Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

bài 1 bồi dưỡng nhận thức về Đảng

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: phan thi mo
Ngày gửi: 10h:33' 10-03-2023
Dung lượng: 442.5 KB
Số lượt tải: 60
Số lượt thích: 0 người
Bài 2

ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN
VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

NỘI DUNG BÀI GỒM :
I. ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI - MỘT SỰ LỰA
CHỌN HỢP QUY LUẬT, HỢP LÒNG DÂN
1. Sự lựa chọn khách quan của lịch sử
2. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất
đúng đắn của cách mạng Việt Nam

II. SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ
ĐẶC ĐIỂM, ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA
XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA MÀ NHÂN
DÂN TA XÂY DỰNG
1. Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta
2. Những đặc trưng cơ bản của xã
hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây
dựng trong Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội

III. SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ
PHƯƠNG THỨC ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI Ở NƯỚC TA
1. Phương hướng đi lên chủ nghĩa
xã hội trong Cương lĩnh 1991 của Đảng
2. Sự bổ sung, phát triển về
phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta của Đại hội X
3. Sự bổ sung, phát triển về
phương hướng cơ bản đi lên chủ nghĩa
xã hội trong Cương lĩnh (bổ sung, phát
trển năm 2011)

I. ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI - MỘT SỰ LỰA CHỌN HỢP
QUY LUẬT, HỢP LÒNG DÂN

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội là con đường duy
nhất đúng mà Đảng, Bác Hồ và
dân tộc Việt Nam đã lựa chọn, là
bài học lớn xuyên suốt trong cách
mạng Việt Nam.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn
90 năm qua cho chúng ta nhận thức sâu
sắc hơn bài học độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội. Sự gắn kết giữa
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
cũng chính là con đường tất yếu khách
quan, hợp với quy luật phát triển của đất
nước, hợp lòng người. Đó là sự lựa
chọn của lịch sử, của nhân dân ta đi
theo Đảng, Bác Hồ, làm nên những
thắng lợi vĩ đại, đưa dân tộc lên tầm cao
mới của thời đại.

1. Sự lựa chọn khách quan của lịch
sử
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược
Việt Nam, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên
đấu tranh chống lại kẻ xâm lược. Từ năm
1858 đến năm 1930, đã có hàng trăm cuộc
khởi nghĩa, phong trào yêu nước dưới sự
lãnh đạo của các sĩ phu, các nhân sĩ, trí
thức, nông dân, binh lính yêu nước diễn ra
theo nhiều khuynh hướng chính trị khác
nhau.

Đó là các cuộc khởi nghĩa chống
thực dân Pháp của nông dân Nam Bộ
dưới sự lãnh đạo của Trương Công
Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung
Trực; các cuộc chiến quyết tử bảo vệ
thành Gia Định, thành Hà Nội của
Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, phong
trào Cần Vương; phong trào Đông Du,
Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân; cuộc
khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, …

Dù tràn đầy lòng yêu nước, đức hi
sinh nhưng các cuộc khởi nghĩa, các
phong trào đó đều bị thực dân Pháp
đàn áp tàn bạo và thất bại. Vấn đề độc
lập dân tộc không được giải quyết,
trước hết là do không có đường lối
cách mạng đúng đắn giới sự chỉ đạo
của một hệ tư tưởng tiên tiến, khoa học
và cách mạng. Đó là sự khủng hoảng
đường lối cứu nước.

Tháng 6-1911 người thanh niên
yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn
Ái Quốc, Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường
cứu nước. Người đã đi qua nhiều
nước, nhiều châu lục, vừa lao động
kiếm sống, vừa quan sát, nghiên cứu lý
luận và kinh nghiệm của các nước, rút
ra nhiều bài học quý báu và bổ ích, là
cơ sở cho sự lựa chọn con đường
cách mạng của mình.

Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra và
thắng lợi đã ảnh hưởng sâu sắc đến Nguyễn
Ái Quốc. Nhưng bước ngoặt lớn trong tư
tưởng của Người là khi được đọc Sơ thảo
lần thứ nhất những luận cương về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin
(1920), tác phẩm lý luận bàn về vấn đề cách
mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc
địa trong thời đại cách mạng vô sản. Người
đã tìm thấy con đường duy nhất đúng đắn
để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách đô
hộ của thực dân Pháp.

Đó là con đường cách mạng vô sản,
giải phóng dân tộc gắn với giải phóng
giai cấp; độc lập dân tộc gắn với chủ
nghĩa xã hội; cách mạng giải phóng
dân tộc từng nước gắn với phong trào
cách mạng thế giới… Người khẳng
định: “Muốn cứu nước và giải phóng
dân tộc không có con đường nào khác
là con đường cách mạng vô sản”.

Với niềm tin đó, Người tổ chức
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin
vào nước ta, sáng lập và rèn luyện
Đảng ta, lãnh đạo nhân dân ta
giành từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác. Toàn dân ta đi theo Đảng. Vì
vậy, độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của
lịch sử Việt Nam, của toàn dân tộc
Việt Nam.

Căn cứ chủ yếu của sự lựa chọn đó thể
hiện ở các điểm sau:
Một là, cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã
mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm
vi toàn thế giới. Chính tính chất của thời đại
mới tạo ra khả năng hiện thực cho những
dân tộc lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Những khả năng hiện thực này giúp giải
quyết vấn đề giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa đang bế tắc về hướng đi.

Hai là, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới
giải phóng triệt để giai cấp vô sản và
nhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột
bất công, mới đem lại cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân và
đưa nhân dân lao động trở thành
những người làm chủ xã hội. Độc lập
dân tộc chỉ có gắn với chủ nghĩa xã hội
thì mới vững chắc.

“Độc lập dân tộc là điều kiện
tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở
bảo đảm vững chắc cho độc lập
dân tộc” như Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát
triển năm 2011) của Đảng đã chỉ
rõ.

- Chủ nghĩa xã hội bảo đảm
quyền tự quyết dân tộc, quyền lựa
chọn chế độ chính trị, lựa chọn con
đường và mô hình phát triển độc
lập cả về chính trị, văn hóa.

- Chủ nghĩa xã hội thực sự bảo
đảm quyền làm chủ của nhân dân;
nhân dân có cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc; con người được
phát triển toàn diện, có năng lực và
điều kiện làm chủ, xóa bỏ tình trạng
áp bức, bóc lột, nô dịch của dân
tộc này với dân tộc khác về chính
trị, kinh tế và tinh thần.

- Chủ nghĩa xã hội tạo ra sự
trao đổi, hợp tác kinh tế, văn hóa
giữa các nước dựa trên nguyên tắc
tôn trọng chủ quyền của nhau, bình
đẳng và cùng có lợi, vì một thế giới
không có chiến tranh, không có sự
hoành hành của cái ác, của những
sự tàn bạo và bất công, bảo đảm
cho con người sống trong an ninh
và hạnh phúc.

2. Độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn
duy nhất đúng đắn của cách mạng
Việt Nam
Trong 90 năm qua, Đảng và nhân
dân ta luôn kiên trì và thực hiện mục
tiêu này. Nhờ vậy mà cách mạng
nước ta đã dành được những thắng
lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại:

Một là, thắng lợi của cách mạng
Tháng tám năm 1945 và việc thành lập
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đây là kết quả tổng hợp của các phong
trào cách mạng liên tục diễn ra trong 15
năm sau ngày thành lập Đảng, từ cao
trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, cuộc vận động
dân chủ 1936 - 1945 đến cao trào giải
phóng dân tộc 1939 - 1945. Cách mạng
Tháng Tám đã xóa bỏ chế độ thuộc địa
nửa phong kiến ở nước ta, mở ra một kỷ
nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hai là, thắng lợi của các cuộc
kháng chiến oanh liệt để giải phóng
dân tộc, bảo vệ tổ quốc, đánh thắng
chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn
thành cách mạng dân tộc, dân chủ
nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ
quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa
xã hội, góp phần quan trọng vào
việc đấu tranh của nhân dân thế giới
vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội.

Ba là, thắng lợi to lớn và có ý
nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi
mới, tiến hành công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, hội nhập quốc tế đưa
đất nước từng bước quá độ lện
chủ nghĩa xã hội với mục tiêu “dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh”; củng cố vững
chắc hơn độc lập dân tộc, từng
bước đưa nước ta đi lên chủ nghĩa
xã hội.

Bài học lớn, được đặt ở vị trí
hàng đầu qua các nhiệm kỳ đại hội
của Đảng là bài học phải kiên định
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh.

II. SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ
ĐẶC ĐIỂM, ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA XÃ
HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA MÀ NHÂN DÂN
TA XÂY DỰNG

Đảng ta đã nhận thức ngày càng rõ
ràng hơn những đặc điểm của thời kỳ
quá độ và những đặc trưng cơ bản của
chủ nghĩa xã hội. Tại Đại hội VII (Tháng
6-1991), Đảng đã khái quát những đặc
trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Đại
hội X và XI của Đảng đã bổ sung, phát
triển các đặc trưng trên.

1. Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Về đặc điểm của thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại
Đại hội VII của Đảng năm 1991 (sau đây
gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991) và được
bổ sung, phát triển tại Đại hội XI (gọi tắt
là Cương lĩnh năm 2011), đều khẳng
định:

- Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã
hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
- Từ một xã hội vốn là thuộc địa
nửa phong kiến, đi lên chủ nghĩa xã
hội, lực lượng sản xuất rất thấp.
- Đất nước trải qua chiến tranh ác
liệt kéo dài nhiều chục năm, hậu quả
xã hội do chiến tranh để lại rất nặng nề.
- Các thế lực thù địch thường
xuyên tìm cách phá hoại.

Đó là những khó khăn khách quan
trên con đường quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta, cho thấy thời kỳ quá
độ ở Việt Nam là một thời kỳ lịch sử lâu
dài, phải giải quyết hàng loạt nhiệm vụ
mới mẻ, phức tạp, chưa có tiền lệ.
Bên cạnh đó, Việt Nam quá độ lên
chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa cũng có nhiều thuận lợi:

- Dân tộc ta là dân tộc anh hùng, có ý
chí vươn lên mãnh liệt; nhân dân ta có
lòng yêu nước nồng nàn, có truyền
thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao
động và sáng tạo, luôn luôn ủng hộ và
tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.
- Chúng ta đã từng bước xây dựng
được những cơ sở vật chất - kỹ thuật rất
quan trọng.
- Đất nước hòa bình và thống nhất.
- Thời cơ phát triển do cách mạng
khoa học - công nghệ và xu thế quốc tế
hóa đời sống kinh tế thế giới tạo ra.

2. Những đặc trưng cơ bản của xã hội xã
hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng trong
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội

a) Cương lĩnh năm 1991 đã khái quát sáu
đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà
nhân dân ta xây dựng là:

- Do nhân dân lao động làm chủ.
- Có một nền kinh tế phát triển cao
dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất
chủ yếu.

- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng khỏi áp
bức, bóc lột, bất công, làm theo năng
lực, hưởng theo lao động, có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều
kiện phát triển toàn diện cá nhân.
- Các dân tộc trong nước bình đẳng,
đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến
bộ.
- Có quan hệ hữu nghị hợp tác với
nhân dân tất cả các nước trên thế giới.

b) Về đặc trưng của xã hội xã hội chủ
nghĩa ở nước ta được bổ sung, phát
triển tại Đại hội X
Tổng kết một số vấn đề lý luận và
thực tiễn qua hơn 35 năm đổi mới, trên
cơ sở Cương lĩnh 1991, Đại hội X đã bổ
sung và phát triển, nêu lên tám đặc
trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa ở
nước ta:

Một là, xã hội xã hội chủ nghĩa mà
nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân
giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ,
văn minh. (Đây là đặc trưng mới mà
Cương lĩnh năm 1991 chưa đề cập. Sự
bổ sung, phản ánh yêu cầu diễn đạt
chủ nghĩa xã hội một cách khái quát,
ngắn gọn, dễ hiểu nhất).
Hai là, do nhân dân làm chủ. (So
với Cương lĩnh năm 1991 đã bỏ cụm từ
“lao động” cho đúng với thực tế khi đã
xây dựng về cơ bản chủ nghĩa xã hội).

Ba là, có nền kinh tế phát triển cao, dựa
trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất. (So với Cương lĩnh năm
1991 đã bỏ cụm từ “dựa trên chế độ công hữu
về các tư liệu sản xuất chủ yếu” và thay bằng
cụm từ mới “quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”
nhằm tránh sự hiểu nhầm, xuyên tạc về
đường lối kinh tế của Đảng ta. Cách diễn đạt
này không trái với Cương lĩnh năm 1991 vì
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực
lượng sản xuất hiện đại trong điều kiện nền
kinh tế phát triển cao chính là quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa).

Bốn là, có nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc.
Năm là, con người được giải phóng
khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển
toàn diện. (So với Cương lĩnh năm
1991 đã bỏ cụm từ “bóc lột” xuất phát
từ thực tế khi kết thúc thời kỳ quá độ
và do khái niệm “bóc lột” còn có ý kiến
khác nhau).

Sáu là, các dân tộc trong cộng đồng
Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ
và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. (So với
Cương lĩnh năm 1991 đã bổ sung cụm
từ “tương trợ”).
Bảy là, có Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản. (Đặc trưng này chưa
được đề cập trong Cương lĩnh năm
1991. Sự bổ sung thể hiện nhận thức rất
mới của Đảng về Nhà nước xã hội chủ
nghĩa).

Tám là, có quan hệ hữu nghị và hợp
tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Như vậy, so với Cương lĩnh năm
1991, về các số lượng Đại hội X đã bổ
sung hai đặc trưng mới của xã hội xã hội
chủ nghĩa và sửa đổi một số ý trong 6
đặc trưng nêu trong Cương lĩnh 1991.
Đó là bước phát triển mới của Đảng
trong nhận thức lý luận và tổng kết thực
tiễn về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân
dân ta xây dựng.

c) Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục
hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội ở
nước ta
Tổng kết 20 năm thực hiện Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội XI
tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thêm các
đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa
mà nhân dân ta xây dựng gồm:

- Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh. (So với
Đại hội X đưa cụm từ “dân chủ” lên
trước “công bằng” cho phù hợp về
lý luận và thực tiễn mối quan hệ
giữa dân chủ và công bắng);
- Do nhân dân làm chủ

- Có nền kinh tế phát triển cao dựa
trên lực lượng sản xuất hiện đại và
quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp.
(Thay đổi so với Đại hội X trong cách
diễn đạt về quan hệ sản xuất nhằm
khẳng định quả quyết hơn về quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa khi kết thúc
thời kỳ quá độ và để khắc phục tư
tưởng chủ quan, nóng vội muốn nhanh
chóng có quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa khi chưa có đủ điều kiện …).
- Có nền văn hóa kinh tế tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc.

- Con người có cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển
toàn diện. (So với Đại hội X bỏ cụm từ
“con người được giải phóng khỏi áp bức,
bất công” cho phù hợp với thực tế khi kết
thúc thời kỳ quá độ).
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt
Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và
giúp nhau cùng phát triển. (So với Đại hội
X bổ sung các cụm từ “tôn trọng” và “phát
triển” vì đây là những vấn đề rất quan
trọng trong quan hệ dân tộc hiện nay);

- Có Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản
lãnh đạo.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác
với nhân dân các nước trên thế giới.

Đại hội XI cũng khẳng định: để xây
dựng được xã hội với các đặc trưng
trên phải tiến hành một quá trình cách
mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức
tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra
sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội; nhất thiết phải
trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với
nhiều bước phát triển, nhiều hình thức
tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau.

III. SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ
PHƯƠNG HƯỚNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI Ở NƯỚC TA
Phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta là không qua giai đoạn phát triển chủ
nghĩa tư bản. Đó là đặc điểm cơ bản nhất của
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta. Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tức là bỏ
qua việc xác lập địa vị thống trị của quan hệ
sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ
nghĩa. Nhận thức của Đảng về quá trình này
ngày càng hoàn chỉnh hơn.

1. Phương hướng đi lên chủ nghĩa xã
hội trong Cương lĩnh 1991 của Đảng
Cương lĩnh năm 1991 nêu bảy phương
hướng cơ bản:
Một là, xây dựng nhà nước xã hội chủ
nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và tầng
lớp tri thức làm nền tảng, do Đảng Cộng
sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền
dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ
cương xã hội, chuyên chính với mọi hành
động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và
của nhân dân.

Hai là, phát triển lực lượng sản
xuất, công nghiệp hóa đất nước theo
hướng hiện đại gắn liền với phát
triển một nền nông nghiệp toàn diện
là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng
bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội, không
ngừng nâng cao năng suất lao động
xã hội và cải thiện đời sống nhân
dân.

Ba là, phù hợp với sự phát triển của
lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp
đến cao với sự đa dạng về hình thức sở
hữu. Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế quốc
doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy
phân phối theo kết quả lao động và hiệu
quả kinh tế là chủ yếu.

Bốn là, tiến hành cách mạng xã hội chủ
nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa làm
cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời
sống tinh thần của xã hội. Kế thừa và phát huy
những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả
các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh
hoa văn hóa của nhân loại, xây dựng một xã
hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và
phẩm giá của con người, với trình độ tri thức,
đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao.
Chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ trái với
những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và
những giá trị cao quý của loài người, trái với
phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.

Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn
kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận
dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng
phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước
mạnh. Thực hiện chính sách đối ngoại hòa
bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các
nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế
của giai cấp công nhân, đoàn kết với các
nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực
lượng đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ, và tiến bộ xã hội trên thế
giới.
 
Gửi ý kiến