Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

BÀI 4 BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ BT CHI BỘ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Chào Anh Nguyên (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:28' 01-03-2023
Dung lượng: 3.5 MB
Số lượt tải: 108
Số lượt thích: 0 người
BÀI 4
CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ
CÔNG TÁC KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT
CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
Giảng viên: Chào Anh Nguyên
Chức vụ: HUV, Bí thư Đảng ủy xã Mường Pồn

KẾT CẤU CỦA BÀI
I.
CÔNG TÁC
KIỂM TRA,
GIÁM SÁT CỦA
TỔ CHỨC CƠ
SỞ ĐẢNG

II.
CÔNG TÁC
KHEN THƯỞNG,
KỶ LUẬT CỦA
TỔ CHỨC CƠ SỞ
ĐẢNG

I. CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA TỔ CHỨC
CƠ SỞ ĐẢNG
1. Mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát
- Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng.
- Công tác kiểm tra của Đảng là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh
giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc những vi phạm của cấp ủy,
tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh
chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, chỉ thị, nghị quyết, quy định, quyết
định, quy chế, kết luận của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

1. Mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát
- Công tác giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng quan sát, theo
dõi, nắm bắt, xem xét, đánh giá, kết luận hoạt động nhằm kịp thời nhắc
nhở để cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát chấp
hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, chỉ thị,
nghị quyết, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng và pháp
luật của Nhà nước và khắc phục, sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm,
vi phạm (nếu có).
Giám sát thường xuyên
Hình thức
Giám sát chuyên đề

2. Nội dung và cách thức tổ chức kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ
sở đảng
Kiểm tra, giám sát là công việc của toàn Đảng. Các tổ chức đảng cần
căn cứ các quy định chung và tình hình thực tế để xây dựng phương
hướng, nhiệm vụ, nội dung, kế hoạch kiểm tra, giám sát
a) Nội dung cơ bản của công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở
đảng
Điểm 2 Điều 30 Điều lệ Đảng quy định: “Các cấp ủy đảng lãnh đạo công
tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát
các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ
Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng”.

a) Nội dung cơ bản của công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng

Trong tình hình hiện nay, công tác kiểm tra, giám sát ở chi bộ, đảng
bộ cơ sở cần tập trung kiểm tra, giám sát những tổ chức đảng và đảng
viên được giao những nhiệm vụ quan trọng liên quan trực tiếp đến phát
huy dân chủ ở cơ sở, phát triển kinh tế, thực hiện chính sách xã hội, giải
quyết việc làm cho nhân dân, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,
phòng, chống tham nhũng, quan liêu và các tiêu cực khác.
Coi trọng kiểm tra, giám sát việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân
chủ, quy chế làm việc, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, kỷ luật, tự
phê bình và phê bình, giữ gìn đoàn kết, thống nhất nội bộ

a) Nội dung cơ bản của công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng

Trong công tác giám sát, cần thực hiện đúng quy định: "Tổ chức
đảng và đảng viên phải thường xuyên tự kiểm tra. Tổ chức đảng cấp trên
kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên… Tổ chức đảng cấp trên
giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên.
Chi bộ giám sát mọi đảng viên sinh hoạt trong chi bộ. Tập trung
giám sát việc thực hiện nghị quyết của chi bộ, thực hiện nhiệm vụ do chi
bộ phân công và theo nhiệm vụ, tiêu chuẩn đảng viên; việc giữ gìn phẩm
chất đạo đức, lối sống và giữ mối liên hệ với tổ chức đảng nơi cư trú.

b) Cách tiến hành tổ chức kiểm tra, giám sát ở tổ chức cơ sở đảng
- Cấp ủy chủ trì, chủ động thực hiện kiểm tra, giám sát theo chương trình
kế hoạch (hằng tháng, hằng quý, hằng năm) đã được xây dựng, kiểm tra,
giám sát việc thực hiện Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, thực hiện Điều lệ Đảng và nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.
- Cấp ủy có thể trực tiếp kiểm tra, hoặc thông qua các thành viên của cấp
ủy và các ban của đảng ủy (ủy ban kiểm tra, ban tổ chức...) để tiến hành
kiểm tra theo kế hoạch. Khi cần có thể kiểm tra bất thường.

- Để tổ chức tốt một cuộc kiểm tra cần làm tốt các bước công việc sau:
+ Căn cứ vào mục đích, yêu cầu và tình hình cụ thể mà lựa chọn nội
dung, đối tượng kiểm tra. Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết, chu đáo và
thông báo cho tổ chức đảng và đảng viên biết.
+ Yêu cầu đảng viên, tổ chức đảng thuộc quyền báo cáo giải trình về
những nội dung cần kiểm tra. Cá nhân, tổ chức chịu sự kiểm tra phải làm
rõ những ưu điểm, khuyết điểm, sai phạm; tự đánh giá mức độ và nguyên
nhân, đề ra phương hướng, biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa
chữa khuyết điểm.

- Để tổ chức tốt một cuộc kiểm tra cần làm tốt các bước công việc sau:
+ Cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan có thẩm quyền kiểm tra nhận xét,
đánh giá ưu, khuyết điểm, nêu những biện pháp để tổ chức đảng và đảng
viên phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm. Đồng thời,
đảng ủy, chi bộ, chi ủy cũng phải tự đánh giá ưu điểm, khuyết điểm và
trách nhiệm của mình trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện
nhiệm vụ chính trị, quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng
viên…

Chi bộ kiểm tra, giám sát đảng viên thông qua sinh hoạt thường kỳ
(kiểm điểm công tác lãnh đạo, tự phê bình và phê bình...); phân tích chất
lượng đảng viên, qua theo dõi, đôn đốc đảng viên thực hiện nhiệm vụ
được giao; nhận xét, đánh giá, phản ánh của các tổ chức đoàn thể và
nhân dân đối với tổ chức đảng và đảng viên
Qua giám sát, nếu phát hiện đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc bị tố
cáo, chi bộ kịp thời xem xét hoặc báo cáo tổ chức đảng cấp trên có thẩm
quyền xem xét giải quyết.

3. Tổ chức, bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của UBKT đảng ủy cơ sở
Điều 31 Điều lệ Đảng quy định việc lập ủy ban kiểm tra các cấp từ đảng
ủy cơ sở trở lên như sau:
“1. Ủy ban kiểm tra các cấp do cấp ủy cùng cấp bầu, gồm một số đồng
chí trong cấp ủy và một số đồng chí ngoài cấp ủy.
2. Các thành viên ủy ban kiểm tra và chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban
kiểm tra cấp dưới phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp chuẩn y, nếu điều
động chủ nhiệm ủy ban kiểm tra sang công tác khác phải được cấp ủy
cấp trên trực tiếp đồng ý.
3. Ủy ban kiểm tra làm việc theo chế độ tập thể, dưới sự lãnh đạo của cấp
ủy cùng cấp và sự chỉ đạo, kiểm tra của ủy ban kiểm tra cấp trên”

Thực hiện quy định này, cần nắm vững và thực hiện tốt một số nd sau:
- Bầu ủy viên UBKT trước, sau đó bầu chủ nhiệm, phó chủ nhiệm
UBKT trong số ủy viên UBKT. Bầu cử được tiến hành bằng phiếu kín.
- Nhiệm kỳ của ủy ban kiểm tra theo nhiệm kỳ của đảng ủy. UBKT khóa
mới điều hành công việc ngay sau khi được bầu, nhận bàn giao từ UBKT
khóa trước.
- Số lượng UBKT đảng ủy cơ sở có từ 3 đến 5 đồng chí (do đảng ủy cơ
sở quyết định), trong đó đồng chí phó bí thư hoặc ủy viên BTV cấp ủy
làm chủ nhiệm. Trường hợp không có BTV cấp ủy thì đồng chí phó bí
thư làm chủ nhiệm, Các ủy viên khác có thể là cấp ủy viên, hoặc đảng
viên phụ trách công tác đoàn thể, bí thư chi bộ, thanh tra nhân dân.

Thực hiện quy định này, cần nắm vững và thực hiện tốt một số nd sau:
- Các thành viên ủy ban kiểm tra và chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban
kiểm tra cấp dưới phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp chuẩn y, nếu điều
động chủ nhiệm ủy ban kiểm tra sang công tác khác phải được cấp ủy
cấp trên trực tiếp đồng ý. Khi thay đổi phó chủ nhiệm hoặc ủy viên ủy
ban kiểm tra (kể cả việc chuẩn bị người thay thế) cấp ủy hoặc ban
thường vụ cấp ủy phải trao đổi với ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp
trước khi thực hiện.
- Đảng ủy bộ phận và chi ủy không lập ủy ban kiểm tra. Tập thể cấp ủy
thực hiện công tác kiểm tra và phân công một cấp ủy viên phụ trách.

- Chế độ làm việc của ủy ban kiểm tra:
+ Ủy ban kiểm tra làm việc dưới sự lãnh đạo của cấp ủy cùng cấp và
dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn; kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra cấp
trên. Ủy ban kiểm tra phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của
Điều lệ Đảng về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban kiểm tra;
định kỳ báo cáo với cấp ủy chương trình, kế hoạch, kết quả thực hiện
nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát của mình
+ Ủy ban kiểm tra thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo
chế độ tập thể, quyết định theo đa số.

b) Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban kiểm tra
1. Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi
phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực
hiện nhiệm vụ đảng viên.
2. Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc
chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm
vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng.

b) Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban kiểm tra
3. Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý
và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính
sách của Đảng, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức, lối sống theo quy định
của Ban Chấp hành Trung ương.
4. Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật quyết định hoặc
đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật.
5. Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếu
nại về kỷ luật Đảng.
6. Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp
ủy cùng cấp"5.

Về kiểm tra, giám sát.
+ Ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở có trách nhiệm kiểm tra các tổ chức
đảng và đảng viên thuộc quyền khi có dấu hiệu vi phạm Cương lĩnh
chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết. Chỉ thị của Đảng, các nguyên
tắc tổ chức của Đảng, vi phạm về tiêu chuẩn và thực hiện nhiệm vụ đảng
viên, cấp ủy viên. Trường hợp đảng viên có dấu hiệu vi phạm là cán bộ
thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý thì ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở báo
cáo lên ủy ban kiểm tra cấp quản lý cán bộ để chỉ đạo tiến hành -> Khi
phát hiện dấu hiệu vi phạm thuộc nội dung nào thì kiểm tra và kết luận
về nội dung đó.

Về kiểm tra, giám sát.
+ Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi
hành kỷ luật đảng. Đánh giá ưu, khuyết điểm về công tác kiểm tra, giúp
cho tổ chức đảng cấp dưới thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn kiểm tra
và thi hành kỷ luật của Đảng. Nội dung kiểm tra bao gồm: kiểm tra việc
thực hiện phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục kiểm tra và
thi hành kỷ luật trong phạm vi quyền hạn quy định; kiểm tra việc khiếu
nại kỷ luật đảng; kiểm tra việc chấp hành các quyết định, thông báo, chỉ
thị của tổ chức đảng cấp trên về việc kiểm tra và thi hành kỷ luật; xem
xét mức độ thi hành kỷ luật của tổ chức đảng đúng hay chưa đúng.

- Về giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên.
+ Tố cáo trong Đảng là việc công dân, đảng viên báo cho tổ chức đảng
hoặc cán bộ, đảng viên có trách nhiệm biết về hành vi của tổ chức đảng
hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là sai trái, vi phạm Điều lệ Đảng,
nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng và chính sách, pháp luật
của Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tổ
chức đảng có thẩm quyền giải quyết tố cáo bao gồm cấp ủy hoặc ban
thường vụ cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp, có nhiệm vụ giải quyết
tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của cấp
ủy cấp mình.

- Về giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên.
+ UBKT của đảng ủy cơ sở có nhiệm vụ giải quyết những tố cáo đối với tổ
chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của đảng ủy cơ sở, có nội
dung liên quan đến việc chấp hành Điều lệ Đảng, đường lối, nghị quyết,
nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; liên quan đến tiêu chuẩn đảng viên,
cấp ủy viên và việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên. Những tố cáo có nội
dung liên quan đến pháp luật, kinh tế... vẫn xem xét giải quyết. Những
trường hợp tố cáo mà UBKT không đủ khả năng, điều kiện xem xét kết
luận thì báo cáo với cấp ủy, để cấp ủy chỉ đạo, phối hợp với các tổ chức, cơ
quan quản lý nhà nước, cơ quan bảo vệ pháp luật xem xét, kết luận và giải
quyết. Những tố cáo về nghi vấn hoạt động chính trị phản động về lịch sử
chính trị thì chuyển cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết.

- Về giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên.
+ Không xem xét, giải quyết những tố cáo giấu tên, mạo tên, không
rõ địa chỉ và những tố cáo có tên đã được cấp có thẩm quyền do Điều
lệ Đảng quy định xem xét kết luận, nay tố cáo lại nhưng không có
thêm tài liệu, chứng cứ mới những tố cáo có tên nhưng nội dung không
cụ thể, không có căn cứ để thẩm tra, xác minh; những thư tố cáo sao
chụp chữ ký mà không ký trực tiếp cũng không xem xét, giải quyết.
+ Tổ chức đảng và đảng viên bị tố cáo, khi được kiểm tra phải báo cáo
trung thực, rõ ràng, đầy đủ, kịp thời với tổ chức đảng có thẩm quyền;
được đưa ra những bằng chứng xác thực để chứng minh nội dung tố cáo
không đúng.

- Về giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên.
+ Bảo đảm bí mật cho người tố cáo, không để cho tổ chức đảng và đảng
viên bị tố cáo chủ trì, giải quyết việc tố cáo đối với mình. ủy ban kiểm
tra (cấp giải quyết tố cáo) phải kiên quyết xử lý hoặc đề nghị với các cấp
có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước cũng như các cơ quan chức năng
bảo vệ pháp luật nghiêm trị mọi hành động trù dập, trả thù người tố cáo,
gây cản trở, không giải quyết tố cáo, bao che cho người bị tố cáo hoặc
lợi dụng tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu cáo, đả kích, gây dư luận xấu đối
với người khác.

- Về giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên.
Giải quyết tố cáo là nhiệm vụ thường xuyên và trực tiếp của ủy ban kiểm
tra. Tiến hành tốt công tác này vừa giúp cho tổ chức đảng và đảng viên
bị tố cáo nhận thức rõ sai lầm, khuyết điểm để ngăn ngừa, sửa chữa hoặc
thanh minh, bảo vệ cho tổ chức đảng, đảng viên bị tố cáo sai, bị vu
cáo..., vừa bảo đảm quyền dân chủ của đảng viên và quần chúng trong
công tác xây dựng Đảng, vừa tăng cường sự đoàn kết nhất trí về chính trị
và tư tưởng trong nhân dân.

- Giải quyết khiếu nại kỷ luật trong Đảng
+ Khiếu nại kỷ luật trong Đảng là quyền của tổ chức đảng và đảng viên
bị thi hành kỷ luật. Cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy và ủy ban kiểm
tra các cấp có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại kỷ luật trong Đảng. Ban
thường vụ, ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở và đảng ủy bộ phận có
trách nhiệm xem xét khiếu nại về kỷ luật của đảng viên do chi bộ quyết
định, nhưng không có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ
luật mà phải đề nghị đảng ủy cơ sở xem xét, quyết định. Việc giải quyết
khiếu nại của tổ chức đảng và đảng viên phải tiến hành tuần tự từ ủy ban
kiểm tra hoặc cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đã quyết định
thi hành kỷ luật. Sau khi được giải quyết, nếu đảng viên hoặc tổ chức
đảng bị thi hành kỷ luật không đồng ý, có khiếu nại tiếp thì cấp trên nữa
mới giải quyết, lần lượt cho đến Ban Chấp hành Trung ương.

- Giải quyết khiếu nại kỷ luật trong Đảng
+ Khi nhận được khiếu nại kỷ luật, cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra phải
thông báo cho tổ chức đảng hoặc người khiếu nại biết. Phải lắng nghe ý
kiến trình bày của người khiếu nại, nghiên cứu nghiêm túc hồ sơ và các
tài liệu có liên quan, xác định vấn đề thẩm tra. xem xét giải quyết. Kể từ
ngày nhận được khiếu nại trong thời hạn 90 ngày đối với cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương và tương đương trở xuống, 180 ngày đối với
cấp Trung ương, cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra phải xem xét giải quyết,
trả lời cho tổ chức đảng hoặc người khiếu nại biết.

- Giải quyết khiếu nại kỷ luật trong Đảng
+ Không giải quyết những trường hợp khiếu nại sau đây: quá thời
hạn 30 ngày kể từ ngày tổ chức đảng, đảng viên nhận được quyết định
kỷ luật; đã được cấp có thẩm quyền cao nhất xem xét, kết luận mà không
có chứng cứ mới; bị toà án quyết định hình phạt từ cảnh cáo trở lên chưa
được cơ quan pháp luật có thẩm quyền hủy bỏ bản án; cá nhân, tập thể
và tổ chức đảng khiếu nại hộ cho tổ chức và người bị thi hành kỷ luật;
khiếu nại khi chưa có quyết định kỷ luật của tổ chức đảng có thẩm
quyền.
Trường hợp người bị thi hành kỷ luật có khiếu nại chưa được giải quyết
mà đã qua đời thì tổ chức đảng vẫn xem xét, giải quyết.

c) Phương châm, phương pháp và hình thức công tác kiểm tra
- Phương châm: nắm vững tư tưởng chỉ đạo: chủ động, chiến đấu, giáo
dục, hiệu quả.
+ Phải thường xuyên chủ động nắm vững tình hình thực hiện nhiệm vụ
chính trị và công tác xây dựng Đảng ở cơ sở. Từ đó, có chương trình, kế
hoạch kiểm tra và tiến hành thực hiện theo chương trình, KH đã đề ra.
+ Khi tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc đã vi phạm,
đã mắc sai lầm, khuyết điểm, tổ chức đảng, các cơ quan có trách nhiệm
trong công tác kiểm tra và mọi đảng viên phải nêu cao tính chiến đấu
đấu tranh tìm ra sự thật, làm rõ đúng sai, làm rõ tính chất, mức độ tác
hại, nguyên nhân vi phạm.... để đi đến kết luận đúng đắn.

c) Phương châm, phương pháp và hình thức công tác kiểm tra
- Phương pháp: nắm vững phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra.
+ Phải dựa vào tổ chức và chính tổ chức đảng phải có trách nhiệm tiến
hành công tác kiểm tra. Phát huy tinh thần tự giác của đảng viên và tổ
chức đảng; động viên giúp đỡ người vi phạm thành khẩn nhận thức đúng
sai lầm, khuyết điểm, thiếu sót để khắc phục, sửa chữa.
+ Phát huy tinh thần xây dựng Đảng của nhân dân, để nhân dân chủ
động và tích cực đóng góp ý kiến cho tổ chức đảng và đảng viên. Việc
lấy ý kiến của nhân dân góp ý cần được lãnh đạo, tổ chức chặt chẽ, chu
đáo bằng nhiều hình thức, phương pháp phù hợp để đem lại kết quả.
+ Phải thận trọng, chu đáo trong việc xác minh, thẩm tra. Chưa thẩm tra,
xác minh thì chưa kết luận.

c) Phương châm, phương pháp và hình thức công tác kiểm tra
- Hình thức:
+ Kiểm tra thường xuyên: được thực hiện thông qua các hoạt động:
Thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng ở cơ sở; thực
hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,...
+ Kiểm tra định kỳ: là hình thức kiểm tra mà các tổ chức đảng xác định
rõ kế hoạch, thời gian, nội dung cụ thể và tạo điều kiện để tiến hành. Nội
dung kiểm tra định kỳ có thể là kiểm tra toàn diện, nhưng cũng có thể
chỉ đi sâu một số nội dung cần thiết, có tính chất chuyên đề.
+ Kiểm tra đột xuất, bất thường: Hình thức này được áp dụng khi có sự
việc đột xuất xảy ra; khi có đơn thư tố cáo, khiếu nại của đảng viên và
quần chúng

I. CÔNG TÁC KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG

1. Công tác khen thưởng
a) Hình thức khen thưởng trong Đảng
- Đối với tổ chức đảng: biểu dương, tặng giấy khen bằng khen, tặng cờ,
tặng thưởng huân chương huy chương và các danh hiệu vinh dự khác
của Đảng và Nhà nước.
- Đối với đảng viên: biểu dương, tặng giấy khen, bằng khen, Huy hiệu
Đảng 30 năm, 40 năm, 45 năm, 50 năm, 55 năm, 60 năm, 65 năm, 70
năm, 75 năm, 80 năm, 85 năm, 90 năm tuổi đảng, tặng thưởng huân
chương, huy chương và các danh hiệu vinh dự khác của Đảng và Nhà
nước.

b) Thẩm quyền khen thưởng
- Chi bộ: biểu dương tổ đảng và đảng viên trong chi bộ.
- Đảng ủy bộ phận: biểu dương tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộ.
- Đảng ủy cơ sở: biểu dương, khen thưởng, tặng giấy khen cho tổ chức đảng
và đảng viên trong đảng bộ.
- Huyện ủy (và tương đương): công nhận tổ chức cơ sở đảng trong sạch,
vững mạnh, tặng giấy khen cho tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộ.
- Tỉnh ủy (và tương đương): quyết định tặng bằng khen, tặng cờ cho tổ chức
đảng, tặng Huy hiệu Đảng 30 năm, 40 năm, 45 năm, 50 năm, 55 năm, 60
năm, 65 năm, 70 năm, 75 năm, 80 năm, 85 năm, 90 năm tuổi đảng, bằng
khen cho đảng viên trong đảng bộ.
- Tặng huân chương, huy chương và các danh hiệu cao quý khác: Theo quy
định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư

c) Tiêu chuẩn, đối tượng và thủ tục khen thưởng
- Tiêu chuẩn, đối tượng tặng Huy hiệu Đảng:

Những đảng viên hoạt động cách mạng lâu năm, giữ gìn được tư cách
đảng viên, có đủ 30 năm, 40 năm, 45 năm, 50 năm, 55 năm, 60 năm, 65
năm, 70 năm, 75 năm, 80 năm, 85 năm, 90 năm tuổi đảng trở lên thì
được tặng Huy hiệu Đảng. Đảng viên bị bệnh nặng hoặc từ trần có thể
được xét tặng, truy tặng Huy hiệu Đảng sớm, nhưng không được quá
một năm; đảng viên 70 năm, 75 năm, 80 năm, 85 năm, 90 năm tuổi đảng
trở lên nếu bị bệnh nặng có thể được xét tặng Huy hiệu Đảng sớm nhưng
không được quá 02 năm so với quy định.

c) Tiêu chuẩn, đối tượng và thủ tục khen thưởng
- Tiêu chuẩn, đối tượng tặng Huy hiệu Đảng:

Tại thời điểm xét tặng Huy hiệu Đảng, đảng viên bị kỷ luật về Đảng từ
hình thức cảnh cáo trở lên thì chưa được xét tặng; sau sáu tháng (đối với
kỷ luật cảnh cáo), một năm (đối với kỷ luật cách chức), nếu sửa chữa tốt
khuyết điểm sẽ được xét tặng Huy hiệu Đảng.
- Việc tặng giấy khen, bằng khen, tặng cờ đối với tổ chức đảng, tặng giấy
khen, bằng khen đối với đảng viên và thủ tục xét tặng Huy hiệu Đảng,
các hình thức khen thưởng khác ở trong Đảng thực hiện theo hướng dẫn
của Ban Tổ chức Trung ương.

d) Giá trị tặng phẩm kèm theo các hình thức khen thưởng của Đảng
- Tặng phẩm kèm theo các hình thức khen thưởng huân chương, huy
chương và các danh hiệu cao quý khác thực hiện theo quy định chung
của Nhà nước.
 + “Huân chương Sao vàng”: 46,0 lần mức lương cơ sở; “Huân chương Hồ Chí
Minh”: 30,5 lần mức lương cơ sở; “Huân chương Độc lập” hạng nhất, “Huân
chương Quân công” hạng nhất: 15,0 lần mức lương cơ sở; “Huân chương Độc
lập” hạng nhì, “Huân chương Quân công” hạng nhì: 12,5 lần mức lương cơ sở;
“Huân chương Độc lập” hạng ba, “Huân chương Quân công” hạng ba: 10,5 lần
mức lương cơ sở;
+ “Huân chương Lao động” hạng nhất, là 9,0 lần mức lương cơ sở;
+ “Huân chương Lao động” hạng nhì là 7,5 lần mức lương cơ sở;
+ “Huân chương Lao động” hạng ba là 4,5 lần mức lương cơ sở.

d) Giá trị tặng phẩm kèm theo các hình thức khen thưởng của Đảng
- Tặng phẩm kèm theo đối với các đảng viên được tặng Huy hiệu Đảng
và các hình thức khen thưởng khác trong Đảng được quy định thống nhất
và nguồn kinh phí được trích từ quỹ khen thưởng chung của các địa
phương và ngành hoặc một phần từ tài chính Đảng, theo hướng dẫn của
Văn phòng Trung ương Đảng.
Hiện nay, mức tiền thưởng kèm theo Huy hiệu Đảng được quy định cụ
thể tại Hướng dẫn 56-HD/VPTW ngày 27/10/2015 của Văn phòng TW
Đảng. 

Huy hiệu Đảng

Mức tặng thưởng kèm theo

Mức tiền thưởng (đồng)

Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng

1,5 lần mức tiền lương cơ sở

2.240.000

Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng

2,0 lần mức tiền lương cơ sở

2.980.000

Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng

3,0 lần mức tiền lương cơ sở

4.470.000

Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng

3,5 lần mức tiền lương cơ sở

5.220.000

Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng

5,0 lần mức tiền lương cơ sở

7.450.000

Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng

6,0 lần mức tiền lương cơ sở

8.940.000

Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng

8,0 lần mức tiền lương cơ sở

11.920.000

Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng

10,0 lần mức tiền lương cơ sở

14.900.000

Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng

15,0 lần mức tiền lương cơ sở

22.350.000

2. Về kỷ luật đảng
a) Một số vấn đề chung về kỷ luật Đảng
Mục đích kỷ luật của Đảng: Thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và
đảng viên nhằm giữ vững sự đoàn kết trong Đảng, tăng cường sự thống
nhất ý chí và hành động, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm cho
Đảng luôn trong sạch, vững mạnh.

Đối tượng xử lý kỷ luật:
- Lợi dụng dân chủ để tuyên truyền chống Đảng; cố ý nói, viết và làm
trái Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng; vô tổ chức, vô kỷ luật, không
chấp hành nghị quyết chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước.
- Vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc
tập trung dân chủ; cơ hội, kèn cựa, địa vị, độc đoán, chuyên quyền, lợi
dụng dân chủ để kéo bè, kéo cánh, gây mất đoàn kết nội bộ.
- Những hành vi tham nhũng, buôn lậu của cán bộ đảng viên ở bất kỳ cấp
nào, lĩnh vực nào.

Đối tượng xử lý kỷ luật:
- Quan liêu, thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý để địa phương, đơn vị
mình trực tiếp phụ trách xảy ra tham nhũng, lãng phí mất đoàn kết và các
tiêu cực khác gây hậu quả nghiêm trọng. Bản thân gây thiệt hại về kinh
tế phải bồi hoàn nhưng cố ý không bồi hoàn.
- Suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống: nghiện ma tuý; nghiện rượu,
bia đến mức bê tha; tổ chức, tham gia các hoạt động không lành mạnh,
bất chính; hành nghề mê tín dị đoan, tham gia tà đạo...
Đảng viên ở bất kỳ cương vị nào, nếu vi phạm một trong những nội
dung nêu trên đều phải xử lý kỷ luật nghiêm minh.

- Tính nghiêm túc và tự giác của kỷ luật Đảng
+ Nghiêm túc là mọi tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành vô điều
kiện kỷ luật của Đảng, Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị và
các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Đảng không giảm bớt yêu
cầu có tính nguyên tắc đó đối với bất cứ ai; không để cho ai có đặc
quyền, đặc lợi và không cho phép ai được coi là ngoại lệ.
+ Tự giác là đặc trưng cơ bản của kỷ luật trong Đảng. Mọi tổ chức đảng
và đảng viên trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng đều phải tự giác
chấp hành kỷ luật của Đảng.

- Phương châm thi hành kỷ luật
+ Công minh: bất cứ tổ chức đảng và đảng viên nào, không phân biệt tổ
chức đảng cấp trên hay cấp dưới, đảng viên có chức vụ cao hay thấp,
tuổi đảng nhiều hay ít nếu vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật đều
phải bị xử lý kỷ luật, không ai được ngoại lệ, không có khu vực cấm.
- Chính xác: việc thi hành kỷ luật phải đúng đối tượng vi phạm, đúng nội
dung, tính chất, mức độ tác hại và nguyên nhân vi phạm. Phải căn cứ vào
các bằng chứng xác thực, phân biệt bản chất và hiện tượng, vi phạm do
nhận thức không đúng hay cố ý làm trái; vi phạm nhất thời hay có hệ
thống hoặc do những yếu tố khác..., để xử lý được chính xác.

- Phương châm thi hành kỷ luật
- Kịp thời: việc thi hành kỷ luật phải được xem xét và xử lý một cách
khẩn trương, không để chậm trễ, kéo dài làm giảm hay mất tác dụng giáo
dục của việc thi hành kỷ luật, ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ
chính trị và công tác xây dựng Đảng.

- Các hình thức kỷ luật
+ Đối với tổ chức đảng, có ba hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo
và giải tán.
+ Đối với đảng viên chính thức, có bốn hình thức kỷ luật: khiển trách,
cảnh cáo, cách chức và khai trừ ra khỏi Đảng.
+ Đối với đảng viên dự bị: khiển trách, cảnh cáo. Nếu vi phạm đến mức
nghiêm trọng, không đủ tư cách đảng viên thì xóa tên trong danh sách
đảng viên dự bị (không thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ).

- Thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ, đảng ủy
+ Điều 36 Điều lệ Đảng như sau: “Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh
cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc
diện cấp ủy cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo
đức, lối sống sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm
vụ do cấp trên giao).
+ Đảng ủy cơ sở quyết định khiển trách cảnh cáo đảng viên trong đảng
bộ, cách chức cấp ủy viên cấp dưới.
+ Đảng ủy cơ sở được ủy quyền quyết định kết nạp đảng viên thì có
quyền quyết định khai trừ đảng viên, nhưng không phải là cấp ủy viên
cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý“.

- Một số vấn đề cần chú ý
+ Đối với cấp ủy viên các cấp sinh hoạt tại chi bộ, từ ủy viên đảng ủy cơ
sở cho đến ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và cán bộ thuộc diện cấp
ủy cấp trên quản lý nếu vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao, phải áp dụng
hình thức kỷ luật từ khiển trách trở lên thì chi bộ đề nghị lên cấp có thẩm
quyền xem xét, quyết định.
- Quyết định kỷ luật hoặc đề nghị thi hành kỷ luật bằng các hình thức:
khiển trách, cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên phải được biểu quyết
với sự đồng ý của trên một nửa số thành viên của tổ chức đảng (ở chi bộ
là đảng viên chính thức).

- Một số vấn đề cần chú ý
- Trường hợp xóa tên đảng viên, khai trừ đảng viên thì phải được ít nhất
hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng nhất trí đề nghị và được cấp
ủy cấp trên có thẩm quyền quyết định với sự nhất trí của trên một nửa số
thành viên.
- Việc biểu quyết kỷ luật phải được thực hiện bằng phiếu kín. Trường
hợp biểu quyết mà không đủ số phiếu cần thiết như quy định thì phải báo
cáo đầy đủ kết quả bỏ phiếu lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm chỉnh.

b) Về nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật ở chi bộ, đảng bộ cơ sở
* Nguyên tắc thi hành kỷ luật
- Về quyết định thi hành kỷ luật:
+ Chỉ có các tổ chức đảng do Điều lệ Đảng quy định và Ban Chấp hành
Trung ương ủy quyền mới có thẩm quyền quyết định thi hành kỷ luật.
Quyết định kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên có hiệu lực ngay sau khi
công bố, thời gian công bố chậm nhất không quá 15 ngày, kể từ ngày ký
quyết định kỷ luật. Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghiêm
chỉnh mọi quyết định kỷ luật; nếu không đồng ý thì có quyền khiếu nại,
nhưng trong khi chưa được giải quyết phải chấp hành nghiêm chỉnh kỷ
luật đã được công bố.

- Về quyết định thi hành kỷ luật:
+ Trường hợp chi bộ, đảng ủy không xử lý, hoặc xử lý không đúng mức
đối với đảng viên vi phạm thì tổ chức đảng cấp trên quyết định các hình
thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của chi bộ
và đảng ủy.
+ Trường hợp đảng viên bị kỷ luật bằng hình thức cách chức, trong vòng
một năm kể từ ngày có quyết định, không được bầu vào cấp ủy, không
được bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương và cao hơn. Đề nghị của tổ
chức đảng cấp dưới về các hình thức kỷ luật cách chức, khai trừ ra khỏi
Đảng, giải tán tổ chức đảng khi chưa được tổ chức có thẩm quyền quyết
định công bố thì đảng viên đó vẫn được sinh hoạt đảng, tổ chức đảng đó
vẫn được hoạt động.

- Về quyết định thi hành kỷ luật:
+ Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong
vòng một tháng (01 tháng) kể từ ngày nhận được quyết định, có quyền
khiếu nại với cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Bí thư
Trung ương.
 
Gửi ý kiến