Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Bài 28. Tìm hiểu các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: ma thị phương
Ngày gửi: 22h:29' 31-03-2023
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 1163
Số lượt thích: 0 người
DẠY HỌC TRÊN TRUYỀN HÌNH
MÔN NGỮ VĂN 8
Giáo viên: Lê Thị Hồng Đăng
Trường THCS Long Biên, quận Long Biên

TÌM HIỂU CÁC YẾU TỐ TỰ SỰ
VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
Giáo viên: Lê Thị Hồng Đăng
Trường THCS Long Biên, quận Long Biên

MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Kiến thức
- Thấy được vai trò của các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị
luận; những yêu cầu cần thiết của việc đưa các yếu tố tự sự và
miêu tả vào bài văn nghị luận
2. Về kĩ năng
- Biết cách đưa các yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị luận
một cách hợp lí

I. YẾU TỐ TỰ SỰ VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1. Tìm hiểu ví dụ
a. Ví dụ 1:
a1. Người ta kể chuyện đời xưa, có một nhà thi sĩ Ấn Độ trông thấy
một con chim bị thương rơi xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại quá,
khóc nức lên, quả tim cùng hòa một nhịp với sự run rẩy của con chim sắp
chết. Tiếng khóc ấy, dịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca.
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang đường, song không
phải không có ý nghĩa. Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng
thương người, rộng ra là thương cả muôn vật, muôn loài.
(Hoài Thanh, Ý nghĩa văn chương)

I. YẾU TỐ TỰ SỰ VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1. Tìm hiểu ví dụ
a. Ví dụ 1:
a2. Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi
trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc
đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai
cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng
rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa.
Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh
đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
(Lí Công Uẩn, Chiếu dời đô)

I. YẾU TỐ TỰ SỰ VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1. Tìm hiểu ví dụ
a. Ví dụ 1:
a1. Người ta kể chuyện đời xưa, có một nhà thi sĩ Ấn Độ
trông thấy một con chim bị thương rơi xuống bên chân mình.
Thi sĩ thương hại quá, khóc nức lên, quả tim cùng hòa một
nhịp với sự run rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, dịp
đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca.
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang đường,
song không phải không có ý nghĩa. Nguồn gốc cốt yếu của văn
chương là lòng thương người, rộng ra là thương cả muôn vật,
muôn loài.

Vì sao đoạn
trích có yếu tố
tự sự nhưng
không phải là
văn bản tự sự?

Yếu tố tự sự

LUẬN ĐIỂM

I. YẾU TỐ TỰ SỰ VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1. Tìm hiểu ví dụ
a. Ví dụ 1:
a2: Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao
Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn
hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng
nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà
thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật
cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ
nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn
phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế
vương muôn đời.

Vì sao đoạn trích
có yếu tố miêu tả
nhưng không
phải là văn bản
miêu tả?

Yếu tố miêu tả

LUẬN ĐIỂM

I. YẾU TỐ TỰ SỰ VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1. Tìm hiểu ví dụ
a. Ví dụ 1:
a1. Người ta kể chuyện đời xưa, có một nhà thi sĩ Ấn Độ
trông thấy một con chim bị thương rơi xuống bên chân mình.
Thi sĩ thương hại quá, khóc nức lên, quả tim cùng hòa một
nhịp với sự run rẩy của con chim sắp chết. Tiếng khóc ấy, dịp
đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca.
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang đường,
song không phải không có ý nghĩa. Nguồn gốc cốt yếu của văn
chương là lòng thương người, rộng ra là thương cả muôn vật,
muôn loài.

Lược bỏ yếu tố tự
sự

Không hấp dẫn,
luận điểm thiếu
thuyết phục

I. YẾU TỐ TỰ SỰ VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1. Tìm hiểu ví dụ
a. Ví dụ 1:
a2: Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao
Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn
hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng
nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà
thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật
cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ
nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn
phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế
vương muôn đời.

Lược bỏ yếu tố
miêu tả

Khó hình dung cụ
thể, luận điểm
thiếu thuyết phục

a. Ví dụ 1:
a1. Yếu tố tự sự: đời xưa, có một nhà thi sĩ Ấn Độ trông thấy một
con chim bị thương rơi xuống bên chân mình. Thi sĩ thương hại
quá, khóc nức lên, quả tim cùng hòa một nhịp với sự run rẩy của
con chim sắp chết
a2. Yếu tố miêu tả: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng
cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn
sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân
cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực
phong phú tốt tươi
=> Giúp luận cứ được trình bày rõ ràng, cụ thể, hấp dẫn,
thuyết phục hơn.

I. YẾU TỐ TỰ SỰ VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1. Tìm hiểu ví dụ
a. Ví dụ 1:
=> Ghi nhớ 1 (SGK trang 116) Bài văn nghị luận thường vẫn phải có các
yếu tố tự sự và miêu tả. Hai yếu tố này giúp cho việc trình bày luận cứ
trong bài văn được rõ ràng, cụ thể, sinh động hơn, và do đó, có sức thuyết
phục mạnh mẽ hơn.
b. Ví dụ 2 (SGK trang 115)

b. Ví dụ 2 (SGK trang 115)

Các dân tộc anh em trên đất nước chúng ta đã sáng tạo ra muôn vàn truyện anh hùng đẹp. Có truyện
đã trở thành trường ca lớn, như Đam Săn, Xinh Nhã…Riêng Chàng Trăng của dân tộc Mơ - nông và Nàng
Han của dân tộc Thái là hai truyện có rất nhiều nét giống với truyện Thánh Gióng ở miền xuôi.
Mẹ chàng Trăng đã nằm mơ thấy một con thỏ trắng nhảy qua ngực mà thụ thai và đẻ ra chàng. Sợ tù
trưởng phạt vạ, mẹ chàng bỏ chàng trên rừng, phó mặc cho trời đất. Suốt ngày chàng không nói, không
cười, chỉ thích chơi khiên dao. Sau đó, chàng cưỡi ngựa đá khổng lồ do trời đất cho, đi giết một tên bạo
chúa đến chiếm đất rồi cuối cùng biến vào mặt trăng để đêm đêm soi xuống dòng thác Pông - gơ - nhi
những vầng sáng bạc.
Còn nàng Han là một cô gái thông minh dũng cảm, lớn lên đi đánh giặc ngoại xâm. Quân nàng liên
kết với người Kinh, theo cờ lệnh bằng chăn dệt chỉ ngũ sắc của nàng mà đánh tan được giặc. Mường bản
đang vui thắng trận thì nàng hóa thành tiên lên trời, sau khi tắm ở sông Nậm Bờ, để lại trên bờ thanh
gươm nàng đã dùng diệt giặc. Từ đấy, hằng năm, đến ngày nàng lên trời, dân bản Mường lại mở hội rước
cờ nàng Han, vui chơi rồi kéo ra sông Nậm Bờ tắm. Và trên dãy núi Pu - keo vẫn còn đền thờ nàng Han ở
chân rừng, gần đấy có những vũng, những ao chi chít nối tiếp nhau là vết chân voi ngựa của quân nàng
Han và quân đội của người Kinh.
So sánh với những truyện nói trên, chúng ta thấy truyện Thánh Gióng thực sự là một bản anh hùng
ca và là anh hùng ca của người Việt cổ.
(Theo Cao Huy Đỉnh, Người anh hùng làng Gióng)

b. Ví dụ 2 (SGK trang 115)

Các dân tộc anh em trên đất nước chúng ta đã sáng tạo ra muôn vàn truyện anh hùng đẹp. Có
truyện đã trở thành trường ca lớn, như Đam Săn, Xinh Nhã…Riêng Chàng Trăng của dân tộc Mơ - nông
và Nàng Han của dân tộc Thái là hai truyện có rất nhiều nét giống với truyện Thánh Gióng ở miền xuôi.
Mẹ chàng Trăng đã nằm mơ thấy một con thỏ trắng nhảy qua ngực mà thụ thai và đẻ ra chàng. Sợ
tù trưởng phạt vạ, mẹ chàng bỏ chàng trên rừng, phó mặc cho trời đất. Suốt ngày chàng không nói,
không cười, chỉ thích chơi khiên dao. Sau đó, chàng cưỡi ngựa đá khổng lồ do trời đất cho, đi giết một
tên bạo chúa đến chiếm đất rồi cuối cùng biến vào mặt trăng để đêm đêm soi xuống dòng thác Pông - gơ
- nhi những vầng sáng bạc.
(Kể những điểm tương đồng của chuyện Chàng Trăng với Thánh Gióng)
Còn nàng Han là một cô gái thông minh dũng cảm, lớn lên đi đánh giặc ngoại xâm. Quân nàng liên
kết với người Kinh, theo cờ lệnh bằng chăn dệt chỉ ngũ sắc của nàng mà đánh tan được giặc. Mường bản
đang vui thắng trận thì nàng hóa thành tiên lên trời, sau khi tắm ở sông Nậm Bờ, để lại trên bờ thanh
gươm nàng đã dùng diệt giặc. Từ đấy, hằng năm, đến ngày nàng lên trời, dân bản Mường lại mở hội
rước cờ nàng Han, vui chơi rồi kéo ra sông Nậm Bờ tắm. Và trên dãy núi Pu - keo vẫn còn đền thờ nàng
Han ở chân rừng, gần đấy có những vũng, những ao chi chít nối tiếp nhau là vết chân voi ngựa của quân
nàng Han và quân đội của người Kinh.
(Kể những điểm tương đồng của chuyện Nàng Han với Thánh Gióng)
So sánh với những truyện nói trên, chúng ta thấy truyện Thánh Gióng thực sự là một bản anh hùng
ca và là anh hùng ca của người Việt cổ.

b. Ví dụ 2 (SGK trang 115)
Yếu tố tự sự + miêu tả
Chàng
Trăng

Nàng Han

Thánh
Gióng

- Mẹ chàng nằm mơ thấy thỏ trắng, thụ thai, đẻ ra chàng.
- Chàng không nói không cười
- Chàng cưỡi ngựa đá khổng lồ, đi giết bạo chúa
- Chàng biến vào mặt trăng, đêm đêm soi xuống thác Pông gơ - nhi những vầng sáng bạc

Tác dụng

=> Làm nổi bật
luận
điểm:
điểm gần gũi,
tương
đồng
giữa các câu
chuyện
anh
- Đánh tan được giặc, nàng hóa thành tiên trên trời, để lại hùng, từ đó ca
thanh gươm nàng đã dùng diệt giặc.
ngợi
truyện
- Hiện tại, dân làng mở hội rước cờ nàng Han; còn đền thờ, Thánh Gióng
vũng, ao chi chít nối nhau là dấu tích…
Không kể, tả, chỉ so sánh, nêu đánh giá

I. YẾU TỐ TỰ SỰ VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1. Tìm hiểu ví dụ
a. Ví dụ 1
b. Ví dụ 2 (SGK trang 115)
2. Kết luận
- Bài văn nghị luận thường vẫn phải có các yếu tố tự sự và miêu tả. Hai yếu tố
này giúp cho việc trình bày luận cứ trong bài văn được rõ ràng, cụ thể, sinh động
hơn, và do đó, có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn.
- Các yếu tố tự sự và miêu tả được dùng làm luận cứ phải phục vụ cho việc làm
rõ luận điểm và không phá vỡ mạch lạc nghị luận của bài văn.

* Lưu ý: - Các bước đưa yếu tố tự sự, miêu tả vào
bài văn nghị luận

1
Xác định
vấn đề nghị
luận

2

3

4

Xây dựng các
luận điểm

Tìm và sắp
xếp luận cứ

Lựa chọn
yếu tố tự sự,
miêu tả

* Lưu ý:
- Cách đưa yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị luận
Yếu tố tự sự
- Chọn lọc mẩu chuyện:
những câu chuyện dân gian,
truyện lịch sử, văn học, mẩu
chuyện hạt giống tâm hồn,
quà tặng cuộc sống, câu
chuyện đời thường…
- Tóm lược, thuật kể ngắn
gọn…

Ví dụ: Lựa chọn yếu tố tự sự trong bài nghị luận về lòng hiếu thảo
Truyện dân gian: Chử Đồng Tử nhường chiếc khố duy
nhất cho cha lúc cha mất …

Truyện lịch sử, văn học: Nguyễn Trãi đi theo cha đến ải Nam Quan…
Quà tặng cuộc sống: Trong năm đứa con của má, chị nghèo nhất. Chồng mất sớm, con chị đang ở tuổi
ăn học. Gần tới lễ mừng thọ 70 tuổi của má, cả nhà họp bàn xem nên chọn nhà hàng nào, bao nhiêu bàn,
mời bao nhiêu người. Chị lặng lẽ đến bên má: “Má ơi, má thèm gì, để con nấu má ăn?”
…Chưa tan tiệc, má xin phép về sớm vì mệt, ai cũng chặc lưỡi: “Sao má chẳng ăn gì?” Về nhà, mọi
người tìm má. Dưới bếp, má đang ăn cơm với tô canh chua lá me và dĩa cá bống kho tiêu chị mang đến…

Câu chuyện đời thực: người con bón cho cha ăn, nằm
đỡ cha trên giường bệnh…

* Lưu ý:
- Cách đưa yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị luận
Bức tranh thiên nhiên trước mắt tôi thật đẹp.
Bầu trời cao, trong xanh, những đám bây bồng
bềnh thong thả dạo chơi. Thảm cỏ non xanh trải
dài đến tận chân trời, điểm xuyết sắc hoa rực rỡ,
tươi thắm. Những giọt sương long lanh đọng lại
trên lá như hạt ngọc. Đâu đó, tiếng chim hót
trong veo, thánh thót ngưng đọng trong không
gian.

MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN

Bạn có bao giờ tận hưởng không khí trong
lành, dịu ngọt, tinh khôi của buổi sớm mai, hay say
đắm trong làn hương thoang thoảng của muôn hoa
cỏ? Bạn có bao giờ nghe tiếng thì thầm hát ca của
gió, tiếng xào xạc trò chuyện của cây lá, tiếng hót
trong veo thánh thót của loài chim? Nếu dành cho
mình những giây phút ấy, bạn sẽ có cảm giác thật
thư thái, sảng khoái. Bởi thiên nhiên là người bạn
nuôi dưỡng cho tâm hồn mỗi chúng ta.
NGHỊ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THIÊN
NHIÊN, CÓ YẾU TỐ MIÊU TẢ

* Lưu ý:
- Cách đưa yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị luận
Bạn có bao giờ tận hưởng không khí trong lành, dịu
ngọt, tinh khôi của buổi sớm mai, hay say đắm trong làn
hương thoang thoảng của muôn hoa cỏ? Bạn có bao giờ
nghe tiếng thì thầm hát ca của gió, tiếng xào xạc trò
chuyện của cây lá, tiếng hót trong veo thánh thót của loài
chim? Nếu dành cho mình những giây phút ấy, bạn sẽ có
cảm giác thật thư thái, sảng khoái. Bởi thiên nhiên là người
bạn nuôi dưỡng cho tâm hồn mỗi chúng ta.

NGHỊ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THIÊN
NHIÊN, CÓ YẾU TỐ MIÊU TẢ

Đưa yếu tố
miêu tả bằng
tính từ, từ láy,
nhân hóa, liệt
kê…

* Lưu ý:
- Cách đưa yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị luận
Yếu tố tự sự
- Chọn lọc mẩu chuyện:
những câu chuyện dân gian,
truyện lịch sử, văn học, mẩu
chuyện hạt giống tâm hồn,
quà tặng cuộc sống, câu
chuyện đời thường…
- Tóm lược, thuật kể ngắn
gọn…

Yếu tố miêu tả
- Chọn lọc chi tiết miêu tả
- Sử dụng tính từ, từ láy
đặc sắc, kết hợp các biện
pháp tu từ, liên tưởng,
tưởng tượng…

II. LUYỆN TẬP

1. Bài tập 1 (SGK trang 116): Chỉ ra yếu tố tự sự, miêu tả trong đoạn văn dưới đây và
cho biết tác dụng của chúng.
Sắp Trung thu. Trời xứ Bắc hẳn trong. Trăng hẳn tròn và sáng. Đêm trước rằm đầu tiên từ ngày bị
giam giữ. Mười mấy ngày qua, trừ cái bực mình ban đầu khi bị bắt giữ vô cớ, cái khẳng định mình vẫn là
khách tự do, chỉ là một xâu những sự vật lỉnh kỉnh, lích kích đáng lạ, đáng cười, đáng ghét của bộ mặt
nhà giam. Bỗng đêm nay trăng sáng quá chừng. Trong suốt, bao la, huyền ảo, vỗ về. Ngay bên cửa sổ,
lồng trong bóng cây. Đêm nay rất đẹp. Trong lòng rạo rực bao nỗi niềm. Cầm lòng không đậu, người tù
phải thốt lên:
“Đối thử lương tiêu nại nhược hà?”
(Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ)
[…] Vậy trước cảnh đẹp đêm nay, trước cái đẹp đêm lành này (đối thử lương tiêu), biết làm sao bây
giờ (nại nhược hà)? Một câu hỏi hay một câu than đều có nghĩa. Nó là dấu hiệu của một tâm trạng dạt
dào nên sinh băn khoăn. Hơn nữa, bối rối, xao xuyến. Nó ăm ắp tình tứ, nó rạo rực, nó muốn yêu, muốn
thưởng thức, muốn chan hòa, muốn giãi bày, bộc lộ. Phải đi ra với đêm, phải tắm mình trong nguyệt, phải
vui, phải làm thơ. Tâm trạng người tù như vậy nhưng người tù đành như phải làm lơ. Như đành để mặc
cho đêm đẹp đêm lành, cho trăng mời trăng giục. Nghĩa là bao nhiêu dạt dào trước trăng trước đêm,
trước cái đẹp cái lành, phải ẩn vào bên trong, vùi vào im lặng.
(Lê Trí Viễn, Một số bài giảng thơ văn Chủ tịch Hồ Chí Minh)

II. LUYỆN TẬP

1. Bài tập 1 (SGK trang 116): Yếu tố tự sự, miêu tả trong đoạn bình giảng bài thơ
Ngắm trăng – Hồ Chí Minh

Sắp Trung thu. Trời xứ Bắc hẳn trong. Trăng hẳn tròn và sáng. Đêm trước rằm đầu tiên từ ngày
bị giam giữ. Mười mấy ngày qua, trừ cái bực mình ban đầu khi bị bắt giữ vô cớ, cái khẳng định
mình vẫn là khách tự do, chỉ là một xâu những sự vật lỉnh kỉnh, lích kích đáng lạ, đáng cười, đáng
ghét của bộ mặt nhà giam. Bỗng đêm nay trăng sáng quá chừng. Trong suốt, bao la, huyền ảo, vỗ
về. Ngay bên cửa sổ, lồng trong bóng cây. Đêm nay rất đẹp. Trong lòng rạo rực bao nỗi niềm. Cầm
lòng không đậu, người tù phải thốt lên:
“Đối thử lương tiêu nại nhược hà?”
(Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ)
[…] Vậy trước cảnh đẹp đêm nay, trước cái đẹp đêm lành này (đối thử lương tiêu), biết làm sao
bây giờ (nại nhược hà)? Một câu hỏi hay một câu than đều có nghĩa. Nó là dấu hiệu của một tâm
trạng dạt dào nên sinh băn khoăn. Hơn nữa, bối rối, xao xuyến. Nó ăm ắp tình tứ, nó rạo rực, nó
muốn yêu, muốn thưởng thức, muốn chan hòa, muốn giãi bày, bộc lộ. Phải đi ra với đêm, phải tắm
mình trong nguyệt, phải vui, phải làm thơ. Tâm trạng người tù như vậy nhưng người tù đành như
phải làm lơ. Như đành để mặc cho đêm đẹp đêm lành, cho trăng mời trăng giục. Nghĩa là bao nhiêu
dạt dào trước trăng trước đêm, trước cái đẹp cái lành, phải ẩn vào bên trong, vùi vào im lặng.

Chữ
màu
xanh:
yếu tố
tự sự

Chữ
màu
đỏ: yếu
tố miêu
tả

II. LUYỆN TẬP
1. Bài tập 1 (SGK trang 116): Yếu tố tự sự, miêu tả trong đoạn bình giảng
bài thơ Ngắm trăng – Hồ Chí Minh
- Bác bị giam cầm trong tù.
Yếu tố - Đêm trước rằm đầu tiên từ ngày bị giam giữ.
- Mười mấy ngày qua, trừ cái bực mình ban
tự sự
đầu khi bị bắt giữ vô cớ, chỉ là một xâu những
sự vật lỉnh kỉnh, lích kích đáng lạ, đáng cười,
đáng ghét của bộ mặt nhà giam…

=> Hình dung rõ hơn hoàn cảnh
sáng tác bài thơ và tâm trạng của
nhà thơ

⇒ Hiển hiện khung cảnh đêm trăng và
Trời
trong,
trăng
tròn

sáng,
trong
suốt,
bao
Yếu tố
cảm xúc người tù
la,
huyền
ảo,
vỗ
về
bên
cửa
sổ,
lồng
bóng
cây
miêu tả
- Tâm trạng dạt dào nên sinh băn khoăn, bối ⇒ Cảm nhận rõ hơn chiều sâu tâm tư,
tình cảm dạt dào của Bác trước vầng
rối, xao xuyến; ăm ắp, tình tứ, rạo rực, muốn
trăng
yêu, muốn thưởng thức, muốn chan hòa, giãi
⇒ Gợi sự đồng cảm, liên tưởng…
bày, bộc lộ…

II. LUYỆN TẬP
2. Bài tập 2: Nếu viết bài văn với chủ đề: Nụ cười là món quà kì diệu

nhất mà mỗi người có thể tặng cho những người xung quanh và cho
chính mình, em có vận dụng các yếu tố tự sự và miêu tả vào bài làm
không, vì sao?
GỢI Ý

- Rất cần sử dụng yếu tố tự sự và miêu tả khi làm rõ giá trị của
nụ cười
- Vì:
+ Nhiều mẩu chuyện có thể chứng minh điều kì diệu của nụ cười
+ Miêu tả nụ cười bừng sáng sẽ làm cho bài văn nghị luận giàu
hình ảnh, sinh động, hấp dẫn, người đọc cảm nhận rõ nét khi
cười con người thay đổi ra sao…

HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI VẤN ĐỀ NGHỊ LUẬN
Vấn đề nghị luận: Nụ cười là món quà kì diệu mỗi người có
thể tặng cho những người xung quanh và cho chính mình
Luận điểm 1: Giải thích nụ cười, món quà kì diệu…
Luận điểm 2: Nụ cười là món quà kì diệu mỗi người có
thể tặng cho những người xung quanh
Luận điểm 3: Nụ cười là món quà kì diệu mỗi người có
thể tặng cho chính mình
Luận điểm 4: Bàn luận mở rộng, nêu bài học nhận thức
và hành động

II. LUYỆN TẬP
3. Bài tập 3: Viết đoạn văn trình bày luận điểm có yếu tố tự sự và miêu tả
Lợi ích của nụ cười với sức khỏe…
Nụ cười là món quà kì
diệu nhất mỗi người có
thể tặng cho chính mình

Lợi ích của nụ cười vẻ đẹp bên ngoài…
Lợi ích của nụ cười với đời sống tinh thần
Những lợi ích khác…

Bài tập 3: Tham khảo đoạn văn trình bày luận điểm: Nụ cười là món quà
kì diệu mỗi người có thể tặng cho chính bản thân mình
Trong một lần tình cờ, tôi đọc được mẩu chuyện nhỏ thú vị. Truyện kể về một chú Thỏ
Nâu hay cau có, khó chịu với mọi người xung quanh, ai thấy chú cũng đều sợ hãi, tránh
xa. Thỏ Nâu buồn bã, không hiểu vì sao mình lại bị mọi người ghét bỏ như vậy. Và rồi
một ngày, khi nhận được lời khuyên của chị Thỏ Trắng, chú đã nở nụ cười với tất cả mọi
người, và chú chợt thấy sao mà cuộc sống dễ chịu, thoải mái đến thế. Vậy là cuộc đời của
Thỏ Nâu đã được thay đổi nhờ nụ cười! Truyện làm tôi chợt hiểu ra một điều tưởng chừng
rất đơn giản mà đôi khi ta lại vô tình bỏ qua: món quà kì diệu nhất mà mỗi người có thể
dành tặng cho bản thân chính là nụ cười! Nụ cười là thứ “thuốc bổ” có tác dụng với hệ thần
kinh, với tim mạch… như hàng trăm ngàn báo cáo khoa học đã chứng minh. Không chỉ thế,
đứng trước thất bại, một nụ cười sẽ xua tan đám mây u tối, củng cố cho chính ta niềm tin
vào một tương lai thành công nếu không ngừng cố gắng. Đứng trước bệnh tật, một nụ cười
sẽ khiến ta lạc quan, tăng thêm hi vọng sống, thêm yêu đời. Khi cười, bạn đẹp và tràn đầy
sức sống như tia nắng buổi sớm mai, như đóa hoa bừng nở. Khi cười, khuôn mặt bạn
rạng rỡ, tâm hồn bạn trong sáng, thánh thiện, bạn yêu đời hơn và được đời yêu thương
hơn. Vì nụ cười kì diệu như vậy, nên hãy trao món quà ấy mỗi ngày cho chính mình, hãy
cười lên bạn nhé!

Yếu
tố tự
sự

Yếu
tố
miêu
tả

Bài tập 3: Tham khảo đoạn văn trình bày luận điểm: Nụ cười là món quà
kì diệu mỗi người có thể tặng cho chính bản thân mình

HƯỚNG DẪN HỌC Ở NHÀ
1. Ôn tập lí thuyết
2. Viết bài văn hoàn chỉnh
3. Chuẩn bị bài: Đi bộ ngao du, Ông Giuốc
đanh mặc lễ phục

CHÀO TẠM BIỆT VÀ HẸN GẶP LẠI CÁC EM!
468x90
 
Gửi ý kiến