Tìm kiếm Bài giảng
KNTT - Bài 17. Cuộc đấu tranh bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc của người Việt

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Võ Đức Thành
Ngày gửi: 19h:42' 22-03-2023
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 2353
Nguồn:
Người gửi: Võ Đức Thành
Ngày gửi: 19h:42' 22-03-2023
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 2353
Số lượt thích:
1 người
(Phạm Thị Hạnh)
CHÀO CÁC EM ĐẾN VỚI
MÔN LỊCH SỬ
Em hãy cho biết Việt nam có những
phong tục nào? Tìm hiểu các truyền
thống tốt đẹp của dân tộc Việt nam
mà em biết?
*Các phong tục cổ truyền ở Việt nam :
- Tết Táo Quân
- Gói bánh chưng
- Chưng mâm ngũ quả
- Đón giao thừa
- Lì xì
- Đi chùa hái lộc…
1.Sức sống của nền văn hóa bản địa.
2.Tiếp thu có chọn lọc văn hóa Trung Hoa.
1.Sức sống của nền văn hóa bản địa.
Những biểu hiện nào cho thấy chính sách đồng hóa
của các triều đại phong kiến phương Bắc đối với
nước ta thất bại?
Người Việt luôn có ý thức giữ gìn nền văn hóa bản địa
của mình:
+ Sống ở làng quê trong những ngôi nhà giản dị.
+ Người Việt vẫn nghe - nói, truyền lại cho con cháu
tiếng mẹ đẻ.
+ Những tín ngưỡng truyền thống như thờ cúng tổ tiên,
thờ các vị thần tự nhiên ...
+ Trong các làng xã, những phong tục tập quán: búi tóc,
xăm mình, nhuộm răng đen, ăn trầu, làm bánh chưng,
bánh dày,...vẫn được lưu truyền từ đời này sang đời khác.
Sách Lĩnh Nam chích quái (phần Hồng Bàng thị truyện) viết như
sau:
Bấy giờ, dân trên núi xuống nước đánh bắt cá thường bị thuồng
luồng gây thương tổn, bèn cùng nhau tâu việc ấy với Vua. Vua nói:
– Các giống ở trên núi khác với các loài ở dưới nước. Các loài ở
dưới nước chỉ ưa những gì giống với mình và ghét những gì khác
mình, vì vậy, ta mới bị gây hại.
Nói rồi, Vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình
thuỷ quái vào người. Từ đó, không bị thuồng luồng gây thương
tích nữa. Tục vẽ mình của dân Bách Việt bắt đầu có kể từ đấy.
Đặc biệt thời Trần, những thành viên thuộc đội quân Thánh Dực
bảo vệ xa giá sẽ được xăm lên trán ba chữ Thiên Tử Quân (Quân
đội Thiên Tử). Nghệ thuật này còn được thấy rõ rệt dưới triều đại
này với việc xăm hai chữ Sát Thát (Giết giặc Tarta) trong thời kỳ
kháng chiến chống Nguyên Mông, thể hiện sự quyết tâm đồng
lòng chiến đấu, bảo vệ giang sơn của cha ông ta. Thường những
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp
sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng
……
Thơ: Mời trầu của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương
“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôï”.
Hãy chỉ ra những phong tục của người Việt được
nhắc đến trong tư liệu trên.
Hãy kể tên một vài phong tục truyền thống còn tồn
tại đến ngày nay mà em biết?
- Tục ăn trầu
- Làm bánh chưng, bánh tét ngày tết
- Thờ cúng tổ tiên.
- Tết Nguyên Đán
- Lễ cúng Thổ Công
- Tết Thanh minh
- Tết Trung Nguyên ( Rằm tháng bảy )
- Tết trung thu ( Rằm tháng Tám )
- Tết Táo Quân....
2. Tiếp thu có chọn lọc văn hóa Trung Hoa.
Trong thời kì Bắc thuộc, nhân dân ta đã tiếp thu có
chọn lọc văn hoá Trung Hoa như thế nào?
Trong thời kì Bắc thuộc, nhân dân ta đã tiếp thu có chọn lọc văn hoá
Trung Hoa:
+ Học một số kĩ thuật, phát minh tiến bộ của người Trung Quốc như
làm giấy, chế tạo đồ thuỷ tinh,….
+ Tiếp thu một phần lễ nghĩa của Nho giáo như một số quy tắc lễ
nghĩa trong quan hệ gia đình, cách đặt tên họ giống người Hán.
+ Đón nhận Phật giáo. Xuất hiện một số cao tăng nổi tiếng sang nhà
Đường giảng kinh.
+ Tiếp thu một sổ lễ tết có nguồn gốc từ Trung Quốc như tết Hàn
thực, tết Đoan Ngọ, tết Trung thu,... nhưng đã có sự vận dụng cho phù
hợp với sinh hoạt văn hoá của người Việt.
Đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công nước Tấn, gặp loạn phải bỏ nước lưu vong, nay
trú nước Tề, mai trú nước Sở. Bấy giờ có một người hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi,
theo vua giúp đỡ mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn, Giới Tử
Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi mình nấu lên dâng vua. Vua ăn xong hỏi ra mới
biết, đem lòng cám kích vô cùng. Giới Tử Thôi theo phò Tấn Văn Công trong mười
chín năm trời, cùng nhau trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm. Về sau, Tấn
Văn Công giành lại được ngôi báu trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu
cho những người có công trong khi tòng vong, nhưng lại quên mất công lao của
Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình làm được việc gì,
cũng là cái nghĩa vụ của mình, chớ không có công lao gì đáng nói. Vì vậy về nhà
đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Tấn Văn Công về sau nhớ ra, cho người đi tìm. Giới
Tử Thôi không chịu rời Điền Sơn ra lĩnh thưởng, Tấn Văn Công hạ lệnh đốt rừng, ý
muốn thúc ép Giới Tử Thôi phải ra, nhưng ông nhất định không chịu tuân mệnh, rốt
cục cả hai mẹ con ông đều chết cháy. Vua thương xót, lập miếu thờ và hạ lệnh
trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng
niệm (khoảng từ mồng 3 tháng 3 đến mồng 5 tháng 3 Âm lịch hàng năm).
Ở Việt Nam hiện nay, người ta chỉ làm bánh trôi hay bánh chay để thế cho đồ
lạnh, nhưng chỉ cúng gia tiên, và có ít liên hệ đến Giới Tử Thôi và những kiêng
kỵ khác. Vào ngày này, người Việt thường "làm bánh trôi nước, bày cỗ bàn, cúng
gia tiên", cho nên bánh trôi còn được gọi là bánh Hàn thực [.
Theo nhà nghiên cứu Trần Quang Đức, tục ăn bánh trôi vào ngày Hàn thực ở
Việt Nam nhiều khả năng được du nhập vào thời Lê, thịnh hành vào giai đoạn Lê
Trung Hưng - Nguyễn. Năm 1773, Lê Quý Đôn cho biết: "Tục nước ta trọng nhất
bánh trôi nước, mỗi năm cứ ngày mồng 3 tháng 3 thì làm bánh ấy. Người phương
Bắc cũng có, gọi là Thủy đoàn". Theo giải thích của Chỉ Nam ngọc âm giải
nghĩa (viết vào khoảng thế kỷ 16 thời Lê) giải thích: "Trôi nước có hiệu Thủy
đoàn, trong đường ngoài bột nổi hòn lênh đênh".
Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức cho biết: Như vậy, vào thời Trần, thậm chí có
thể truy lên thời Lý, nhằm tiết Hàn thực, người Việt ăn bánh cuốn và có tục đem
bánh cuốn tặng nhau, chưa có tục ăn bánh trôi như thời Lê Nguyễn về sau. Bánh
cuốn còn được gọi là bánh Xuân thái (thái: rau), trong có nhân (có thể gồm cả
rau lẫn thịt), được cuốn tròn lại, hình dạng khá gần với bánh cuốn ngày nay.
Những tài liệu trên cho thấy trong các thế kỷ thứ bảy và thứ tám, thiền
tông tại Việt Nam có nhiều người học rộng, thông hiểu cả Phạn ngữ lẫn
Hán ngữ. Thiền sư Ðại Thừa Ðăng giỏi Phạn ngữ đến trình độ đã chú
giải những tác phẩm Phạn ngữ bằng Phạn ngữ. Phụng Ðình và Duy
Giám được mời qua cung Ðường giảng kinh. Thi sĩ Thẩm Thuyên Kỳ
vào tận trong rúi để bái yết Vô Ngại. Thi sĩ Trương Tịch cũng vào tận
trong núi để bái yết Nhật Nam tăng. Nhiều người như Vận Kỳ và Ðại
Thừa Ðăng đã vân du cả hai xứ Trung Hoa và Ấn Ðộ để mở rộng kiến
thức và hành đạo. Tuy sự cai trị của nhà Ðường đối với Giao Châu rất
khắc nghiệt, và tuy chính quyền đô hộ tìm mọi cách để ngăn chặn sự
tiến triển của học thuật và văn hóa Giao Châu, nhưng giới thiền sư tại
Giao Châu đã có phương tiện để theo đuổi sự tu học và hành đạo của
mình.
SO SÁNH VĂN HÓA VIỆT NAM VỚI VĂN HÓA TRUNG QUỐC
VĂN HÓA VIỆT NAM
VĂN HÓA TRUNG QUỐC
Người Việt rất tự hào với cái váy mang đậm yếu tố văn hoá
bản địa của mình trong so sánh với văn hoá Trung Quốc:
“Cái trống mà thủng hai đầu
Bên ta thời có, bên Tàu thì không”
H.17.4: Chùa Dâu
( Thuận Thành-Bắc Ninh ).
H.17.5 :Chuông Thanh Mai
H.17.6: Khay gốm TKI – III
(Lạch Trường- Thanh Hóa)
BÀI TẬP.
Câu 1:Theo em, tại sao khoảng thời gian từ năm 179 TCN đến năm 938
được gọi là thời kì Bắc thuộc ?
Đây là thời kì nước ta liên tiếp bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô
hộ.
Câu 2: Những phong tục, tập quán nào được người Việt được bảo tồn suốt
thời Bắc thuộc và vẫn lưu giữ trong đời sống văn hoá hằng ngày của
chúng ta ngày nay?
Những phong tục, tập quán được người Việt được bảo tồn suốt thời Bắc
thuộc và vẫn lưu giữ trong đời sống văn hoá hằng ngày của chúng ta
ngày nay: thờ cúng tổ tiên, nhuộm răng, ăn trầu,, làm bánh chưng bánh
giày....
VẬN DỤNG
Theo em, tiếng nói có vai trò như thế
nào trong việc giữ gìn và phát huy bản
sắc dân tộc? Em có suy nghĩ gì về hiện
tượng nhiều học sinh “pha” tiếng nước
ngoài vào tiếng Việt khi giao tiếp?
DỰ KIẾN SẢN PHẨM
Theo em, tiếng nói có vai trò như thế nào trong việc giữ gìn và phát huy bản
sắc dân tộc? Em có suy nghĩ gì về hiện tượng nhiều học sinh “pha” tiếng nước
ngoài vào tiếng Việt khi giao tiếp?
- Tiếng nói, chữ viết tiếng Việt có nguồn gốc bản địa, được cha ông ta sáng tạo, gìn
giữ, cải tiến trong hành trình tạo dựng cuộc sống, phát triển cộng đồng xã hội. Trải
qua các triều đại lịch sử, qua những giai đoạn phát triển, tiếng Việt đã trở thành hồn
cốt của dân tộc, có sức sống lâu bền trong tâm hồn, lối sống, tư duy của con người Việt
Nam.
- Không đồng tình với hiện tượng các bạn trẻ lạm dụng việc sử dụng tiếng nước ngoài
vào tiếng Việt khi giao tiếp. Tuy việc sử dụng tiếng lóng cũng có tác dụng nhất định đối
với giới trẻ như: khả năng truyền đạt thông tin nhanh, tiết kiệm thời gian (chủ yếu
dùng ký hiệu, viết tắt), có những yếu tố sáng tạo…làm cho hoạt động giao tiếp cũng
phong phú hơn nhưng việc lạm dụng sử dụng quá đà sẽ đánh mất đi bản sắc dân tộc,
mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.
MÔN LỊCH SỬ
Em hãy cho biết Việt nam có những
phong tục nào? Tìm hiểu các truyền
thống tốt đẹp của dân tộc Việt nam
mà em biết?
*Các phong tục cổ truyền ở Việt nam :
- Tết Táo Quân
- Gói bánh chưng
- Chưng mâm ngũ quả
- Đón giao thừa
- Lì xì
- Đi chùa hái lộc…
1.Sức sống của nền văn hóa bản địa.
2.Tiếp thu có chọn lọc văn hóa Trung Hoa.
1.Sức sống của nền văn hóa bản địa.
Những biểu hiện nào cho thấy chính sách đồng hóa
của các triều đại phong kiến phương Bắc đối với
nước ta thất bại?
Người Việt luôn có ý thức giữ gìn nền văn hóa bản địa
của mình:
+ Sống ở làng quê trong những ngôi nhà giản dị.
+ Người Việt vẫn nghe - nói, truyền lại cho con cháu
tiếng mẹ đẻ.
+ Những tín ngưỡng truyền thống như thờ cúng tổ tiên,
thờ các vị thần tự nhiên ...
+ Trong các làng xã, những phong tục tập quán: búi tóc,
xăm mình, nhuộm răng đen, ăn trầu, làm bánh chưng,
bánh dày,...vẫn được lưu truyền từ đời này sang đời khác.
Sách Lĩnh Nam chích quái (phần Hồng Bàng thị truyện) viết như
sau:
Bấy giờ, dân trên núi xuống nước đánh bắt cá thường bị thuồng
luồng gây thương tổn, bèn cùng nhau tâu việc ấy với Vua. Vua nói:
– Các giống ở trên núi khác với các loài ở dưới nước. Các loài ở
dưới nước chỉ ưa những gì giống với mình và ghét những gì khác
mình, vì vậy, ta mới bị gây hại.
Nói rồi, Vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình
thuỷ quái vào người. Từ đó, không bị thuồng luồng gây thương
tích nữa. Tục vẽ mình của dân Bách Việt bắt đầu có kể từ đấy.
Đặc biệt thời Trần, những thành viên thuộc đội quân Thánh Dực
bảo vệ xa giá sẽ được xăm lên trán ba chữ Thiên Tử Quân (Quân
đội Thiên Tử). Nghệ thuật này còn được thấy rõ rệt dưới triều đại
này với việc xăm hai chữ Sát Thát (Giết giặc Tarta) trong thời kỳ
kháng chiến chống Nguyên Mông, thể hiện sự quyết tâm đồng
lòng chiến đấu, bảo vệ giang sơn của cha ông ta. Thường những
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp
sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng
……
Thơ: Mời trầu của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương
“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôï”.
Hãy chỉ ra những phong tục của người Việt được
nhắc đến trong tư liệu trên.
Hãy kể tên một vài phong tục truyền thống còn tồn
tại đến ngày nay mà em biết?
- Tục ăn trầu
- Làm bánh chưng, bánh tét ngày tết
- Thờ cúng tổ tiên.
- Tết Nguyên Đán
- Lễ cúng Thổ Công
- Tết Thanh minh
- Tết Trung Nguyên ( Rằm tháng bảy )
- Tết trung thu ( Rằm tháng Tám )
- Tết Táo Quân....
2. Tiếp thu có chọn lọc văn hóa Trung Hoa.
Trong thời kì Bắc thuộc, nhân dân ta đã tiếp thu có
chọn lọc văn hoá Trung Hoa như thế nào?
Trong thời kì Bắc thuộc, nhân dân ta đã tiếp thu có chọn lọc văn hoá
Trung Hoa:
+ Học một số kĩ thuật, phát minh tiến bộ của người Trung Quốc như
làm giấy, chế tạo đồ thuỷ tinh,….
+ Tiếp thu một phần lễ nghĩa của Nho giáo như một số quy tắc lễ
nghĩa trong quan hệ gia đình, cách đặt tên họ giống người Hán.
+ Đón nhận Phật giáo. Xuất hiện một số cao tăng nổi tiếng sang nhà
Đường giảng kinh.
+ Tiếp thu một sổ lễ tết có nguồn gốc từ Trung Quốc như tết Hàn
thực, tết Đoan Ngọ, tết Trung thu,... nhưng đã có sự vận dụng cho phù
hợp với sinh hoạt văn hoá của người Việt.
Đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công nước Tấn, gặp loạn phải bỏ nước lưu vong, nay
trú nước Tề, mai trú nước Sở. Bấy giờ có một người hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi,
theo vua giúp đỡ mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn, Giới Tử
Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi mình nấu lên dâng vua. Vua ăn xong hỏi ra mới
biết, đem lòng cám kích vô cùng. Giới Tử Thôi theo phò Tấn Văn Công trong mười
chín năm trời, cùng nhau trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm. Về sau, Tấn
Văn Công giành lại được ngôi báu trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu
cho những người có công trong khi tòng vong, nhưng lại quên mất công lao của
Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình làm được việc gì,
cũng là cái nghĩa vụ của mình, chớ không có công lao gì đáng nói. Vì vậy về nhà
đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Tấn Văn Công về sau nhớ ra, cho người đi tìm. Giới
Tử Thôi không chịu rời Điền Sơn ra lĩnh thưởng, Tấn Văn Công hạ lệnh đốt rừng, ý
muốn thúc ép Giới Tử Thôi phải ra, nhưng ông nhất định không chịu tuân mệnh, rốt
cục cả hai mẹ con ông đều chết cháy. Vua thương xót, lập miếu thờ và hạ lệnh
trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn để tưởng
niệm (khoảng từ mồng 3 tháng 3 đến mồng 5 tháng 3 Âm lịch hàng năm).
Ở Việt Nam hiện nay, người ta chỉ làm bánh trôi hay bánh chay để thế cho đồ
lạnh, nhưng chỉ cúng gia tiên, và có ít liên hệ đến Giới Tử Thôi và những kiêng
kỵ khác. Vào ngày này, người Việt thường "làm bánh trôi nước, bày cỗ bàn, cúng
gia tiên", cho nên bánh trôi còn được gọi là bánh Hàn thực [.
Theo nhà nghiên cứu Trần Quang Đức, tục ăn bánh trôi vào ngày Hàn thực ở
Việt Nam nhiều khả năng được du nhập vào thời Lê, thịnh hành vào giai đoạn Lê
Trung Hưng - Nguyễn. Năm 1773, Lê Quý Đôn cho biết: "Tục nước ta trọng nhất
bánh trôi nước, mỗi năm cứ ngày mồng 3 tháng 3 thì làm bánh ấy. Người phương
Bắc cũng có, gọi là Thủy đoàn". Theo giải thích của Chỉ Nam ngọc âm giải
nghĩa (viết vào khoảng thế kỷ 16 thời Lê) giải thích: "Trôi nước có hiệu Thủy
đoàn, trong đường ngoài bột nổi hòn lênh đênh".
Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức cho biết: Như vậy, vào thời Trần, thậm chí có
thể truy lên thời Lý, nhằm tiết Hàn thực, người Việt ăn bánh cuốn và có tục đem
bánh cuốn tặng nhau, chưa có tục ăn bánh trôi như thời Lê Nguyễn về sau. Bánh
cuốn còn được gọi là bánh Xuân thái (thái: rau), trong có nhân (có thể gồm cả
rau lẫn thịt), được cuốn tròn lại, hình dạng khá gần với bánh cuốn ngày nay.
Những tài liệu trên cho thấy trong các thế kỷ thứ bảy và thứ tám, thiền
tông tại Việt Nam có nhiều người học rộng, thông hiểu cả Phạn ngữ lẫn
Hán ngữ. Thiền sư Ðại Thừa Ðăng giỏi Phạn ngữ đến trình độ đã chú
giải những tác phẩm Phạn ngữ bằng Phạn ngữ. Phụng Ðình và Duy
Giám được mời qua cung Ðường giảng kinh. Thi sĩ Thẩm Thuyên Kỳ
vào tận trong rúi để bái yết Vô Ngại. Thi sĩ Trương Tịch cũng vào tận
trong núi để bái yết Nhật Nam tăng. Nhiều người như Vận Kỳ và Ðại
Thừa Ðăng đã vân du cả hai xứ Trung Hoa và Ấn Ðộ để mở rộng kiến
thức và hành đạo. Tuy sự cai trị của nhà Ðường đối với Giao Châu rất
khắc nghiệt, và tuy chính quyền đô hộ tìm mọi cách để ngăn chặn sự
tiến triển của học thuật và văn hóa Giao Châu, nhưng giới thiền sư tại
Giao Châu đã có phương tiện để theo đuổi sự tu học và hành đạo của
mình.
SO SÁNH VĂN HÓA VIỆT NAM VỚI VĂN HÓA TRUNG QUỐC
VĂN HÓA VIỆT NAM
VĂN HÓA TRUNG QUỐC
Người Việt rất tự hào với cái váy mang đậm yếu tố văn hoá
bản địa của mình trong so sánh với văn hoá Trung Quốc:
“Cái trống mà thủng hai đầu
Bên ta thời có, bên Tàu thì không”
H.17.4: Chùa Dâu
( Thuận Thành-Bắc Ninh ).
H.17.5 :Chuông Thanh Mai
H.17.6: Khay gốm TKI – III
(Lạch Trường- Thanh Hóa)
BÀI TẬP.
Câu 1:Theo em, tại sao khoảng thời gian từ năm 179 TCN đến năm 938
được gọi là thời kì Bắc thuộc ?
Đây là thời kì nước ta liên tiếp bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô
hộ.
Câu 2: Những phong tục, tập quán nào được người Việt được bảo tồn suốt
thời Bắc thuộc và vẫn lưu giữ trong đời sống văn hoá hằng ngày của
chúng ta ngày nay?
Những phong tục, tập quán được người Việt được bảo tồn suốt thời Bắc
thuộc và vẫn lưu giữ trong đời sống văn hoá hằng ngày của chúng ta
ngày nay: thờ cúng tổ tiên, nhuộm răng, ăn trầu,, làm bánh chưng bánh
giày....
VẬN DỤNG
Theo em, tiếng nói có vai trò như thế
nào trong việc giữ gìn và phát huy bản
sắc dân tộc? Em có suy nghĩ gì về hiện
tượng nhiều học sinh “pha” tiếng nước
ngoài vào tiếng Việt khi giao tiếp?
DỰ KIẾN SẢN PHẨM
Theo em, tiếng nói có vai trò như thế nào trong việc giữ gìn và phát huy bản
sắc dân tộc? Em có suy nghĩ gì về hiện tượng nhiều học sinh “pha” tiếng nước
ngoài vào tiếng Việt khi giao tiếp?
- Tiếng nói, chữ viết tiếng Việt có nguồn gốc bản địa, được cha ông ta sáng tạo, gìn
giữ, cải tiến trong hành trình tạo dựng cuộc sống, phát triển cộng đồng xã hội. Trải
qua các triều đại lịch sử, qua những giai đoạn phát triển, tiếng Việt đã trở thành hồn
cốt của dân tộc, có sức sống lâu bền trong tâm hồn, lối sống, tư duy của con người Việt
Nam.
- Không đồng tình với hiện tượng các bạn trẻ lạm dụng việc sử dụng tiếng nước ngoài
vào tiếng Việt khi giao tiếp. Tuy việc sử dụng tiếng lóng cũng có tác dụng nhất định đối
với giới trẻ như: khả năng truyền đạt thông tin nhanh, tiết kiệm thời gian (chủ yếu
dùng ký hiệu, viết tắt), có những yếu tố sáng tạo…làm cho hoạt động giao tiếp cũng
phong phú hơn nhưng việc lạm dụng sử dụng quá đà sẽ đánh mất đi bản sắc dân tộc,
mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.
 








Các ý kiến mới nhất