Bài 18. Phép phân tích và tổng hợp

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Thanh Điệp
Ngày gửi: 17h:52' 01-02-2023
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 993
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Thanh Điệp
Ngày gửi: 17h:52' 01-02-2023
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 993
Số lượt thích:
1 người
(nguyễn hoàng dương)
PHÉP PHÂN TÍCH
VÀ
PHÉP TỔNG HỢP
LUYỆN TẬP PHÂN ÍCH VÀ
TỔNG HỢP
I. TÌM HIỂU PHÉP LẬP LUẬN PHÂN TÍCH VÀ TỔNG HỢP
TRANG PHỤC
Không kể trên đường tuần tra, nơi rừng rậm hay suối sâu,…phải cởi giày ra đi chân đất, thông thường trong
doanh trại hay nơi công cộng, có lẽ không ai mặc quần áo chỉnh tề mà lại đi chân đất, hoặc đi giày có bít tất đầy
đủ nhưng phanh hết cúc áo, lộ cả da thịt ra trước mặt mọi người.
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ nhiều phần đúng. Cô gái một mình trong hang sâu chắc
không váy xoè váy ngắn, không mắt xanh môi đỏ, không tô đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát
nước hay câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu mượt bằng sáp thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang
phục không có pháp luật nào can thiệp, nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó là văn hoá xã hội. Đi
đám cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn. Đi dự đám tang không được mặc áo
quần lòe loẹt, nói cười oang oang.
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải phù hợp với hoàn cảnh riêng của mình
và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì
cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị,
nhất là phù hợp với môi trường. Người có văn hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà mình vào cộng đồng
như thế, không kể hình thức còn phải đi với nội dung, tức là con người phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà
văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng
có gì đáng hãnh diện”. Chí lí thay!
Thế mới biết, trang phục hợp văn hoá, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp.
(Theo Băng Sơn, Giao tiếp đời thường)
PHIẾU HỌC TẬP
1) VĐNL trong VB là gì?
............................................................................................................
2) Hãy XĐ bố cục của VB?
.............................................................................................................. ..
...............................................................................................................
3) Nhận xét phần MB ?
.............................................................................................................
4) Phần TB gồm mấy luận điểm?
Vấn đề nghị luận: Trang phục có văn hoá phù hợp với đạo đức, môi
trường.
MỞ BÀI: Đoạn 1
BỐ CỤC
THÂN BÀI: Đoạn
2,3
KẾT BÀI: Đoạn 4
MỞ BÀI:
Không kể trên đường tuần tra, nơi rừng rậm hay suối sâu,...phải cởi giày ra đi chân đất, thông
thường trong doanh trại hay nơi công cộng, có lẽ không ai mặc áo quần chỉnh tề mà lại đi chân đất,
hoặc đi giày có bít tất đầy đủ nhưng phanh hết cúc áo, lộ cả da thịt trước mặt mọi người.
Đưa ra một loạt dẫn chứng về cách ăn mặc để rút ra nhận xét: ăn mặc phải chỉnh tề,
đồng bộ giữa quần áo , giày, tất…
Phần TB
+ “Ăn cho mình, mặc cho người”
+ “Y phục xứng kỳ đức”
Nhóm 1+2: Tác giả lập luận nhưthế nào ở luận điểm:“Ăn cho mình, mặc
cho người”.
Nhóm 3+4: Tác giả lập luận như thế nào ở luận điểm: “Y phục xứng kì
đức”.
DẪN CHỨNG: Đoạn văn 2
Dẫn chứng
Luận điểm:
- Cô gái một mình trong hang sâu chắc không váy
xoè váy ngắn, không mắt xanh môi đỏ, không tô
đỏ chót móng chân móng tay.
Anh thanh niên đi tát nước hay câu cá ngoài cánh
đồng vắng chắc không chải đầu mượt bằng sáp
thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp.
Ăn cho
mình,
mặc cho
người
Đi đám cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ
nhem, chân tay lấm bùn.
- Đi dự đám tang không được mặc áo quần lòe
loẹt, nói cười oang oang.
Lí lẽ
-Trang phục không có pháp luật nào can thiệp,
nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó
là văn hoá xã hội.
Phép lập luận chứng minh + từ phủ định, giả thiết.
Đoạn văn 3:
Lí lẽ
Luận
điểm:
Y phục
xứng
kì
đức
Lí lẽ
Ăn mặc ra sao cũng phải phù hợp với hoàn cảnh riêng của
mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay toàn xã hội.
Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì cũng
chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi.
Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất
là phù hợp với môi trường.
Lí lẽ
Dẫn chứng
Người có văn hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà mình
vào cộng đồng. Như thế, không kể hình thức còn phải đi .Với
nội dung tức là con người phải có trình độ, có hiểu biết.
Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo
đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì
đáng hãnh diện”.
Phép lập luận giải thích + so sánh, đối chiếu
? Để chốt lại vấn đề tác giả dùng phép lập luận nào? Hãy chỉ ra
câu đó?
? Phép lập luận này thường đứng ở vị trí nào trong văn bản?
? Phép lập luận tổng hợp có vai trò như thế nào?
Đoạn 4 : Kết bài
Thế mới biết, trang phục hợp văn hóa, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là
trang phục đẹp.
Khái quát, chốt lại vấn đề, rút ra cái chung từ những điều phân tích trên.
- Vị trí: Cuối đoạn văn, cuối một phần văn bản, cuối văn bản.
KẾT LUẬN
- Phân tích là phép lập luận trình bày từng bộ phận, phương
diện của một vấn đề nhằm chỉ ra nội dung của sự vật, hiện
tượng.
- Tổng hợp là phép lập luận rút ra cái chung từ những điều đã
phân tích. (Lập luận tổng hợp thường đặt ở cuối đoạn hay
cuối bài, ở phần kết luận của một phần hoặc toàn bộ văn
bản.)
Mối quan hệ qua lại giữa hai phép lập luận:
+ Tuy đối lập nhưng không tách rời nhau.
- Phân tích rồi tổng hợp mới có ý nghĩa, mặt khác phải dựa
trên cơ sở phân tích thì mới có thể tổng hợp được.
So sánh sự giống và khác nhau giữa phép phân tích và
phép tổng hợp:
PHÂN TÍCH
Giống nhau
Khác nhau
Cách
thức
Vai trò
TỔNG HỢP
Mục đích: giúp người đọc, người nghe nhận
thức đúng, hiểu đúng, đủ vấn đề.
Trình bày từng bộ phận,
Khái quát rút
phương diện của vấn đề để ra cái chung từ
chỉ ra nội dung của sự việc, những điều
hiện
Giúp tượng.
ta hiểu vấn đề cụ thể, chi phân tích.
tiết qua nhiều khía cạnh,
nhiều góc độ, nhiều bình diện
khác nhau. Từ đó, thấy được
nội dung, ý nghĩa của vấn đề.
Giúp ta khái
quát, nâng
cao vấn đề.
BÀI TẬP:
Chu Quang Tiềm đã phân tích như thế nào để làm sáng tỏ luận điểm: “Học vấn
không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của
học vấn”?
Bài tập 1:
* Luận điểm:
- Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là
một con đường quan trọng của học vấn.
* Các luận cứ:
- Học vấn là của nhân loại.
- Học vấn của nhân loại là do sách lưu truyền
lại.
- Sách là kho tàng quý báu tích luỹ mọi thành
tựu mà loài người đã tìm được qua từng thời
đại.
- Nếu chúng ta mong muốn tiến lên từ văn hoá
thì phải lấy thành quả đã đạt được trong quá
khứ làm điểm xuất phát.
- Nếu chúng ta xoá bỏ hết các thành quả nhân
loại đã đạt được trong quá khứ thì chúng ta đã
lùi điểm xuất phát đến mấy nghìn năm.
Tác giả nêu ra
luận điểm cơ bản
làm tiền đề cho
lập luận
Dùng giả thiết để
phân tích làm
sáng rõ cho luận
điểm.
Bài tập 2:
Lí do phải chọn sách để đọc
Sách nhiều khiến
người ta không
chuyên sâu, đọc sách
theo kiểu liếc qua, tuy
rất nhiều nhưng đọng
lại thì rất ít. Từ đó
nảy sinh thói hư
danh, nông cạn.
Sách nhiều dễ khiến người
đọc lạc hướng. Đọc tham
khảo nhiều mà không phục
vụ thực chất thì sẽ lãng phí
thời gian và sức lực bởi
những cuốn sách vô bổ, bỏ lỡ
những cuốn sách quan trọng,
cơ bản.
Baøi taäp 3: Phaân tích taàm quan troïng cuûa caùch ñoïc
saùch.
- Khoâng ñoïc thì khoâng coù ñieåm xuaát phaùt cao.
- Ñoïc sách laø con ñöôøng ngaén nhaát ñeå tieáp cận
tri thöùc.
- Ñoïc ít maø kyõ quan troïng hôn nhieàu maø qua loa,
khoâng ích lôïi gì.
- Ñoïc khoâng choïn loïc thì khoâng coù hieäu quaû.
Bài 1(sgk/11): Đọc các đoạn trích sau và cho biết tác giả đã vận dụng phép
lập luận nào và vận dụng như thế nào?
a, Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài […] không thể tóm tắt thơ được, mà
phải đọc lại. Cái thú vị của bài “ Thu điếu” ở các điệu xanh: xanh ao, xanh bờ,
xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc
lá thu rơi; ở những cử động: chiếc thuyền con lâu lâu mới nhích, sóng gợn tí, lá
đưa vèo, tầng mây lơ lửng, ngõ trúc quanh, chiếc cần buông, con cá động; ở các
vần thơ: không phải chỉ giỏi vì là những tử vận hiểm hóc , mà chính hay vì kết
hợp với từ, với nghĩa chữ, đến một cách thoải mái đúng chỗ, do một nhà nghệ sĩ
cao tay; cả bài thơ không non ép một chữ nào, nhất là hai câu 3,4:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
đối với:
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
thật tài tình; nhà thơ đã tìm được cái tốc độ bay của lá: vèo, để tương xứng với
cái mức độ gợn của sóng: tí.
( Toàn tập Xuân Diệu, tập 6)
b, Mấu chốt của thành đạt là ở đâu ? Có người nói thành đạt là do gặp thời, có
người lại cho là do hoàn cảnh bức bách, có người cho là do có điều kiện được học
tập, có người lại cho là do có tài năng trời cho. Các ý kiến đó mỗi ý chỉ nói tới một
nguyên nhân, mà lại đều là nguyên nhân khách quan, họ quên mất nguyên nhân chủ
quan của con người.
Thật vậy. Gặp thời tức là gặp may, có cơ hội, nhưng nếu chủ quan không chuẩn bị
thì mọi cơ hội cũng sẽ qua đi. Hoàn cảnh bức bách tức là hoàn cảnh khó khăn buộc
phải khắc phục. Nhưng gặp hoàn cảnh ấy có người bi quan, thất vọng chán nản, thối
chí; có người lại gồng mình vượt qua. Điều kiện học tập cũng vậy, có người được
cha mẹ tạo cho mọi điều kiện thuận lợi, nhưng mải chơi, ăn diện, kết quả học tập rất
bình thường. Nói tới tài năng thì ai cũng có chút tài, nhưng đó chỉ mới là một khả
năng tiềm tàng, nếu không tìm cách phát huy thì nó cũng bị thui chột. Rút cuộc mấu
chốt của thành đạt là ở bản thân chủ quan của mỗi người, ở tinh thần kiên trì phấn
đấu, học tập không mệt mỏi, laị phải trau dồi đạo đức cho tốt đẹp. Không nên quên
rằng, thành đạt tức là làm được một cái gì đó có ích cho mọi người , cho xã hội,
được xã hội thừa nhận.
Hoạt động nhóm: 3 phút
Nhóm 1
*Đoạn văn a
- Câu 1: Đoạn văn bàn về vấn đề gì?
-Câu 2: Tìm luận điểm của đoạn văn?
Xác định vị trí của câu mang luận
điểm?
-Câu 3: Tìm những dẫn chứng góp
phần làm sáng rõ luận điểm mà em
tìm được?(trình tự phân tích)
- Câu 4: Từ đó chỉ ra đoạn văn vận
dụng phép lập luận nào?
Nhóm 2
* Đoạn văn b
- Câu 1: Đoạn văn bàn về vấn đề gì?
-Câu 2: Tìm luận điểm của đoạn văn?
Xác định vị trí của câu mang luận
điểm?
-Câu 3: Tìm những dẫn chứng, lí lẽ
góp phần làm sáng rõ luận điểm mà
em tìm được?(trình tự phân tích)
- Câu 4: Từ đó chỉ ra đoạn văn vận
dụng phép lập luận nào?
Đoạn văn a
- Vấn đề nghị luận : Nhà thơ Xuân Diệu bình về cái hay, cái đẹp của bài thơ
“Thu điếu” của Nguyễn Khuyến.
- Luận
điểm
:Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài ( đầu đoạn)
- Trình tự phân tích: Dẫn chứng làm sáng tỏ luận điểm ( câu 2)
+ Cái thú vị ở các điệu xanh (câu 2, vế 1)
+ Hay ở những cử động (câu 2, vế 2)
+ Hay ở các vần thơ (câu 2, vế 3)
+ Hay vì cả bài thơ không non ép một chữ nào , nhất là ở câu 3,4 ( câu
2, vế 4).
=> “ Thu điếu” là bài thơ hay cả về nội dung và hình thức nghệ thuật.
=> Đoạn văn vận dụng phép lập luận phân tích ( trình bày theo cách
diễn dịch)
Đoạn văn b
- Vấn đề bàn luận: Nguyên nhân của sự thành đạt
- Luận điểm : Mấu chốt của thành đạt là ở đâu?
( đầu đoạn)
- Trình tự phân tích : Dẫn chứng, lý lẽ làm sáng tỏ luận điểm ( đoạn văn 1,2)
+ Nguyên nhân khách quan
: : Do gặp thời, hoàn cảnh bức bách, điều kiện học tập, tài
năng trời cho ( đoạn văn 1) -> điều kiện cần
+ Nguyên nhân chủ quan : Biết nắm bắt cơ hội, tinh thần vượt khó khăn, kiên trì phấn
đấu học tập không mệt mỏi và không ngừng trau dồi phẩm chất đạo đức của mỗi người
(đoạn văn 2) -> điều kiện đủ
=>phép phân tích.
- Kết luận : Thành đạt tức là làm được cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội,
được xã hội thừa nhận ( câu cuối)
=>phép tổng hợp.
=> Đoạn văn vận dụng phép lập luận phân tích và tổng hợp
Bài 4(sgk/12): Hãy viết đoạn văn tổng hợp
những điều đã phân tích trong bài bàn về đọc
sách.
* Gợi ý
- Hình thức: Đoạn văn tổng hợp (khoảng 7-10 câu).
- Nội dung: Đoạn văn theo phép lập luận tổng hợp từ những điều đã
phân tích trong bài “bàn về đọc sách”.( dựa vào bài tập 3 hoặc ba
luận điểm của văn bản).
Đoạn văn tham khảo
Bàn về đọc sách, tác giả Chu Quang Tiềm đã có cách lí giải
thật là sâu sắc và hấp dẫn. Ông đã nêu ra các lí lẽ vì sao phải đọc
sách, đứng về phương diện cá nhân và phương diện trách nhiệm
với cộng đồng nhân loại. Tác giả phê phán cách học thiếu chuyên
sâu, cách đọc lướt một cách truyền cảm bằng cách so sánh, cách
minh họa, cách dùng con số cụ thể. Tác giả cũng gợi ý cách chọn
sách để đọc: không nên đọc nhiều mà đọc sâu, cần kết hợp đọc
hẹp và đọc rộng.Như vậy có thể nói bài văn là bài học rất quý giá
đối với học sinh, sinh viên chúng ta.
Đoạn văn mẫu
Tóm lại muốn đọc sách có hiệu quả chúng ta
cần phải chọn những loại sách quan trọng, phù
hợp với mình để đọc cho kĩ, ngẫm cho sâu. Đồng
thời chúng ta cũng phải chú trọng đọc rộng để hỗ
trợ cho việc nghiên cứu chuyên sâu.
+ Học thuộc ghi nhớ, hoàn thành bài tập.
+ Biết thực hiện phép phân tích và tổng hợp trong những văn cảnh cụ thể.
+ Phân tích việc vận dụng phép tổng hợp trong một đoạn văn cụ thể.
+ Chuẩn bị phần Luyện tập phân tích và tổng hợp
(Đọc và trả lời câu hỏi, tìm hiểu bài học (Đặc điểm, tác dụng của phép
lập luận phân tích và tổng hợp, sự khác nhau giữa hai phép lập luận phân
tích và tổng hợp và đáp án các bài tập).
VÀ
PHÉP TỔNG HỢP
LUYỆN TẬP PHÂN ÍCH VÀ
TỔNG HỢP
I. TÌM HIỂU PHÉP LẬP LUẬN PHÂN TÍCH VÀ TỔNG HỢP
TRANG PHỤC
Không kể trên đường tuần tra, nơi rừng rậm hay suối sâu,…phải cởi giày ra đi chân đất, thông thường trong
doanh trại hay nơi công cộng, có lẽ không ai mặc quần áo chỉnh tề mà lại đi chân đất, hoặc đi giày có bít tất đầy
đủ nhưng phanh hết cúc áo, lộ cả da thịt ra trước mặt mọi người.
Người ta nói: “Ăn cho mình, mặc cho người”, có lẽ nhiều phần đúng. Cô gái một mình trong hang sâu chắc
không váy xoè váy ngắn, không mắt xanh môi đỏ, không tô đỏ chót móng chân móng tay. Anh thanh niên đi tát
nước hay câu cá ngoài cánh đồng vắng chắc không chải đầu mượt bằng sáp thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp … Trang
phục không có pháp luật nào can thiệp, nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó là văn hoá xã hội. Đi
đám cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ nhem, chân tay lấm bùn. Đi dự đám tang không được mặc áo
quần lòe loẹt, nói cười oang oang.
Người xưa đã dạy: “Y phục xứng kì đức”. Ăn mặc ra sao cũng phải phù hợp với hoàn cảnh riêng của mình
và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay toàn xã hội. Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì
cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi. Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị,
nhất là phù hợp với môi trường. Người có văn hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà mình vào cộng đồng
như thế, không kể hình thức còn phải đi với nội dung, tức là con người phải có trình độ, có hiểu biết. Một nhà
văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng
có gì đáng hãnh diện”. Chí lí thay!
Thế mới biết, trang phục hợp văn hoá, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp.
(Theo Băng Sơn, Giao tiếp đời thường)
PHIẾU HỌC TẬP
1) VĐNL trong VB là gì?
............................................................................................................
2) Hãy XĐ bố cục của VB?
.............................................................................................................. ..
...............................................................................................................
3) Nhận xét phần MB ?
.............................................................................................................
4) Phần TB gồm mấy luận điểm?
Vấn đề nghị luận: Trang phục có văn hoá phù hợp với đạo đức, môi
trường.
MỞ BÀI: Đoạn 1
BỐ CỤC
THÂN BÀI: Đoạn
2,3
KẾT BÀI: Đoạn 4
MỞ BÀI:
Không kể trên đường tuần tra, nơi rừng rậm hay suối sâu,...phải cởi giày ra đi chân đất, thông
thường trong doanh trại hay nơi công cộng, có lẽ không ai mặc áo quần chỉnh tề mà lại đi chân đất,
hoặc đi giày có bít tất đầy đủ nhưng phanh hết cúc áo, lộ cả da thịt trước mặt mọi người.
Đưa ra một loạt dẫn chứng về cách ăn mặc để rút ra nhận xét: ăn mặc phải chỉnh tề,
đồng bộ giữa quần áo , giày, tất…
Phần TB
+ “Ăn cho mình, mặc cho người”
+ “Y phục xứng kỳ đức”
Nhóm 1+2: Tác giả lập luận nhưthế nào ở luận điểm:“Ăn cho mình, mặc
cho người”.
Nhóm 3+4: Tác giả lập luận như thế nào ở luận điểm: “Y phục xứng kì
đức”.
DẪN CHỨNG: Đoạn văn 2
Dẫn chứng
Luận điểm:
- Cô gái một mình trong hang sâu chắc không váy
xoè váy ngắn, không mắt xanh môi đỏ, không tô
đỏ chót móng chân móng tay.
Anh thanh niên đi tát nước hay câu cá ngoài cánh
đồng vắng chắc không chải đầu mượt bằng sáp
thơm, áo sơ-mi là phẳng tắp.
Ăn cho
mình,
mặc cho
người
Đi đám cưới không thể lôi thôi lếch thếch, mặt nhọ
nhem, chân tay lấm bùn.
- Đi dự đám tang không được mặc áo quần lòe
loẹt, nói cười oang oang.
Lí lẽ
-Trang phục không có pháp luật nào can thiệp,
nhưng có những quy tắc ngầm phải tuân thủ, đó
là văn hoá xã hội.
Phép lập luận chứng minh + từ phủ định, giả thiết.
Đoạn văn 3:
Lí lẽ
Luận
điểm:
Y phục
xứng
kì
đức
Lí lẽ
Ăn mặc ra sao cũng phải phù hợp với hoàn cảnh riêng của
mình và hoàn cảnh chung nơi công cộng hay toàn xã hội.
Dù mặc đẹp đến đâu, sang đến đâu mà không phù hợp thì cũng
chỉ làm trò cười cho thiên hạ, làm mình tự xấu đi mà thôi.
Xưa nay, cái đẹp bao giờ cũng đi với cái giản dị, nhất
là phù hợp với môi trường.
Lí lẽ
Dẫn chứng
Người có văn hoá, biết ứng xử chính là người biết tự hoà mình
vào cộng đồng. Như thế, không kể hình thức còn phải đi .Với
nội dung tức là con người phải có trình độ, có hiểu biết.
Một nhà văn đã nói: “Nếu có cô gái khen tôi chỉ vì bộ quần áo
đẹp mà không khen tôi có bộ óc thông minh thì tôi chẳng có gì
đáng hãnh diện”.
Phép lập luận giải thích + so sánh, đối chiếu
? Để chốt lại vấn đề tác giả dùng phép lập luận nào? Hãy chỉ ra
câu đó?
? Phép lập luận này thường đứng ở vị trí nào trong văn bản?
? Phép lập luận tổng hợp có vai trò như thế nào?
Đoạn 4 : Kết bài
Thế mới biết, trang phục hợp văn hóa, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là
trang phục đẹp.
Khái quát, chốt lại vấn đề, rút ra cái chung từ những điều phân tích trên.
- Vị trí: Cuối đoạn văn, cuối một phần văn bản, cuối văn bản.
KẾT LUẬN
- Phân tích là phép lập luận trình bày từng bộ phận, phương
diện của một vấn đề nhằm chỉ ra nội dung của sự vật, hiện
tượng.
- Tổng hợp là phép lập luận rút ra cái chung từ những điều đã
phân tích. (Lập luận tổng hợp thường đặt ở cuối đoạn hay
cuối bài, ở phần kết luận của một phần hoặc toàn bộ văn
bản.)
Mối quan hệ qua lại giữa hai phép lập luận:
+ Tuy đối lập nhưng không tách rời nhau.
- Phân tích rồi tổng hợp mới có ý nghĩa, mặt khác phải dựa
trên cơ sở phân tích thì mới có thể tổng hợp được.
So sánh sự giống và khác nhau giữa phép phân tích và
phép tổng hợp:
PHÂN TÍCH
Giống nhau
Khác nhau
Cách
thức
Vai trò
TỔNG HỢP
Mục đích: giúp người đọc, người nghe nhận
thức đúng, hiểu đúng, đủ vấn đề.
Trình bày từng bộ phận,
Khái quát rút
phương diện của vấn đề để ra cái chung từ
chỉ ra nội dung của sự việc, những điều
hiện
Giúp tượng.
ta hiểu vấn đề cụ thể, chi phân tích.
tiết qua nhiều khía cạnh,
nhiều góc độ, nhiều bình diện
khác nhau. Từ đó, thấy được
nội dung, ý nghĩa của vấn đề.
Giúp ta khái
quát, nâng
cao vấn đề.
BÀI TẬP:
Chu Quang Tiềm đã phân tích như thế nào để làm sáng tỏ luận điểm: “Học vấn
không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của
học vấn”?
Bài tập 1:
* Luận điểm:
- Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là
một con đường quan trọng của học vấn.
* Các luận cứ:
- Học vấn là của nhân loại.
- Học vấn của nhân loại là do sách lưu truyền
lại.
- Sách là kho tàng quý báu tích luỹ mọi thành
tựu mà loài người đã tìm được qua từng thời
đại.
- Nếu chúng ta mong muốn tiến lên từ văn hoá
thì phải lấy thành quả đã đạt được trong quá
khứ làm điểm xuất phát.
- Nếu chúng ta xoá bỏ hết các thành quả nhân
loại đã đạt được trong quá khứ thì chúng ta đã
lùi điểm xuất phát đến mấy nghìn năm.
Tác giả nêu ra
luận điểm cơ bản
làm tiền đề cho
lập luận
Dùng giả thiết để
phân tích làm
sáng rõ cho luận
điểm.
Bài tập 2:
Lí do phải chọn sách để đọc
Sách nhiều khiến
người ta không
chuyên sâu, đọc sách
theo kiểu liếc qua, tuy
rất nhiều nhưng đọng
lại thì rất ít. Từ đó
nảy sinh thói hư
danh, nông cạn.
Sách nhiều dễ khiến người
đọc lạc hướng. Đọc tham
khảo nhiều mà không phục
vụ thực chất thì sẽ lãng phí
thời gian và sức lực bởi
những cuốn sách vô bổ, bỏ lỡ
những cuốn sách quan trọng,
cơ bản.
Baøi taäp 3: Phaân tích taàm quan troïng cuûa caùch ñoïc
saùch.
- Khoâng ñoïc thì khoâng coù ñieåm xuaát phaùt cao.
- Ñoïc sách laø con ñöôøng ngaén nhaát ñeå tieáp cận
tri thöùc.
- Ñoïc ít maø kyõ quan troïng hôn nhieàu maø qua loa,
khoâng ích lôïi gì.
- Ñoïc khoâng choïn loïc thì khoâng coù hieäu quaû.
Bài 1(sgk/11): Đọc các đoạn trích sau và cho biết tác giả đã vận dụng phép
lập luận nào và vận dụng như thế nào?
a, Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài […] không thể tóm tắt thơ được, mà
phải đọc lại. Cái thú vị của bài “ Thu điếu” ở các điệu xanh: xanh ao, xanh bờ,
xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc
lá thu rơi; ở những cử động: chiếc thuyền con lâu lâu mới nhích, sóng gợn tí, lá
đưa vèo, tầng mây lơ lửng, ngõ trúc quanh, chiếc cần buông, con cá động; ở các
vần thơ: không phải chỉ giỏi vì là những tử vận hiểm hóc , mà chính hay vì kết
hợp với từ, với nghĩa chữ, đến một cách thoải mái đúng chỗ, do một nhà nghệ sĩ
cao tay; cả bài thơ không non ép một chữ nào, nhất là hai câu 3,4:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
đối với:
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
thật tài tình; nhà thơ đã tìm được cái tốc độ bay của lá: vèo, để tương xứng với
cái mức độ gợn của sóng: tí.
( Toàn tập Xuân Diệu, tập 6)
b, Mấu chốt của thành đạt là ở đâu ? Có người nói thành đạt là do gặp thời, có
người lại cho là do hoàn cảnh bức bách, có người cho là do có điều kiện được học
tập, có người lại cho là do có tài năng trời cho. Các ý kiến đó mỗi ý chỉ nói tới một
nguyên nhân, mà lại đều là nguyên nhân khách quan, họ quên mất nguyên nhân chủ
quan của con người.
Thật vậy. Gặp thời tức là gặp may, có cơ hội, nhưng nếu chủ quan không chuẩn bị
thì mọi cơ hội cũng sẽ qua đi. Hoàn cảnh bức bách tức là hoàn cảnh khó khăn buộc
phải khắc phục. Nhưng gặp hoàn cảnh ấy có người bi quan, thất vọng chán nản, thối
chí; có người lại gồng mình vượt qua. Điều kiện học tập cũng vậy, có người được
cha mẹ tạo cho mọi điều kiện thuận lợi, nhưng mải chơi, ăn diện, kết quả học tập rất
bình thường. Nói tới tài năng thì ai cũng có chút tài, nhưng đó chỉ mới là một khả
năng tiềm tàng, nếu không tìm cách phát huy thì nó cũng bị thui chột. Rút cuộc mấu
chốt của thành đạt là ở bản thân chủ quan của mỗi người, ở tinh thần kiên trì phấn
đấu, học tập không mệt mỏi, laị phải trau dồi đạo đức cho tốt đẹp. Không nên quên
rằng, thành đạt tức là làm được một cái gì đó có ích cho mọi người , cho xã hội,
được xã hội thừa nhận.
Hoạt động nhóm: 3 phút
Nhóm 1
*Đoạn văn a
- Câu 1: Đoạn văn bàn về vấn đề gì?
-Câu 2: Tìm luận điểm của đoạn văn?
Xác định vị trí của câu mang luận
điểm?
-Câu 3: Tìm những dẫn chứng góp
phần làm sáng rõ luận điểm mà em
tìm được?(trình tự phân tích)
- Câu 4: Từ đó chỉ ra đoạn văn vận
dụng phép lập luận nào?
Nhóm 2
* Đoạn văn b
- Câu 1: Đoạn văn bàn về vấn đề gì?
-Câu 2: Tìm luận điểm của đoạn văn?
Xác định vị trí của câu mang luận
điểm?
-Câu 3: Tìm những dẫn chứng, lí lẽ
góp phần làm sáng rõ luận điểm mà
em tìm được?(trình tự phân tích)
- Câu 4: Từ đó chỉ ra đoạn văn vận
dụng phép lập luận nào?
Đoạn văn a
- Vấn đề nghị luận : Nhà thơ Xuân Diệu bình về cái hay, cái đẹp của bài thơ
“Thu điếu” của Nguyễn Khuyến.
- Luận
điểm
:Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài ( đầu đoạn)
- Trình tự phân tích: Dẫn chứng làm sáng tỏ luận điểm ( câu 2)
+ Cái thú vị ở các điệu xanh (câu 2, vế 1)
+ Hay ở những cử động (câu 2, vế 2)
+ Hay ở các vần thơ (câu 2, vế 3)
+ Hay vì cả bài thơ không non ép một chữ nào , nhất là ở câu 3,4 ( câu
2, vế 4).
=> “ Thu điếu” là bài thơ hay cả về nội dung và hình thức nghệ thuật.
=> Đoạn văn vận dụng phép lập luận phân tích ( trình bày theo cách
diễn dịch)
Đoạn văn b
- Vấn đề bàn luận: Nguyên nhân của sự thành đạt
- Luận điểm : Mấu chốt của thành đạt là ở đâu?
( đầu đoạn)
- Trình tự phân tích : Dẫn chứng, lý lẽ làm sáng tỏ luận điểm ( đoạn văn 1,2)
+ Nguyên nhân khách quan
: : Do gặp thời, hoàn cảnh bức bách, điều kiện học tập, tài
năng trời cho ( đoạn văn 1) -> điều kiện cần
+ Nguyên nhân chủ quan : Biết nắm bắt cơ hội, tinh thần vượt khó khăn, kiên trì phấn
đấu học tập không mệt mỏi và không ngừng trau dồi phẩm chất đạo đức của mỗi người
(đoạn văn 2) -> điều kiện đủ
=>phép phân tích.
- Kết luận : Thành đạt tức là làm được cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội,
được xã hội thừa nhận ( câu cuối)
=>phép tổng hợp.
=> Đoạn văn vận dụng phép lập luận phân tích và tổng hợp
Bài 4(sgk/12): Hãy viết đoạn văn tổng hợp
những điều đã phân tích trong bài bàn về đọc
sách.
* Gợi ý
- Hình thức: Đoạn văn tổng hợp (khoảng 7-10 câu).
- Nội dung: Đoạn văn theo phép lập luận tổng hợp từ những điều đã
phân tích trong bài “bàn về đọc sách”.( dựa vào bài tập 3 hoặc ba
luận điểm của văn bản).
Đoạn văn tham khảo
Bàn về đọc sách, tác giả Chu Quang Tiềm đã có cách lí giải
thật là sâu sắc và hấp dẫn. Ông đã nêu ra các lí lẽ vì sao phải đọc
sách, đứng về phương diện cá nhân và phương diện trách nhiệm
với cộng đồng nhân loại. Tác giả phê phán cách học thiếu chuyên
sâu, cách đọc lướt một cách truyền cảm bằng cách so sánh, cách
minh họa, cách dùng con số cụ thể. Tác giả cũng gợi ý cách chọn
sách để đọc: không nên đọc nhiều mà đọc sâu, cần kết hợp đọc
hẹp và đọc rộng.Như vậy có thể nói bài văn là bài học rất quý giá
đối với học sinh, sinh viên chúng ta.
Đoạn văn mẫu
Tóm lại muốn đọc sách có hiệu quả chúng ta
cần phải chọn những loại sách quan trọng, phù
hợp với mình để đọc cho kĩ, ngẫm cho sâu. Đồng
thời chúng ta cũng phải chú trọng đọc rộng để hỗ
trợ cho việc nghiên cứu chuyên sâu.
+ Học thuộc ghi nhớ, hoàn thành bài tập.
+ Biết thực hiện phép phân tích và tổng hợp trong những văn cảnh cụ thể.
+ Phân tích việc vận dụng phép tổng hợp trong một đoạn văn cụ thể.
+ Chuẩn bị phần Luyện tập phân tích và tổng hợp
(Đọc và trả lời câu hỏi, tìm hiểu bài học (Đặc điểm, tác dụng của phép
lập luận phân tích và tổng hợp, sự khác nhau giữa hai phép lập luận phân
tích và tổng hợp và đáp án các bài tập).
 







Các ý kiến mới nhất