguồn:
Người gửi: Mai Khánh Băng
Ngày gửi: 18h:08' 27-11-2022
Dung lượng: 12.2 MB
Số lượt tải: 669
Số lượt thích:
0 người
Văn bản :
ÁNH TRĂNG
-Nguyễn Duy-
* Giới thiệu bài học:
Trăng - hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ
tình. Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện
trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu
như “ Tĩnh dạ tứ” của Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng
tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng nguyệt”
của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái
ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến
với bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp
hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc. Đó
chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.
I. Tìm hiểu chung :
1. Tác giả:
- Nguyễn Duy, tên khai sinh Nguyễn Duy Nhuệ, sinh
năm 1948, quê ở Thanh Hóa.
- Ông thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ trưởng thành
trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước:
+ Trước đổi mới: Nguyễn Duy tập trung viết về đề tài
chiến tranh và quê hương với khuynh hướng phi sử thi,
phản ánh những vẻ đẹp đơn sơ, bình dị, những mất
mát, hi sinh và cuộc sống lam lũ của người nông dân.
+ Sau đổi mới: Nguyễn Duy mạnh mẽ, táo bạo, dám
phơi bày những bất cập của xã hội đương thời.
- Phong cách sáng tác: Có sự thống nhất của nhiều yếu
tố đối lập: mộc mạc, dần dà mà tinh tế, sâu sắc; ngang
tàng, tếu táo mà thiết tha sâu lắng, nhân tình; tự nhiên
ngẫu hứng mà trau truốt công phu.
2. Tác phẩm:
a. Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài thơ “Ánh trăng” ra đời năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh, ba năm sau ngày
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
- Bài thơ được in trong tập thơ cùng tên và được giải A của Hội nhà văn Việt Nam
năm 1984.
b. Ý nghĩa nhan đề:
- Nhan đề “Ánh trăng” trước hết là một phần của thiên nhiên với tất cả những gì gần
gũi, thân thuộc.
- “Ánh trăng" là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung gắn với lịch sử hào
hùng của dân tộc.
- Gợi cho ta liên tưởng đến những con người giản dị mà thủy chung nghĩa tình:
nhân dân, đồng đội,...
c. Thể loại - phương thức biểu đạt:
- Thể thơ năm chữ với những chữ cái đầu khổ được viết hoa. Toàn bài chỉ có một
dấu phẩy và một dấu chấm kết bài. Nó khiến cho cảm xúc liền mạch, sâu lắng.
- Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa hai phương thức tự sự và trữ tình.
d. Bố cục: Ba phần:
- Phần một: 2 khổ đầu: vầng trăng trong quá khứ.
- Phần hai: 2 khô tiếp: vầng trăng trong hiện tại.
- Phần ba: 2 khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của nhân vật trữ tình.
II. Tìm hiểu văn bản :
1. Vầng trăng trong quá khứ:
Trong hai khổ thơ đầu, tác giả gợi lại những kỉ niệm đẹp, tình
cảm gắn bó giữa con người và vầng trăng trong quá khứ:
“ Hồi nhỏ sống với rừng
Với sông rồi với bể
Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỉ
Trần trụi với thiên nhiên
Hồn nhiên như cây cỏ
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa”
- Những câu thơ ngắn với giọng tâm tình, thủ thỉ (hồi nhỏ, hồi chiến
tranh) cộng với biện pháp tu từ liệt kê (đồng, sông, bể) đã gợi lại một
tui thơ sống gắn bó, gần gũi với thiên nhiên.
- Điệp từ “với” được lặp lại ba lần để nhấn mạnh sự gắn bó, thắm thiết
giữa con người và thiên nhiên.
- Hình ảnh “hồi chiến tranh ở rừng”:
+ Gợi liên tưởng đến sự trưởng thành của nhân vật trữ tình, từ cậu bé
thiếu niên nay đã vác súng ra chiến trường.
+ Gợi về những năm tháng gian khổ, ác liệt thời chiến tranh.
- Nghệ thuật nhân hóa “vầng trăng thành tri kỉ”:
+ Gợi liên tưởng đến những đêm hành quân hay phiên gác giữa rừng,
có vầng trăng chiếu rọi.
+ Trăng như trở thành người bạn thân thiết, tri âm, tri kỉ, luôn đồng
cảm cộng khổ để chia sẻ những vui buồn đời lính.
- Hình ảnh so sánh, ẩn dụ “trần trụi với thiên nhiên”,
“hồn nhiên như cây cỏ:
+ Gợi vẻ đẹp bình dị, vô tư, trong sáng của vầng trăng.
+ Đó cũng là cốt cách, vẻ đẹp hoang sơ, mộc mạc trong
tâm hồn của người lính.
Trăng hiện diện như hình ảnh của quá khứ, là hiện
thân của kí ức chan hòa tình nghĩa. Bởi sự gắn bó tình
nghĩa ấy, nhân vật trữ tình đã tự tâm niệm “sẽ không
bao giờ quên”.
- Từ “ngỡ” như báo hiệu những chuyển biến trong câu
chuyện cũng như trong tình cảm của con người.
=>Trong quá khứ, dẫu hoàn cảnh đầy những khó
khăn, khắc nghiệt, trăng vẫn đồng hành trên mỗi bước
đường và trở thành người bạn tri kỉ để chia sẻ mọi niềm
vui, nỗi buồn, vầng trăng đã trở thành biểu tượng cho
quá khứ nghĩa tình thủy chung.
2. Vầng trăng trong hiện tại:
- Song, trước sự xoay vần của thời gian, sự biến đổi của hoàn cảnh đã
khiến cho mọi thứ trở nên thay đổi:
“Từ hồi về thành phố
Quen ánh điện, cửa gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường”
+ Tác giả đã tạo ra sự đối lập trong hoàn cảnh
sống của con người giữa hiện tại và quá khứ: Từ những nhà tranh, vách
nứa chốn rừng sâu, nước độc, nay trở về trong những tòa nhà khang
trang, hiện đại của thành phố.
+ “quen ảnh điện cửa gương” là cách nói hoán dụ để
tô đậm cuộc sống đầy đủ, tiện nghi, khép kín trong căn phòng hiện đại,
xa rời thiên nhiên.
+ Hình ảnh nhân hóa, so sánh “vầng trảng đi qua
ngõ/ như người dưng qua đường” diễn tả sự thay đổi trong tình cảm của
con người: vầng trăng thì vẫn tròn đầy, thủy chung tình, nghĩa nhưng con
người thì hững hờ, thờ ơ không nhận ra.
=>Câu thơ mang một ý nghĩa khái quát: Khi hoàn
cảnh sống thay đổi thì con người ta có thể phản bội lại chính mình, dễ
dàng lãng quên đi những gian khổ, nhọc nhằn của một thời đã qua.
Song, cái sự quên ấy cũng là lẽ thường tình bởi những lo toan thường
- Tác giả đã đặt con người vào một tình huống bất ngờ:
“Thình lình đèn điện tắt
Phòng buyn - đinh tối om
Vội bật tung cửa sổ
Đột ngột vầng trăng tròn”
+ Hai từ “thình lình”, “đột ngột” và cách
đảo trật tự cú pháp đã góp phần diễn tả thật chính xác, ấn
tượng về một sự việc đột ngột, bất thường “đèn điện tắt... tối
om”.
+ Ba động từ mạnh “vội”, “bật”, “tung” đã
diễn tả hành động khẩn trương, vội vàng của nhân vật trữ tình.
+ Hình ảnh “vầng trăng tròn” đột ngột xuất
hiện chiếu rọi vào căn phòng tối om đã tạo nên một sự đối
lập: giữa ánh sáng và bóng tối. Chính khoảnh khắc bất ngờ ấy
đã tạo nên bước ngoặt trong mạch cảm xúc và sự “bừng
tỉnh” trong nhận thức của nhân vật trữ tình: vầng trăng kia vẫn
tròn, “đồng, bể, rừng” kia đâu có mất, tất cả vẫn đồng hành
cùng con người, chỉ có điều con người có nhận ra hay không.
Đây là khổ thơ quan trọng trong cấu tứ
toàn bài, là sự chuyển biến có ý nghĩa bước ngoặt trong mạch
cảm xúc, góp phần bộc lộ tư tưởng và mở ra những suy ngẫm
của nhà thơ.
3. Cảm xúc và suy ngẫm của nhân vật trữ tình:
Từ tình huống bất ngờ, đã mở ra những dòng cảm xúc
mãnh liệt của nhân vật trữ tình:
“Ngửa mặt lên nhìn mặt
Có cái gì rưng rưng”
- Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là
tư thế tập trung chú ý, mặt đối mặt.
- Từ “mặt” ở cuối câu thơ là từ
nhiều nghĩa, tạo nên sự đa dạng cho ý thơ:
+ Khuôn mặt đó là khuôn mặt của
tri kỉ mà nhân vật trữ tình đã lãng quên.
+ Mặt đối mặt đó còn là quá khứ
đối diện với hiện tại, tình nghĩa thủy chung đối diện với
vô tình lãng quên.
- Cuộc đối thoại không lời trong
khoảnh khắc, phút chốc ấy đã khiến cho cảm xúc dâng
trào. Cụm từ “rưng rưng” đã diễn tả nỗi xúc động đến
nghẹn ngào, thổn thức trong cảm xúc của nhân vật trữ
tình.
Giọt nước mắt như khiến con người ta trở nên thanh thản hơn, trong sáng
hơn để rửa trôi đi những ý nghĩ, lo toan thường nhật đe kỉ niệm ùa về:
“Như là đồng là bể
Như là sông là rừng”
- Cấu trúc song hành (như là... là...), cộng với biện
pháp tu từ so sánh (như), điệp ngữ (như là, là) và liệt kê (đồng, bể, sông,
rừng) diễn tả những dòng kí ức về một thời gắn bó, chan hòa với thiên nhiên
bỗng từ từ ùa về.
Khổ thơ cuối thể hiện những suy ngẫm và triết lí
sâu sắc của nhà thơ:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
Kể chi người vô tình
Ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình”
- Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh”:
+ Diễn tả vầng trăng tròn đầy, tỏa sáng giữa thiên
nhiên bao la.
+ Bên cạnh đó, còn tượng trưng cho vẻ đẹp của quá
khứ nghĩa tình, vẫn tròn đầy, trọn vẹn mặc cho con người thay đổi, vô tình.
- Nghệ thuật nhân hóa “ảnh trăng im phăng
phắc” gợi đến một cái nhìn nghiêm khắc song cũng đầy bao dung độ lượng.
Sự im lặng ấy khiến cho nhân vật trữ tình “giật mình” thức tỉnh.
- Từ “giật mình” chính là một sự sáng tạo của
Nguyễn Duy trong ý thơ:
+ Giật mình là cảm giác tâm lí của một người biết
suy nghĩ chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, nông nổi trong cách sống của mình.
+ Giật mình là để nhớ lại quá khứ, để ăn năn tự
trách, tự thấy cần phải thay đổi cách sống.
+ Giật mình cũng là để tự nhắc nhở bản thân phải
trân trọng những gì đã qua để làm bước đệm cho ngày hôm nay.
III. Tổng kết
1. Nội dung:
Với giọng điệu tâm tình, “Ánh trăng” như là một lời tâm
sự của tác giả về những năm tháng gian khổ đã đi qua
với những tình cảm bình dị và hiền hậu. Đồng thời, bài
thơ còn gửi gắm đến chúng ta về một thái độ sống tích
cực: “uống nước nhớ nguồn”.
2. Nghệ thuật:
- Giọng điệu tâm tình, tự nhiên, kết hợp với yếu tố trữ
tình, tự sự khiến bài thơ như một lời tự bạch chân
thành, sâu sắc.
- Hình ảnh giàu tính biểu cảm và biểu tượng.
ÁNH TRĂNG
-Nguyễn Duy-
* Giới thiệu bài học:
Trăng - hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ
tình. Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện
trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu
như “ Tĩnh dạ tứ” của Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng
tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng nguyệt”
của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái
ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến
với bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp
hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc. Đó
chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.
I. Tìm hiểu chung :
1. Tác giả:
- Nguyễn Duy, tên khai sinh Nguyễn Duy Nhuệ, sinh
năm 1948, quê ở Thanh Hóa.
- Ông thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ trưởng thành
trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước:
+ Trước đổi mới: Nguyễn Duy tập trung viết về đề tài
chiến tranh và quê hương với khuynh hướng phi sử thi,
phản ánh những vẻ đẹp đơn sơ, bình dị, những mất
mát, hi sinh và cuộc sống lam lũ của người nông dân.
+ Sau đổi mới: Nguyễn Duy mạnh mẽ, táo bạo, dám
phơi bày những bất cập của xã hội đương thời.
- Phong cách sáng tác: Có sự thống nhất của nhiều yếu
tố đối lập: mộc mạc, dần dà mà tinh tế, sâu sắc; ngang
tàng, tếu táo mà thiết tha sâu lắng, nhân tình; tự nhiên
ngẫu hứng mà trau truốt công phu.
2. Tác phẩm:
a. Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài thơ “Ánh trăng” ra đời năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh, ba năm sau ngày
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
- Bài thơ được in trong tập thơ cùng tên và được giải A của Hội nhà văn Việt Nam
năm 1984.
b. Ý nghĩa nhan đề:
- Nhan đề “Ánh trăng” trước hết là một phần của thiên nhiên với tất cả những gì gần
gũi, thân thuộc.
- “Ánh trăng" là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung gắn với lịch sử hào
hùng của dân tộc.
- Gợi cho ta liên tưởng đến những con người giản dị mà thủy chung nghĩa tình:
nhân dân, đồng đội,...
c. Thể loại - phương thức biểu đạt:
- Thể thơ năm chữ với những chữ cái đầu khổ được viết hoa. Toàn bài chỉ có một
dấu phẩy và một dấu chấm kết bài. Nó khiến cho cảm xúc liền mạch, sâu lắng.
- Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa hai phương thức tự sự và trữ tình.
d. Bố cục: Ba phần:
- Phần một: 2 khổ đầu: vầng trăng trong quá khứ.
- Phần hai: 2 khô tiếp: vầng trăng trong hiện tại.
- Phần ba: 2 khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của nhân vật trữ tình.
II. Tìm hiểu văn bản :
1. Vầng trăng trong quá khứ:
Trong hai khổ thơ đầu, tác giả gợi lại những kỉ niệm đẹp, tình
cảm gắn bó giữa con người và vầng trăng trong quá khứ:
“ Hồi nhỏ sống với rừng
Với sông rồi với bể
Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỉ
Trần trụi với thiên nhiên
Hồn nhiên như cây cỏ
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa”
- Những câu thơ ngắn với giọng tâm tình, thủ thỉ (hồi nhỏ, hồi chiến
tranh) cộng với biện pháp tu từ liệt kê (đồng, sông, bể) đã gợi lại một
tui thơ sống gắn bó, gần gũi với thiên nhiên.
- Điệp từ “với” được lặp lại ba lần để nhấn mạnh sự gắn bó, thắm thiết
giữa con người và thiên nhiên.
- Hình ảnh “hồi chiến tranh ở rừng”:
+ Gợi liên tưởng đến sự trưởng thành của nhân vật trữ tình, từ cậu bé
thiếu niên nay đã vác súng ra chiến trường.
+ Gợi về những năm tháng gian khổ, ác liệt thời chiến tranh.
- Nghệ thuật nhân hóa “vầng trăng thành tri kỉ”:
+ Gợi liên tưởng đến những đêm hành quân hay phiên gác giữa rừng,
có vầng trăng chiếu rọi.
+ Trăng như trở thành người bạn thân thiết, tri âm, tri kỉ, luôn đồng
cảm cộng khổ để chia sẻ những vui buồn đời lính.
- Hình ảnh so sánh, ẩn dụ “trần trụi với thiên nhiên”,
“hồn nhiên như cây cỏ:
+ Gợi vẻ đẹp bình dị, vô tư, trong sáng của vầng trăng.
+ Đó cũng là cốt cách, vẻ đẹp hoang sơ, mộc mạc trong
tâm hồn của người lính.
Trăng hiện diện như hình ảnh của quá khứ, là hiện
thân của kí ức chan hòa tình nghĩa. Bởi sự gắn bó tình
nghĩa ấy, nhân vật trữ tình đã tự tâm niệm “sẽ không
bao giờ quên”.
- Từ “ngỡ” như báo hiệu những chuyển biến trong câu
chuyện cũng như trong tình cảm của con người.
=>Trong quá khứ, dẫu hoàn cảnh đầy những khó
khăn, khắc nghiệt, trăng vẫn đồng hành trên mỗi bước
đường và trở thành người bạn tri kỉ để chia sẻ mọi niềm
vui, nỗi buồn, vầng trăng đã trở thành biểu tượng cho
quá khứ nghĩa tình thủy chung.
2. Vầng trăng trong hiện tại:
- Song, trước sự xoay vần của thời gian, sự biến đổi của hoàn cảnh đã
khiến cho mọi thứ trở nên thay đổi:
“Từ hồi về thành phố
Quen ánh điện, cửa gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường”
+ Tác giả đã tạo ra sự đối lập trong hoàn cảnh
sống của con người giữa hiện tại và quá khứ: Từ những nhà tranh, vách
nứa chốn rừng sâu, nước độc, nay trở về trong những tòa nhà khang
trang, hiện đại của thành phố.
+ “quen ảnh điện cửa gương” là cách nói hoán dụ để
tô đậm cuộc sống đầy đủ, tiện nghi, khép kín trong căn phòng hiện đại,
xa rời thiên nhiên.
+ Hình ảnh nhân hóa, so sánh “vầng trảng đi qua
ngõ/ như người dưng qua đường” diễn tả sự thay đổi trong tình cảm của
con người: vầng trăng thì vẫn tròn đầy, thủy chung tình, nghĩa nhưng con
người thì hững hờ, thờ ơ không nhận ra.
=>Câu thơ mang một ý nghĩa khái quát: Khi hoàn
cảnh sống thay đổi thì con người ta có thể phản bội lại chính mình, dễ
dàng lãng quên đi những gian khổ, nhọc nhằn của một thời đã qua.
Song, cái sự quên ấy cũng là lẽ thường tình bởi những lo toan thường
- Tác giả đã đặt con người vào một tình huống bất ngờ:
“Thình lình đèn điện tắt
Phòng buyn - đinh tối om
Vội bật tung cửa sổ
Đột ngột vầng trăng tròn”
+ Hai từ “thình lình”, “đột ngột” và cách
đảo trật tự cú pháp đã góp phần diễn tả thật chính xác, ấn
tượng về một sự việc đột ngột, bất thường “đèn điện tắt... tối
om”.
+ Ba động từ mạnh “vội”, “bật”, “tung” đã
diễn tả hành động khẩn trương, vội vàng của nhân vật trữ tình.
+ Hình ảnh “vầng trăng tròn” đột ngột xuất
hiện chiếu rọi vào căn phòng tối om đã tạo nên một sự đối
lập: giữa ánh sáng và bóng tối. Chính khoảnh khắc bất ngờ ấy
đã tạo nên bước ngoặt trong mạch cảm xúc và sự “bừng
tỉnh” trong nhận thức của nhân vật trữ tình: vầng trăng kia vẫn
tròn, “đồng, bể, rừng” kia đâu có mất, tất cả vẫn đồng hành
cùng con người, chỉ có điều con người có nhận ra hay không.
Đây là khổ thơ quan trọng trong cấu tứ
toàn bài, là sự chuyển biến có ý nghĩa bước ngoặt trong mạch
cảm xúc, góp phần bộc lộ tư tưởng và mở ra những suy ngẫm
của nhà thơ.
3. Cảm xúc và suy ngẫm của nhân vật trữ tình:
Từ tình huống bất ngờ, đã mở ra những dòng cảm xúc
mãnh liệt của nhân vật trữ tình:
“Ngửa mặt lên nhìn mặt
Có cái gì rưng rưng”
- Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là
tư thế tập trung chú ý, mặt đối mặt.
- Từ “mặt” ở cuối câu thơ là từ
nhiều nghĩa, tạo nên sự đa dạng cho ý thơ:
+ Khuôn mặt đó là khuôn mặt của
tri kỉ mà nhân vật trữ tình đã lãng quên.
+ Mặt đối mặt đó còn là quá khứ
đối diện với hiện tại, tình nghĩa thủy chung đối diện với
vô tình lãng quên.
- Cuộc đối thoại không lời trong
khoảnh khắc, phút chốc ấy đã khiến cho cảm xúc dâng
trào. Cụm từ “rưng rưng” đã diễn tả nỗi xúc động đến
nghẹn ngào, thổn thức trong cảm xúc của nhân vật trữ
tình.
Giọt nước mắt như khiến con người ta trở nên thanh thản hơn, trong sáng
hơn để rửa trôi đi những ý nghĩ, lo toan thường nhật đe kỉ niệm ùa về:
“Như là đồng là bể
Như là sông là rừng”
- Cấu trúc song hành (như là... là...), cộng với biện
pháp tu từ so sánh (như), điệp ngữ (như là, là) và liệt kê (đồng, bể, sông,
rừng) diễn tả những dòng kí ức về một thời gắn bó, chan hòa với thiên nhiên
bỗng từ từ ùa về.
Khổ thơ cuối thể hiện những suy ngẫm và triết lí
sâu sắc của nhà thơ:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
Kể chi người vô tình
Ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình”
- Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh”:
+ Diễn tả vầng trăng tròn đầy, tỏa sáng giữa thiên
nhiên bao la.
+ Bên cạnh đó, còn tượng trưng cho vẻ đẹp của quá
khứ nghĩa tình, vẫn tròn đầy, trọn vẹn mặc cho con người thay đổi, vô tình.
- Nghệ thuật nhân hóa “ảnh trăng im phăng
phắc” gợi đến một cái nhìn nghiêm khắc song cũng đầy bao dung độ lượng.
Sự im lặng ấy khiến cho nhân vật trữ tình “giật mình” thức tỉnh.
- Từ “giật mình” chính là một sự sáng tạo của
Nguyễn Duy trong ý thơ:
+ Giật mình là cảm giác tâm lí của một người biết
suy nghĩ chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, nông nổi trong cách sống của mình.
+ Giật mình là để nhớ lại quá khứ, để ăn năn tự
trách, tự thấy cần phải thay đổi cách sống.
+ Giật mình cũng là để tự nhắc nhở bản thân phải
trân trọng những gì đã qua để làm bước đệm cho ngày hôm nay.
III. Tổng kết
1. Nội dung:
Với giọng điệu tâm tình, “Ánh trăng” như là một lời tâm
sự của tác giả về những năm tháng gian khổ đã đi qua
với những tình cảm bình dị và hiền hậu. Đồng thời, bài
thơ còn gửi gắm đến chúng ta về một thái độ sống tích
cực: “uống nước nhớ nguồn”.
2. Nghệ thuật:
- Giọng điệu tâm tình, tự nhiên, kết hợp với yếu tố trữ
tình, tự sự khiến bài thơ như một lời tự bạch chân
thành, sâu sắc.
- Hình ảnh giàu tính biểu cảm và biểu tượng.
 







Các ý kiến mới nhất