Tìm kiếm Bài giảng
Nguyên lý thống kê

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: tự làm
Người gửi: Nguyễn Thị Tiền
Ngày gửi: 00h:43' 08-09-2023
Dung lượng: 115.6 KB
Số lượt tải: 28
Nguồn: tự làm
Người gửi: Nguyễn Thị Tiền
Ngày gửi: 00h:43' 08-09-2023
Dung lượng: 115.6 KB
Số lượt tải: 28
Số lượt thích:
0 người
BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG V
KHOA KINH TẾ - VẬN TẢI
NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ
Nội dung môn Nguyên lý thống kê
• Chương 1: Một số vấn đề chung về thống kê học
• Chương 2: Quá trình nghiên cứu thống kê
• Chương 3: Phân tổ thống kê
• Chương 4: Các mức độ của hiện tượng kinh tế xã hội
• Chương 5: Sự biến động của các hiện tượng kinh tế xã hội
09/08/2023
2
2.1. Điều tra thống kê
2.2. Tổng hợp thống kê
2.3. Phân tích và dự báo thống kê
Chương 2: Quá trình nghiên cứu thống kê
3
2.1. Điều tra thống kê
2.1.1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của điều tra thống kê
a. Khái niệm
- Điều tra thống kê là tổ chức một cách khoa học và theo một kế hoạch thống nhất
việc thu thập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về các hiện tượng và quá trình kinh tế
- xã hội nhằm đáp ứng mục đích nghiên cứu.
- Theo Luật Thống kê thì điều tra thống kê là hình thức thu thập thông tin thống kê
theo phương án điều tra.
Ví dụ: Cần nghiên cứu dân số cả nước với các đặc điểm về giới tính, độ tuổi, dân tộc,
nghề nghiệp,… thống kê phải tổ chức thu thập tài liệu trên từng người dân, từng hộ
gia đình về: họ và tên, tuổi, nam hay nữ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, dân
tộc, nghề nghiệp. Hay khi cần nghiên cứu tình hình sản xuất của một doanh nghiệp,
thống kê phải tổ chức thu thập tài liệu ban đầu phát sinh ra trong từng doanh
nghiệp như: số công nhân, số giờ máy hoạt động, số nguyên vật liệu tiêu dùng vào
sản xuất, giá trị tài sản, kết quả sản xuất đạt được,… Việc tổ chức ghi chép tài liệu
ban đầu như vậy gọi là điều tra thống kê.
4
2.1. Điều tra thống kê
2.1.1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của điều tra thống kê
b. Ý nghĩa
Điều tra thống kê là cơ sở để nắm được tình hình biến động của hiện tượng.
Đồng thời, nó còn là căn cứ để tổng hợp thống kê và phân tích thống kê.
c. Nhiệm vụ
- Điều tra thống kê có nhiệm vụ cung cấp tài liệu làm căn cứ để lập kế hoạch
và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch vì tài liệu do điều tra thống kê cung
cấp có hệ thống là căn cứ quan trọng để Đảng và Nhà nước đề ra các đường
lối, chính sách, các kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân và quản lý kinh tế xã hội một cách xác thực.
- Điều tra thống kê phải có nhiệm vụ cung cấp số liệu dùng làm căn cứ cho
công tác tổng hợp và phân tích thống kê.
5
2.1.2. Các loại điều tra thống kê
Tính phức tạp của hiện tượng kinh tế - xã hội, yêu cầu nghiên cứu của thống kê
và khả năng thu thập tài liệu khác nhau tạo nên các loại điều tra.
a. Căn cứ vào việc đăng ký, ghi chép tài liệu ban đầu liên tục hay không liên tục
Điều tra thường xuyên: Là loại điều tra mà việc thu thập, ghi chép tài liệu ban
đầu của hiện tượng một cách liên tục, có hệ thống, gắn liền với quá trình phát
sinh và phát triển của hiện tượng.
Ví dụ: Ghi chép các hiện tượng phát sinh trong quá trình sản xuất của một doanh
nghiệp sản xuất như: số công nhân đi làm hằng ngày, số nguyên vật liệu sử dụng,
số sản phẩm sản xuất ra,…
Việc tiến hành điều tra thường xuyên tạo khả năng theo dõi tỉ mỉ tình hình phát
triển của hiện tượng theo thời gian, thu thập được những tài liệu phản ánh quá
trình phát triển tích lũy của hiện tượng. Tài liệu điều tra thường xuyên là cơ sở
chủ yếu để lập các báo cáo thống kê định kỳ và là công cụ quan trọng để theo dõi
tình hình chấp hành kế hoạch
2.1. Điều tra thống kê
6
2.1.2. Các loại điều tra thống kê
a. Căn cứ vào việc đăng ký, ghi chép tài liệu ban đầu liên tục hay không liên tục
Điều tra không thường xuyên: Là loại điều tra mà việc thu thập, ghi chép tài liệu ban
đầu của hiện tượng xảy ra một cách không liên tục không gắn liền với quá trình phát sinh
và phát triển của hiện tượng.
Ví dụ: Các báo cáo chuyên đề về xã hội học, các cuộc tổng điều tra dân số, điều tra chăn
nuôi, điều tra tồn kho vật tư là thuộc điều tra không thường xuyên.
Điều tra không thường xuyên đáp ứng những trường hợp hiện tượng xảy ra không
thường xuyên hoặc hiện tượng xảy ra thường xuyên nhưng yêu cầu nghiên cứu không đòi
hỏi hoặc điều kiện về nhân tài vật lực không cho phép tiến hành điều tra thường xuyên.
Tài liệu của loại điều tra này chỉ phản ánh trạng thái của hiện tượng tại một thời điểm
nhất định. Loại này chỉ được sử dụng đối với những hiện tượng biến đổi chậm hoặc
những hiện tượng xảy ra thường xuyên nhưng không có điều kiện để theo dõi thường
xuyên liên tục. Tuy nhiên, để tiện cho việc theo dõi, so sánh và phân tích sự phát triển của
hiện tượng theo thời gian, nhiều cuộc điều tra không thường xuyên được tiến hành lặp đi
lặp lại theo chu kỳ nhất định.
2.1. Điều tra thống kê
7
2.1.2. Các loại điều tra thống kê
b. Căn cứ vào phạm vi của đối tượng điều tra
Điều tra không toàn bộ: Là loại điều tra mà việc thu thập tài liệu ban đầu
được tiến hành trên một số đơn vị được chọn ra trong toàn bộ số đơn vị thuộc
đối tượng nghiên cứu. Các đơn vị được chọn phải thỏa mãn một số yêu cầu
nhất định. Mục đích của điều tra không toàn bộ thường là để có các tài liệu
làm căn cứ nhận định hoặc tính toán suy rộng ra các đặc điểm của tổng thể
chung
Ví dụ: Điều tra năng suất thu hoạch lúa, điều tra giá cả hàng hoá trên thị
trường, điều tra thăm dò dư luận, ... đều là điều tra không toàn bộ.
- Ưu điểm: Loại điều tra này được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu thống
kê vì có một số ưu điểm: tiến hành nhanh chóng, đảm bảo yêu cầu kịp thời và
tiết kiệm; phạm vi điều tra hẹp nên có điều kiện đi sâu nghiên cứu một số hiện
tượng cá biệt.
- Nhược điểm: Tính chính xác không cao
2.1. Điều tra thống kê
8
2.1.2. Các loại điều tra thống kê
b. Căn cứ vào phạm vi của đối tượng điều tra
Có 3 loại điều tra không toàn bộ: Điều tra chọn mẫu, điều tra trọng điểm và điều tra chuyên
đề.
Điều tra chọn mẫu: Là loại điều tra không toàn bộ trong đó người ta chọn ra một số đơn vị
trong toàn bộ số đơn vị của tổng thể nghiên cứu để điều tra thực tế rồi dùng các kết quả thu
thập được để suy rộng ra các đặc trưng chung của toàn bộ tổng thể.
Ví dụ: Khi vụ lúa của một địa phương nào đó sắp đến thu hoạch, muốn cung cấp kịp thời tài
liệu về năng suất và sản lượng lúa cho các ngành, các cấp, cơ quan thống kê có thể điều tra
bằng cách chọn một số đơn vị diện tích trong toàn bộ diện tích gieo cấy của địa phương để
điều tra. Sau đó, căn cứ vào kết quả thu được suy ra năng suất và sản lượng của toàn địa
phương.
• Ưu điểm: Nhanh, tiết kiệm chi phí, nội dung điều tra phong phú, tài liệu thu thập được đảm
bảo độ chính xác cao.
• Điều tra chọn mẫu được sử dụng linh hoạt trong nhiều trường hợp như: dùng để thay thế
điều tra toàn bộ; kết hợp với điều tra toàn bộ để mở rộng nội dung điều tra; dùng để tổng
hợp nhanh các tài liệu điều tra toàn bộ và khi đối tượng nghiên cứu không cho phép tiến
hành điều tra toàn bộ.
2.1. Điều tra thống kê
9
2.1.2. Các loại điều tra thống kê
b. Căn cứ vào phạm vi của đối tượng điều tra
Có 3 loại điều tra không toàn bộ: Điều tra chọn mẫu, điều tra trọng
điểm và điều tra chuyên đề.
Điều tra trọng điểm: Là loại điều tra không toàn bộ trong đó người ta
chỉ tiến hành trên những bộ phận chủ yếu của tổng thể trong toàn bộ
tổng thể nghiên cứu. Bộ phận chủ yếu này thường chiếm một tỷ trọng
lớn trong tổng thể. Kết quả của loại điều tra này giúp ta nắm được tình
hình cơ bản của hiện tượng nghiên cứu nhưng không dùng để suy rộng
thành các đặc điểm chung của tổng thể.
Loại điều tra này thích hợp với hiện tượng có từng bộ phận tương đối
tập trung, bộ phận này phải chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thể.
2.1. Điều tra thống kê
10
2.1.2. Các loại điều tra thống kê
b. Căn cứ vào phạm vi của đối tượng điều tra
Có 3 loại điều tra không toàn bộ: Điều tra chọn mẫu, điều tra trọng
điểm và điều tra chuyên đề.
Điều tra chuyên đề: Là loại điều tra không toàn bộ trong đó người ta
chỉ tiến hành điều tra trên một số ít thậm chí chỉ trên một đơn vị của
tổng thể nghiên cứu, nhưng lại đi sâu tìm hiểu chi tiết nhiều khía cạnh
khác nhau của đơn vị đó.
• Loại điều tra này thường được sử dụng để nghiên cứu tìm hiểu nhân
tố mới trong xu hướng phát triển của hiện tượng hoặc để tìm ra
nguyên nhân của sự trì trệ, lạc hậu của một hoặc một số đơn vị nào
đó.
2.1. Điều tra thống kê
11
2.1.3. Các phương pháp điều tra thống kê
Tuỳ theo mục đích điều tra và đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu, có
thể dùng các phương pháp khác nhau để đăng ký, ghi chép tài liệu ban
đầu.
a. Phương pháp đăng ký trực tiếp
Là phương pháp ghi chép tài liệu ban đầu trong đó nhân viên điều tra
phải tiếp xúc với đơn vị được điều tra, trực tiếp tiến hành hoặc giám
sát việc cân đo, đong, đếm để xác định mặt lượng của hiện tượng và
sau đó tự ghi chép lại các tài liệu vào phiếu điều tra.
- Ưu điểm: Tài liệu ban đầu do đăng ký ghi chép trực tiếp có mức độ
chính xác cao nhưng đòi hỏi nhiều nhân tài, vật lực.
- Nhược điểm: Phạm vi ứng dụng bị hạn chế vì có nhiều hiện tượng
không cho phép quan sát trực tiếp.
2.1. Điều tra thống kê
12
2.1.3. Các phương pháp điều tra thống kê
b. Phương pháp đăng ký gián tiếp
Là người điều tra thu thập tài liệu qua bản viết của đơn vị điều tra; qua
điện thoại hoặc qua chứng từ, sổ sách, văn bản có sẵn.
Ví dụ: Điều tra dư luận xã hội qua các phiếu điều tra; điều tra thu nhập
và ngân sách gia đình, điều tra thị trường, …
- Ưu điểm: Việc thu thập tài liệu ít tốn kém
- Nhược điểm: Tài liệu thu thập ít chính xác, chất lượng không cao.
2.1. Điều tra thống kê
13
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
a. Báo cáo thống kê định kỳ
• Theo Luật Thống kê thì báo cáo thống kê là hình thức thu thập thông tin thống
kê theo chế độ báo cáo thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành. Báo cáo thống kê bao gồm báo cáo thống kê cơ sở và báo cáo thống kê
tổng hợp.
• Báo cáo thống kê định kỳ là hình thức tổ chức điều tra thống kê thường
xuyên, có định kỳ, theo nội dung, phương pháp và chế độ báo cáo thống nhất
do cơ quan có thẩm quyền quy định. Báo cáo thống kê định kỳ mang tính
pháp lệnh bắt buộc. Người báo cáo phải chấp hành đúng quy định, không
được vi phạm pháp lệnh. Nó được áp dụng chủ yếu đối với các doanh nghiệp
Nhà nước và cơ quan Nhà nước.
• Nội dung của các báo cáo thống kê định kỳ thường bao gồm những chỉ tiêu có
liên quan đến lĩnh vực quản lý kinh tế vĩ mô và toàn bộ nền kinh tế quốc dân
nhằm phục vụ việc lãnh đạo và quản lý nền kinh tế tập trung, thống nhất.
2.1. Điều tra thống kê
14
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
a. Báo cáo thống kê định kỳ
Trong tổ chức báo cáo thống kê định kỳ, cần giải quyết tốt những vấn đề cơ bản
sau:
- Ghi chép ban đầu: Là đăng ký lần đầu theo một chế độ quy định mặt lượng của
hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội đã phát sinh ra ở các đơn vị cơ sở nhằm
phục vụ các yêu cầu quản lý.
Công tác ghi chép ban đầu được tổ chức một cách khoa học và có hệ thống sẽ
góp phần quan trọng trong công tác quản lý kinh tế ở các đơn vị cơ sở.
Đối với thống kê, ghi chép ban đầu là cơ sở để lập các báo cáo thống kê định kỳ,
tính toán chỉ tiêu tổng hợp nhằm phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh của các đơn vị cơ sở. Mức độ chính xác, kịp thời và đầy đủ của báo cáo
thống kê định kỳ phụ thuộc chủ yếu ở việc tổ chức tốt chế độ ghi chép ban đầu.
Việc thực hiện chế độ ghi chép ban đầu phải quán triệt nguyên tắc thống nhất,
tập trung kết hợp với sự linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể.
2.1. Điều tra thống kê
15
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
a. Báo cáo thống kê định kỳ (tt)
Trong tổ chức báo cáo thống kê định kỳ, cần giải quyết tốt những vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống chỉ tiêu thống kê: Là tập hợp những chỉ tiêu có thể phản ánh các mặt, các tính chất
quan trọng nhất, các mối liên hệ cơ bản giữa các mặt của tổng thể và mối liên hệ của tổng thể với
các hiện tượng liên quan.
- Hệ thống chỉ tiêu được cấu thành từ các nhóm chỉ tiêu được xây dựng cho những đối tượng
nghiên cứu riêng. Chẳng hạn như hệ thống chỉ tiêu thống kê của một doanh nghiệp bao gồm các
chỉ tiêu về lao động, năng suất lao động, tiền lương; tư liệu sản xuất, chi phí sản xuất, giá thành
sản phẩm, chất lượng sản phẩm, kết quả sản xuất, …
- Hệ thống chỉ tiêu có tác dụng lượng hóa các mặt quan trọng nhất, cơ cấu khách quan, mối liên
hệ cơ bản của đối tượng nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê không chỉ có nghĩa đơn thuần là nêu ra những chỉ tiêu nào
trong đó mà còn bảo đảm có thể thu thập được thông tin để tính toán các trị số của chúng.
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cần cân nhắc kỹ lưỡng để xác định những chỉ tiêu cơ bản
nhất, quan trọng nhất làm cho số lượng chỉ tiêu không nhiều mà vẫn đáp ứng được mục đích
nghiên cứu.
2.1. Điều tra thống kê
16
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
b. Điều tra chuyên môn
• Điều tra chuyên môn là hình thức tổ chức điều tra không thường xuyên, được
tiến hành theo một kế hoạch và phương pháp quy định riêng cho mỗi lần điều
tra.
• Khác với báo cáo thống kê định kỳ, điều tra chuyên môn không thường xuyên tổ
chức thu thập tài liệu ban đầu mà chỉ khi nào cần tới mới tổ chức ghi chép một
lần vào một thời điểm hoặc trong một thời kỳ nhất định.
Ví dụ: Điều tra về nhu cầu nhà ở và hàng tiêu dùng, ...
• Đối tượng chủ yếu của điều tra chuyên môn là những hiện tượng mà báo cáo
thống kê định kỳ chưa hoặc không thể thường xuyên phản ánh được. Đó là
những hiện tượng tuy có biến đổi nhưng chậm và không lớn lắm hoặc những
hiện tượng xảy ra bất thường như tai nạn lao động, thiên tai, ...
• Tài liệu thu thập được bằng hình thức này rất phong phú, có ý nghĩa tác dụng
nhiều mặt trong quản lý kinh tế và xã hội.
2.1. Điều tra thống kê
17
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
b. Điều tra chuyên môn
Trong tổ chức thu thập tài liệu điều tra, một trong những vấn đề quan
trọng là xây dựng văn kiện điều tra. Văn kiện này bao gồm các vấn đề
chủ yếu sau:
- Mục đích điều tra:
Nghĩa là quy định rõ cuộc điều tra nhằm tìm hiểu vấn đề gì, phục vụ cho
yêu cầu nghiên cứu nào. Việc xác định mục đích điều tra có quan hệ tới
việc xác định đối tượng, đơn vị, nội dung điều tra. Mục đích điều tra cụ
thể sẽ tạo điều kiện cho việc thu thập tài liệu đầy đủ, hợp lý và đáp ứng
được yêu cầu nghiên cứu.
2.1. Điều tra thống kê
18
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
b. Điều tra chuyên môn
Trong tổ chức thu thập tài liệu điều tra, một trong những vấn đề quan trọng là
xây dựng văn kiện điều tra. Văn kiện này bao gồm các vấn đề chủ yếu sau:
- Đối tượng điều tra và đơn vị điều tra:
+ Đối tượng điều tra: là tổng thể các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu cần thu
thập tài liệu. Xác định rõ đối tượng điều tra tức là quy định cụ thể phạm vi của
hiện tượng nghiên cứu, vạch rõ ranh giới giữa hiện tượng đó với các hiện
tượng khác, tránh được tình trạng nhầm lẫn khi tổ chức thu thập tài liệu ban
đầu.
+ Đơn vị điều tra: là đơn vị thuộc đối tượng điều tra và được thu thập tài liệu.
Đơn vị điều tra là nơi phát sinh ra các tài liệu thu thập được trong mỗi cuộc
điều tra. Việc xác định đơn vị điều tra nhằm chỉ dẫn nhân viên điều tra đến nơi
thu thập và ghi chép số liệu đồng thời đây còn là căn cứ để tiến hành tổng hợp
và phân tích thống kê.
2.1. Điều tra thống kê
19
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
b. Điều tra chuyên môn
Trong tổ chức thu thập tài liệu điều tra, một trong những vấn đề quan
trọng là xây dựng văn kiện điều tra. Văn kiện này bao gồm các vấn đề
chủ yếu sau:
- Nội dung điều tra:
Mỗi đơn vị điều tra có nhiều đặc điểm khác nhau mà thống kê học
thường gọi là tiêu thức. Nội dung điều tra chính là mục lục các tiêu
thức cần thu thập trên các đơn vị điều tra. Các tiêu thức này được diễn
đạt thành các câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng. Muốn xác định nội dung điều
tra cần căn cứ vào mục đích điều tra. Mục đích điều tra càng lớn thì nội
dung điều tra càng nhiều.
2.1. Điều tra thống kê
20
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
b. Điều tra chuyên môn
Trong tổ chức thu thập tài liệu điều tra, một trong những vấn đề quan
trọng là xây dựng văn kiện điều tra. Văn kiện này bao gồm các vấn đề chủ
yếu sau:
- Biểu điều tra và bản giải thích:
Biểu điều tra (hay còn gọi là phiếu điều tra) là loại bản in sẵn theo mẫu
quy định trong văn kiện điều tra để ghi tài liệu của đơn vị điều tra. Biểu
điều tra phải đảm bảo chứa đựng đầy đủ nội dung điều tra đồng thời
thuận tiện cho việc ghi chép và kiểm tra tài liệu, thuận tiện cho việc tổng
hợp. Các biểu điều tra được ban hành kèm theo bản giải thích cách ghi
biểu, bản này giúp cho người điều tra và các đơn vị điều tra nhận thức
thống nhất các câu hỏi đặt ra trong biểu điều tra, nắm được phương
pháp ghi chép tài liệu.
2.1. Điều tra thống kê
21
2.1. Điều tra thống kê
2.1.5. Sai số trong điều tra thống kê
• Sai số trong điều tra là chênh lệch giữa các trị số của tiêu thức điều
tra đã thu thập so với trị số thực tế của hiện tượng nghiên cứu.
• Các sai số này làm giảm chất lượng của kết quả điều tra và ảnh hưởng
tới kết quả tổng hợp, phân tích và dự báo. Do đó, cần phải hiểu được
các nguyên nhân phát sinh sai số, từ đó hạn chế sai số bằng các biện
pháp thiết thực
22
2.1. Điều tra thống kê
2.1.5. Sai số trong điều tra thống kê
Hai loại sai số thường gặp là: Sai số do ghi chép tài liệu và sai số do tính chất
đại biểu.
- Sai số do ghi chép tài liệu không chính xác có nhiều nguyên nhân như: cân,
đo, đong, đếm, ghi chép sai hoặc do người điều tra, đơn vị điều tra cố tình
đăng ký sai sự thật.
- Sai số do tính chất đại biểu chỉ xảy ra trong cuộc điều tra chọn mẫu. Nguyên
nhân là do việc chọn đơn vị điều tra không đủ tính chất đại biểu cho tổng thể
chung.
Biện pháp hạn chế sai số: Để đảm bảo các kết quả điều tra đạt mức độ chính
xác cao cần phải hạn chế sai số. Có thể áp dụng các biện pháp sau đây: làm tốt
công tác chuẩn bị điều tra; tiến hành kiểm tra một cách có hệ thống toàn bộ
cuộc điều tra (kiểm tra tài liệu thu thập được; kiểm tra tính chất đại biểu của
các đơn vị điều tra trong điều tra chọn mẫu; kiểm tra về mặt lôgic và kiểm tra
về mặt tính toán; …)
23
2.2.1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của tổng hợp thống kê
a. Khái niệm
• Sau khi tiến hành điều tra thống kê, cơ quan thống kê đã thu thập
được những tài liệu về tiêu thức điều tra trên mỗi đơn vị tổng thể.
Các tài liệu này chỉ phản ánh các đặc trưng riêng của từng đơn vị. Để
có thể nêu lên một số đặc trưng chung của tổng thể, cần phải tiến
hành tổng hợp các tài liệu đã điều tra.
• Tổng hợp thống kê là tiến hành tập trung, chỉnh lý và hệ thống hoá
một cách khoa học các tài liệu ban đầu thu thập được trong điều tra
thống kê.
2.2. Tổng hợp thống kê
24
2.2.1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của tổng hợp thống kê
b. Ý nghĩa
• Tổng hợp thống kê là giai đoạn thứ hai của quá trình nghiên cứu thống
kê. Việc tổ chức tổng hợp một cách đúng đắn và khoa học có ý nghĩa
rất lớn đối với kết quả nghiên cứu thống kê. Tài liệu điều tra cho dù có
phong phú, chính xác, đầy đủ kịp thời đi chăng nữa nhưng việc tổng
hợp thống kê không khoa học thì cũng không thể rút ra được số liệu
chính xác để làm căn cứ vững chắc cho phân tích thống kê.
c. Nhiệm vụ cơ bản của tổng hợp thống kê
• Là làm cho các đặc trưng riêng biệt của từng đơn vị tổng thể bước đầu
chuyển thành các đặc trưng chung của toàn bộ tổng thể; làm cho các
biểu hiện riêng biệt của tiêu thức điều tra bước đầu chuyển thành các
biểu hiện chung về đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu.
2.2. Tổng hợp thống kê
25
2.2.2. Tổ chức tổng hợp thống kê
a. Hình thức tổ chức tổng hợp thống kê
Có hai hình thức tổ chức tổng hợp thống kê: tổng hợp từng cấp và tổng
hợp tập trung.
- Tổng hợp từng cấp: Là tổ chức tổng hợp các tài liệu điều tra theo từng
bước, từ cấp dưới lên cấp trên theo một kế hoạch đã vạch sẵn. Hình thức
này được áp dụng với một số cuộc điều tra chuyên môn và báo cáo
thống kê định kỳ.
- Tổng hợp tập trung: Là toàn bộ tài liệu ban đầu được tập trung về một
cơ quan để tiến hành chỉnh lý và hệ thống hoá từ đầu đến cuối. Các tài
liệu thu thập phải qua điều tra thống kê và phải được tập trung về một
nơi để tổng hợp. Ở đây chỉ có một cơ quan duy nhất tổng hợp. Hình thức
này được áp dụng khi muốn có số liệu tổng hợp nhanh chóng đối với
một số cuộc điều tra chuyên môn lớn như điều tra dân số.
26
2.2. Tổng hợp thống kê
2.2.2. Tổ chức tổng hợp thống kê
b. Kỹ thuật tổng hợp thống kê
• Kỹ thuật tổng hợp giữ vai trò quan trọng trong công tác tổng hợp
thống kê. Có 2 loại kỹ thuật tổng hợp: tổng hợp thủ công và tổng hợp
bằng máy. Trong đó, tổng hợp bằng máy là biện pháp quan trọng để
nâng cao năng suất lao động và đảm bảo tính chính xác của các số liệu
được chỉnh lý, hệ thống hoá.
- Tổng hợp thủ công: Là tổng hợp bằng tay hay các phương tiện đơn
giản như: bàn tính, máy tính cá nhân. Tổng hợp thủ công gồm các
phương pháp như phương pháp lên biểu, phương pháp ghi dấu,
phương pháp bảng rời.
- Tổng hợp bằng máy: Sử dụng máy móc chuyên môn để tiến hành tổng
hợp như máy đục phiếu, máy vạn năng, ...
2.2. Tổng hợp thống kê
27
2.3.1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích dự đoán thống kê
a. Khái niệm
Phân tích dự đoán thống kê là nêu lên một cách tổng hợp bản chất cụ
thể và tính quy luật của hiện tượng trong một điều kiện lịch sử nhất
định thông qua biểu hiện bằng số liệu, tính toán mức độ tương lai của
hiện tượng nhằm đưa ra những căn cứ cho quyết định quản lý.
b. Ý nghĩa
- Phân tích dự đoán thống kê là khâu cuối cùng của quá trình nghiên
cứu thống kê, biểu hiện tập trung kết quả của toàn bộ quá trình nghiên
cứu thống kê. Tài liệu điều tra và tổng hợp chỉ có trải qua sự phân tích
sâu sắc và toàn diện mới có thể nêu lên được biểu hiện về mặt chất và
tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu.
2.3. Phân tích dự đoán thống kê
.
28
2.3.1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích dự đoán thống kê
b. Ý nghĩa (tt)
- Phân tích dự đoán thống kê có liên hệ mật thiết với các khâu điều tra
và tổng hợp thống kê. Tài liệu thu thập được ở giai đoạn điều tra phong
phú, chính xác, kết quả tổng hợp thống kê thực sự khoa học thì phân
tích dự đoán thống kê mới có khả năng rút ra kết luận đúng đắn.
c. Nhiệm vụ
- Phải nêu lên được bản chất và tính quy luật của hiện tượng và quá
trình kinh tế - xã hội trong điều kiện thời gian và không gian nhất định.
- Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch nhằm phục vụ kịp thời cho
công tác quản lý kinh tế của các ngành, các cấp.
2.3. Phân tích dự đoán thống kê
.
29
2.3.2. Những vấn đề chủ yếu của phân tích, dự đoán thống kê
Trước khi tiến hành phân tích và dự đoán thống kê, người ta cần phải xây dựng
một phương án gồm các vấn đề chủ yếu như sau:
a. Mục đích cụ thể của phân tích dự đoán thống kê:
• Mục đích của phân tích và dự đoán thống kê cũng là mục đích của nghiên cứu
thống kê. Xác định mục đích của phân tích và dự đoán thống kê cụ thể tức là
nêu lên những vấn đề cần giải quyết trong một phạm vi nhất định.
Ví dụ: Khi phân tích tình hình sản xuất của một số đơn vị, mục đích cụ thể được
xác định: nêu rõ các ưu nhược điểm, tìm hiểu nguyên nhân và đề ra các biện
pháp khắc phục trong thời kỳ tới để đưa sản xuất phát triển.
• Mục đích phân tích và dự đoán thống kê cụ thể ảnh hưởng đến việc sử dụng
nguồn tài liệu nào, tính toán những chỉ tiêu gì, dùng phương pháp phân tích cụ
thể nào?... căn cứ để xác định mục đích phân tích và dự đoán cụ thể là các yêu
cầu nhằm giải quyết những nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội đặt ra cho các
đơn vị hoặc doanh nghiệp.
2.3. Phân tích dự đoán thống kê
.
30
2.3.2. Những vấn đề chủ yếu của phân tích, dự đoán thống kê
b. Lựa chọn, đánh giá tài liệu dùng để phân tích và dự đoán
• Phân tích thường dùng một khối lượng lớn tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau.
Phần lớn là các tài liệu được thu thập và tổng hợp qua các báo cáo thống kê định
kỳ và điều tra chuyên môn do hệ thống kế toán - thống kê chuyên trách đảm
nhiệm. Do vậy, khi tiến hành phân tích thống kê, phải có sự lựa chọn, đánh giá tài
liệu một cách đầy đủ chính xác.
• Căn cứ vào mục đích phân tích và dự đoán mà lựa chọn những tài liệu cần thiết.
Nếu thiếu các tài liệu này thì phải tiến hành thu thập thêm hoặc có thể dựa vào
nguồn tài liệu sẵn có mà tính toán. Chất lượng của tài liệu ảnh hưởng đến chất
lượng của phân tích dự đoán thống kê.
2.3. Phân tích dự đoán thống kê
.
31
Khi lựa chọn tài liệu cần thiết phải xem xét, đánh giá trên các mặt:
- Tài liệu thu thập có được đảm bảo yêu cầu chính xác, kịp thời, đầy đủ hay
không? Phương pháp thu thập có khoa học không? Trong điều tra chọn mẫu,
cần đánh giá tính chất đại biểu của số mẫu được chọn để điều tra thực tế.
- Các tài liệu có được phân tổ, chỉnh lý và hệ thống hoá khoa học hay không?
Có đáp ứng yêu cầu và mục đích nghiên cứu của phân tích hay không?
- Các chỉ tiêu được tính toán theo phương pháp nào? Các tài liệu có đảm bảo
tính chất so sánh được với nhau hay không?...
Khi đánh giá tài liệu phải kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, lấy việc
đối chiếu so sánh các chỉ tiêu với nhau và việc liên hệ với tình hình thực tế làm
biện pháp phát hiện các vấn đề trong tài liệu
2.3.2. Những vấn đề chủ yếu của phân tích, dự đoán thống kê
c. Xác định các phương pháp, chỉ tiêu phân tích và dự đoán
- Các phương pháp sử dụng trong phân tích thống kê gồm có phương
pháp phân tổ như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân, dãy số biến
động, phương pháp chỉ số, ... Ngoài ra, còn nhiều phương pháp của
toán học cũng được sử dụng như hồi quy, tương quan, phương pháp
phân tích phương sai,... Mỗi phương pháp đều có ý nghĩa và tác dụng
khác nhau. Do đó, lựa chọn các phương pháp phân tích cho từng
trường hợp cụ thể và cần chú ý đến các đặc điểm sau:
+ Xuất phát từ mục đích cụ thể của phân tích và dự đoán thống kê, từ
đặc điểm, tính chất và sự biến động cũng như các mối liên hệ của hiện
tượng kinh tế - xã hội mà xác định phương pháp nào phù hợp.
2.3. Phân tích dự đoán thống kê
.
33
2.3.2. Những vấn đề chủ yếu của phân tích, dự đoán thống kê
c. Xác định các phương pháp, chỉ tiêu phân tích và dự đoán (tt)
+ Phải biết khéo léo kết hợp nhiều phương pháp nhằm phát huy một
cách tổng hợp các tác dụng của chúng, để làm cho việc phân tích được
sâu sắc và toàn diện hơn.
- Khi xác định các chỉ tiêu phân tích cần chú ý lựa chọn chỉ tiêu quan
trọng nhất, phản ánh đúng đắn nhất đặc điểm bản chất của hiện tượng
nghiên cứu. Các chỉ tiêu cần có sự liên hệ với nhau, bổ sung cho nhau
giúp cho việc phân tích sâu sắc và toàn diện.
2.3. Phân tích dự đoán thống kê
.
34
TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG V
KHOA KINH TẾ - VẬN TẢI
NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ
Nội dung môn Nguyên lý thống kê
• Chương 1: Một số vấn đề chung về thống kê học
• Chương 2: Quá trình nghiên cứu thống kê
• Chương 3: Phân tổ thống kê
• Chương 4: Các mức độ của hiện tượng kinh tế xã hội
• Chương 5: Sự biến động của các hiện tượng kinh tế xã hội
09/08/2023
2
2.1. Điều tra thống kê
2.2. Tổng hợp thống kê
2.3. Phân tích và dự báo thống kê
Chương 2: Quá trình nghiên cứu thống kê
3
2.1. Điều tra thống kê
2.1.1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của điều tra thống kê
a. Khái niệm
- Điều tra thống kê là tổ chức một cách khoa học và theo một kế hoạch thống nhất
việc thu thập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về các hiện tượng và quá trình kinh tế
- xã hội nhằm đáp ứng mục đích nghiên cứu.
- Theo Luật Thống kê thì điều tra thống kê là hình thức thu thập thông tin thống kê
theo phương án điều tra.
Ví dụ: Cần nghiên cứu dân số cả nước với các đặc điểm về giới tính, độ tuổi, dân tộc,
nghề nghiệp,… thống kê phải tổ chức thu thập tài liệu trên từng người dân, từng hộ
gia đình về: họ và tên, tuổi, nam hay nữ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, dân
tộc, nghề nghiệp. Hay khi cần nghiên cứu tình hình sản xuất của một doanh nghiệp,
thống kê phải tổ chức thu thập tài liệu ban đầu phát sinh ra trong từng doanh
nghiệp như: số công nhân, số giờ máy hoạt động, số nguyên vật liệu tiêu dùng vào
sản xuất, giá trị tài sản, kết quả sản xuất đạt được,… Việc tổ chức ghi chép tài liệu
ban đầu như vậy gọi là điều tra thống kê.
4
2.1. Điều tra thống kê
2.1.1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của điều tra thống kê
b. Ý nghĩa
Điều tra thống kê là cơ sở để nắm được tình hình biến động của hiện tượng.
Đồng thời, nó còn là căn cứ để tổng hợp thống kê và phân tích thống kê.
c. Nhiệm vụ
- Điều tra thống kê có nhiệm vụ cung cấp tài liệu làm căn cứ để lập kế hoạch
và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch vì tài liệu do điều tra thống kê cung
cấp có hệ thống là căn cứ quan trọng để Đảng và Nhà nước đề ra các đường
lối, chính sách, các kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân và quản lý kinh tế xã hội một cách xác thực.
- Điều tra thống kê phải có nhiệm vụ cung cấp số liệu dùng làm căn cứ cho
công tác tổng hợp và phân tích thống kê.
5
2.1.2. Các loại điều tra thống kê
Tính phức tạp của hiện tượng kinh tế - xã hội, yêu cầu nghiên cứu của thống kê
và khả năng thu thập tài liệu khác nhau tạo nên các loại điều tra.
a. Căn cứ vào việc đăng ký, ghi chép tài liệu ban đầu liên tục hay không liên tục
Điều tra thường xuyên: Là loại điều tra mà việc thu thập, ghi chép tài liệu ban
đầu của hiện tượng một cách liên tục, có hệ thống, gắn liền với quá trình phát
sinh và phát triển của hiện tượng.
Ví dụ: Ghi chép các hiện tượng phát sinh trong quá trình sản xuất của một doanh
nghiệp sản xuất như: số công nhân đi làm hằng ngày, số nguyên vật liệu sử dụng,
số sản phẩm sản xuất ra,…
Việc tiến hành điều tra thường xuyên tạo khả năng theo dõi tỉ mỉ tình hình phát
triển của hiện tượng theo thời gian, thu thập được những tài liệu phản ánh quá
trình phát triển tích lũy của hiện tượng. Tài liệu điều tra thường xuyên là cơ sở
chủ yếu để lập các báo cáo thống kê định kỳ và là công cụ quan trọng để theo dõi
tình hình chấp hành kế hoạch
2.1. Điều tra thống kê
6
2.1.2. Các loại điều tra thống kê
a. Căn cứ vào việc đăng ký, ghi chép tài liệu ban đầu liên tục hay không liên tục
Điều tra không thường xuyên: Là loại điều tra mà việc thu thập, ghi chép tài liệu ban
đầu của hiện tượng xảy ra một cách không liên tục không gắn liền với quá trình phát sinh
và phát triển của hiện tượng.
Ví dụ: Các báo cáo chuyên đề về xã hội học, các cuộc tổng điều tra dân số, điều tra chăn
nuôi, điều tra tồn kho vật tư là thuộc điều tra không thường xuyên.
Điều tra không thường xuyên đáp ứng những trường hợp hiện tượng xảy ra không
thường xuyên hoặc hiện tượng xảy ra thường xuyên nhưng yêu cầu nghiên cứu không đòi
hỏi hoặc điều kiện về nhân tài vật lực không cho phép tiến hành điều tra thường xuyên.
Tài liệu của loại điều tra này chỉ phản ánh trạng thái của hiện tượng tại một thời điểm
nhất định. Loại này chỉ được sử dụng đối với những hiện tượng biến đổi chậm hoặc
những hiện tượng xảy ra thường xuyên nhưng không có điều kiện để theo dõi thường
xuyên liên tục. Tuy nhiên, để tiện cho việc theo dõi, so sánh và phân tích sự phát triển của
hiện tượng theo thời gian, nhiều cuộc điều tra không thường xuyên được tiến hành lặp đi
lặp lại theo chu kỳ nhất định.
2.1. Điều tra thống kê
7
2.1.2. Các loại điều tra thống kê
b. Căn cứ vào phạm vi của đối tượng điều tra
Điều tra không toàn bộ: Là loại điều tra mà việc thu thập tài liệu ban đầu
được tiến hành trên một số đơn vị được chọn ra trong toàn bộ số đơn vị thuộc
đối tượng nghiên cứu. Các đơn vị được chọn phải thỏa mãn một số yêu cầu
nhất định. Mục đích của điều tra không toàn bộ thường là để có các tài liệu
làm căn cứ nhận định hoặc tính toán suy rộng ra các đặc điểm của tổng thể
chung
Ví dụ: Điều tra năng suất thu hoạch lúa, điều tra giá cả hàng hoá trên thị
trường, điều tra thăm dò dư luận, ... đều là điều tra không toàn bộ.
- Ưu điểm: Loại điều tra này được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu thống
kê vì có một số ưu điểm: tiến hành nhanh chóng, đảm bảo yêu cầu kịp thời và
tiết kiệm; phạm vi điều tra hẹp nên có điều kiện đi sâu nghiên cứu một số hiện
tượng cá biệt.
- Nhược điểm: Tính chính xác không cao
2.1. Điều tra thống kê
8
2.1.2. Các loại điều tra thống kê
b. Căn cứ vào phạm vi của đối tượng điều tra
Có 3 loại điều tra không toàn bộ: Điều tra chọn mẫu, điều tra trọng điểm và điều tra chuyên
đề.
Điều tra chọn mẫu: Là loại điều tra không toàn bộ trong đó người ta chọn ra một số đơn vị
trong toàn bộ số đơn vị của tổng thể nghiên cứu để điều tra thực tế rồi dùng các kết quả thu
thập được để suy rộng ra các đặc trưng chung của toàn bộ tổng thể.
Ví dụ: Khi vụ lúa của một địa phương nào đó sắp đến thu hoạch, muốn cung cấp kịp thời tài
liệu về năng suất và sản lượng lúa cho các ngành, các cấp, cơ quan thống kê có thể điều tra
bằng cách chọn một số đơn vị diện tích trong toàn bộ diện tích gieo cấy của địa phương để
điều tra. Sau đó, căn cứ vào kết quả thu được suy ra năng suất và sản lượng của toàn địa
phương.
• Ưu điểm: Nhanh, tiết kiệm chi phí, nội dung điều tra phong phú, tài liệu thu thập được đảm
bảo độ chính xác cao.
• Điều tra chọn mẫu được sử dụng linh hoạt trong nhiều trường hợp như: dùng để thay thế
điều tra toàn bộ; kết hợp với điều tra toàn bộ để mở rộng nội dung điều tra; dùng để tổng
hợp nhanh các tài liệu điều tra toàn bộ và khi đối tượng nghiên cứu không cho phép tiến
hành điều tra toàn bộ.
2.1. Điều tra thống kê
9
2.1.2. Các loại điều tra thống kê
b. Căn cứ vào phạm vi của đối tượng điều tra
Có 3 loại điều tra không toàn bộ: Điều tra chọn mẫu, điều tra trọng
điểm và điều tra chuyên đề.
Điều tra trọng điểm: Là loại điều tra không toàn bộ trong đó người ta
chỉ tiến hành trên những bộ phận chủ yếu của tổng thể trong toàn bộ
tổng thể nghiên cứu. Bộ phận chủ yếu này thường chiếm một tỷ trọng
lớn trong tổng thể. Kết quả của loại điều tra này giúp ta nắm được tình
hình cơ bản của hiện tượng nghiên cứu nhưng không dùng để suy rộng
thành các đặc điểm chung của tổng thể.
Loại điều tra này thích hợp với hiện tượng có từng bộ phận tương đối
tập trung, bộ phận này phải chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thể.
2.1. Điều tra thống kê
10
2.1.2. Các loại điều tra thống kê
b. Căn cứ vào phạm vi của đối tượng điều tra
Có 3 loại điều tra không toàn bộ: Điều tra chọn mẫu, điều tra trọng
điểm và điều tra chuyên đề.
Điều tra chuyên đề: Là loại điều tra không toàn bộ trong đó người ta
chỉ tiến hành điều tra trên một số ít thậm chí chỉ trên một đơn vị của
tổng thể nghiên cứu, nhưng lại đi sâu tìm hiểu chi tiết nhiều khía cạnh
khác nhau của đơn vị đó.
• Loại điều tra này thường được sử dụng để nghiên cứu tìm hiểu nhân
tố mới trong xu hướng phát triển của hiện tượng hoặc để tìm ra
nguyên nhân của sự trì trệ, lạc hậu của một hoặc một số đơn vị nào
đó.
2.1. Điều tra thống kê
11
2.1.3. Các phương pháp điều tra thống kê
Tuỳ theo mục đích điều tra và đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu, có
thể dùng các phương pháp khác nhau để đăng ký, ghi chép tài liệu ban
đầu.
a. Phương pháp đăng ký trực tiếp
Là phương pháp ghi chép tài liệu ban đầu trong đó nhân viên điều tra
phải tiếp xúc với đơn vị được điều tra, trực tiếp tiến hành hoặc giám
sát việc cân đo, đong, đếm để xác định mặt lượng của hiện tượng và
sau đó tự ghi chép lại các tài liệu vào phiếu điều tra.
- Ưu điểm: Tài liệu ban đầu do đăng ký ghi chép trực tiếp có mức độ
chính xác cao nhưng đòi hỏi nhiều nhân tài, vật lực.
- Nhược điểm: Phạm vi ứng dụng bị hạn chế vì có nhiều hiện tượng
không cho phép quan sát trực tiếp.
2.1. Điều tra thống kê
12
2.1.3. Các phương pháp điều tra thống kê
b. Phương pháp đăng ký gián tiếp
Là người điều tra thu thập tài liệu qua bản viết của đơn vị điều tra; qua
điện thoại hoặc qua chứng từ, sổ sách, văn bản có sẵn.
Ví dụ: Điều tra dư luận xã hội qua các phiếu điều tra; điều tra thu nhập
và ngân sách gia đình, điều tra thị trường, …
- Ưu điểm: Việc thu thập tài liệu ít tốn kém
- Nhược điểm: Tài liệu thu thập ít chính xác, chất lượng không cao.
2.1. Điều tra thống kê
13
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
a. Báo cáo thống kê định kỳ
• Theo Luật Thống kê thì báo cáo thống kê là hình thức thu thập thông tin thống
kê theo chế độ báo cáo thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành. Báo cáo thống kê bao gồm báo cáo thống kê cơ sở và báo cáo thống kê
tổng hợp.
• Báo cáo thống kê định kỳ là hình thức tổ chức điều tra thống kê thường
xuyên, có định kỳ, theo nội dung, phương pháp và chế độ báo cáo thống nhất
do cơ quan có thẩm quyền quy định. Báo cáo thống kê định kỳ mang tính
pháp lệnh bắt buộc. Người báo cáo phải chấp hành đúng quy định, không
được vi phạm pháp lệnh. Nó được áp dụng chủ yếu đối với các doanh nghiệp
Nhà nước và cơ quan Nhà nước.
• Nội dung của các báo cáo thống kê định kỳ thường bao gồm những chỉ tiêu có
liên quan đến lĩnh vực quản lý kinh tế vĩ mô và toàn bộ nền kinh tế quốc dân
nhằm phục vụ việc lãnh đạo và quản lý nền kinh tế tập trung, thống nhất.
2.1. Điều tra thống kê
14
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
a. Báo cáo thống kê định kỳ
Trong tổ chức báo cáo thống kê định kỳ, cần giải quyết tốt những vấn đề cơ bản
sau:
- Ghi chép ban đầu: Là đăng ký lần đầu theo một chế độ quy định mặt lượng của
hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội đã phát sinh ra ở các đơn vị cơ sở nhằm
phục vụ các yêu cầu quản lý.
Công tác ghi chép ban đầu được tổ chức một cách khoa học và có hệ thống sẽ
góp phần quan trọng trong công tác quản lý kinh tế ở các đơn vị cơ sở.
Đối với thống kê, ghi chép ban đầu là cơ sở để lập các báo cáo thống kê định kỳ,
tính toán chỉ tiêu tổng hợp nhằm phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh của các đơn vị cơ sở. Mức độ chính xác, kịp thời và đầy đủ của báo cáo
thống kê định kỳ phụ thuộc chủ yếu ở việc tổ chức tốt chế độ ghi chép ban đầu.
Việc thực hiện chế độ ghi chép ban đầu phải quán triệt nguyên tắc thống nhất,
tập trung kết hợp với sự linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể.
2.1. Điều tra thống kê
15
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
a. Báo cáo thống kê định kỳ (tt)
Trong tổ chức báo cáo thống kê định kỳ, cần giải quyết tốt những vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống chỉ tiêu thống kê: Là tập hợp những chỉ tiêu có thể phản ánh các mặt, các tính chất
quan trọng nhất, các mối liên hệ cơ bản giữa các mặt của tổng thể và mối liên hệ của tổng thể với
các hiện tượng liên quan.
- Hệ thống chỉ tiêu được cấu thành từ các nhóm chỉ tiêu được xây dựng cho những đối tượng
nghiên cứu riêng. Chẳng hạn như hệ thống chỉ tiêu thống kê của một doanh nghiệp bao gồm các
chỉ tiêu về lao động, năng suất lao động, tiền lương; tư liệu sản xuất, chi phí sản xuất, giá thành
sản phẩm, chất lượng sản phẩm, kết quả sản xuất, …
- Hệ thống chỉ tiêu có tác dụng lượng hóa các mặt quan trọng nhất, cơ cấu khách quan, mối liên
hệ cơ bản của đối tượng nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê không chỉ có nghĩa đơn thuần là nêu ra những chỉ tiêu nào
trong đó mà còn bảo đảm có thể thu thập được thông tin để tính toán các trị số của chúng.
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cần cân nhắc kỹ lưỡng để xác định những chỉ tiêu cơ bản
nhất, quan trọng nhất làm cho số lượng chỉ tiêu không nhiều mà vẫn đáp ứng được mục đích
nghiên cứu.
2.1. Điều tra thống kê
16
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
b. Điều tra chuyên môn
• Điều tra chuyên môn là hình thức tổ chức điều tra không thường xuyên, được
tiến hành theo một kế hoạch và phương pháp quy định riêng cho mỗi lần điều
tra.
• Khác với báo cáo thống kê định kỳ, điều tra chuyên môn không thường xuyên tổ
chức thu thập tài liệu ban đầu mà chỉ khi nào cần tới mới tổ chức ghi chép một
lần vào một thời điểm hoặc trong một thời kỳ nhất định.
Ví dụ: Điều tra về nhu cầu nhà ở và hàng tiêu dùng, ...
• Đối tượng chủ yếu của điều tra chuyên môn là những hiện tượng mà báo cáo
thống kê định kỳ chưa hoặc không thể thường xuyên phản ánh được. Đó là
những hiện tượng tuy có biến đổi nhưng chậm và không lớn lắm hoặc những
hiện tượng xảy ra bất thường như tai nạn lao động, thiên tai, ...
• Tài liệu thu thập được bằng hình thức này rất phong phú, có ý nghĩa tác dụng
nhiều mặt trong quản lý kinh tế và xã hội.
2.1. Điều tra thống kê
17
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
b. Điều tra chuyên môn
Trong tổ chức thu thập tài liệu điều tra, một trong những vấn đề quan
trọng là xây dựng văn kiện điều tra. Văn kiện này bao gồm các vấn đề
chủ yếu sau:
- Mục đích điều tra:
Nghĩa là quy định rõ cuộc điều tra nhằm tìm hiểu vấn đề gì, phục vụ cho
yêu cầu nghiên cứu nào. Việc xác định mục đích điều tra có quan hệ tới
việc xác định đối tượng, đơn vị, nội dung điều tra. Mục đích điều tra cụ
thể sẽ tạo điều kiện cho việc thu thập tài liệu đầy đủ, hợp lý và đáp ứng
được yêu cầu nghiên cứu.
2.1. Điều tra thống kê
18
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
b. Điều tra chuyên môn
Trong tổ chức thu thập tài liệu điều tra, một trong những vấn đề quan trọng là
xây dựng văn kiện điều tra. Văn kiện này bao gồm các vấn đề chủ yếu sau:
- Đối tượng điều tra và đơn vị điều tra:
+ Đối tượng điều tra: là tổng thể các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu cần thu
thập tài liệu. Xác định rõ đối tượng điều tra tức là quy định cụ thể phạm vi của
hiện tượng nghiên cứu, vạch rõ ranh giới giữa hiện tượng đó với các hiện
tượng khác, tránh được tình trạng nhầm lẫn khi tổ chức thu thập tài liệu ban
đầu.
+ Đơn vị điều tra: là đơn vị thuộc đối tượng điều tra và được thu thập tài liệu.
Đơn vị điều tra là nơi phát sinh ra các tài liệu thu thập được trong mỗi cuộc
điều tra. Việc xác định đơn vị điều tra nhằm chỉ dẫn nhân viên điều tra đến nơi
thu thập và ghi chép số liệu đồng thời đây còn là căn cứ để tiến hành tổng hợp
và phân tích thống kê.
2.1. Điều tra thống kê
19
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
b. Điều tra chuyên môn
Trong tổ chức thu thập tài liệu điều tra, một trong những vấn đề quan
trọng là xây dựng văn kiện điều tra. Văn kiện này bao gồm các vấn đề
chủ yếu sau:
- Nội dung điều tra:
Mỗi đơn vị điều tra có nhiều đặc điểm khác nhau mà thống kê học
thường gọi là tiêu thức. Nội dung điều tra chính là mục lục các tiêu
thức cần thu thập trên các đơn vị điều tra. Các tiêu thức này được diễn
đạt thành các câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng. Muốn xác định nội dung điều
tra cần căn cứ vào mục đích điều tra. Mục đích điều tra càng lớn thì nội
dung điều tra càng nhiều.
2.1. Điều tra thống kê
20
2.1.4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
b. Điều tra chuyên môn
Trong tổ chức thu thập tài liệu điều tra, một trong những vấn đề quan
trọng là xây dựng văn kiện điều tra. Văn kiện này bao gồm các vấn đề chủ
yếu sau:
- Biểu điều tra và bản giải thích:
Biểu điều tra (hay còn gọi là phiếu điều tra) là loại bản in sẵn theo mẫu
quy định trong văn kiện điều tra để ghi tài liệu của đơn vị điều tra. Biểu
điều tra phải đảm bảo chứa đựng đầy đủ nội dung điều tra đồng thời
thuận tiện cho việc ghi chép và kiểm tra tài liệu, thuận tiện cho việc tổng
hợp. Các biểu điều tra được ban hành kèm theo bản giải thích cách ghi
biểu, bản này giúp cho người điều tra và các đơn vị điều tra nhận thức
thống nhất các câu hỏi đặt ra trong biểu điều tra, nắm được phương
pháp ghi chép tài liệu.
2.1. Điều tra thống kê
21
2.1. Điều tra thống kê
2.1.5. Sai số trong điều tra thống kê
• Sai số trong điều tra là chênh lệch giữa các trị số của tiêu thức điều
tra đã thu thập so với trị số thực tế của hiện tượng nghiên cứu.
• Các sai số này làm giảm chất lượng của kết quả điều tra và ảnh hưởng
tới kết quả tổng hợp, phân tích và dự báo. Do đó, cần phải hiểu được
các nguyên nhân phát sinh sai số, từ đó hạn chế sai số bằng các biện
pháp thiết thực
22
2.1. Điều tra thống kê
2.1.5. Sai số trong điều tra thống kê
Hai loại sai số thường gặp là: Sai số do ghi chép tài liệu và sai số do tính chất
đại biểu.
- Sai số do ghi chép tài liệu không chính xác có nhiều nguyên nhân như: cân,
đo, đong, đếm, ghi chép sai hoặc do người điều tra, đơn vị điều tra cố tình
đăng ký sai sự thật.
- Sai số do tính chất đại biểu chỉ xảy ra trong cuộc điều tra chọn mẫu. Nguyên
nhân là do việc chọn đơn vị điều tra không đủ tính chất đại biểu cho tổng thể
chung.
Biện pháp hạn chế sai số: Để đảm bảo các kết quả điều tra đạt mức độ chính
xác cao cần phải hạn chế sai số. Có thể áp dụng các biện pháp sau đây: làm tốt
công tác chuẩn bị điều tra; tiến hành kiểm tra một cách có hệ thống toàn bộ
cuộc điều tra (kiểm tra tài liệu thu thập được; kiểm tra tính chất đại biểu của
các đơn vị điều tra trong điều tra chọn mẫu; kiểm tra về mặt lôgic và kiểm tra
về mặt tính toán; …)
23
2.2.1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của tổng hợp thống kê
a. Khái niệm
• Sau khi tiến hành điều tra thống kê, cơ quan thống kê đã thu thập
được những tài liệu về tiêu thức điều tra trên mỗi đơn vị tổng thể.
Các tài liệu này chỉ phản ánh các đặc trưng riêng của từng đơn vị. Để
có thể nêu lên một số đặc trưng chung của tổng thể, cần phải tiến
hành tổng hợp các tài liệu đã điều tra.
• Tổng hợp thống kê là tiến hành tập trung, chỉnh lý và hệ thống hoá
một cách khoa học các tài liệu ban đầu thu thập được trong điều tra
thống kê.
2.2. Tổng hợp thống kê
24
2.2.1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của tổng hợp thống kê
b. Ý nghĩa
• Tổng hợp thống kê là giai đoạn thứ hai của quá trình nghiên cứu thống
kê. Việc tổ chức tổng hợp một cách đúng đắn và khoa học có ý nghĩa
rất lớn đối với kết quả nghiên cứu thống kê. Tài liệu điều tra cho dù có
phong phú, chính xác, đầy đủ kịp thời đi chăng nữa nhưng việc tổng
hợp thống kê không khoa học thì cũng không thể rút ra được số liệu
chính xác để làm căn cứ vững chắc cho phân tích thống kê.
c. Nhiệm vụ cơ bản của tổng hợp thống kê
• Là làm cho các đặc trưng riêng biệt của từng đơn vị tổng thể bước đầu
chuyển thành các đặc trưng chung của toàn bộ tổng thể; làm cho các
biểu hiện riêng biệt của tiêu thức điều tra bước đầu chuyển thành các
biểu hiện chung về đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu.
2.2. Tổng hợp thống kê
25
2.2.2. Tổ chức tổng hợp thống kê
a. Hình thức tổ chức tổng hợp thống kê
Có hai hình thức tổ chức tổng hợp thống kê: tổng hợp từng cấp và tổng
hợp tập trung.
- Tổng hợp từng cấp: Là tổ chức tổng hợp các tài liệu điều tra theo từng
bước, từ cấp dưới lên cấp trên theo một kế hoạch đã vạch sẵn. Hình thức
này được áp dụng với một số cuộc điều tra chuyên môn và báo cáo
thống kê định kỳ.
- Tổng hợp tập trung: Là toàn bộ tài liệu ban đầu được tập trung về một
cơ quan để tiến hành chỉnh lý và hệ thống hoá từ đầu đến cuối. Các tài
liệu thu thập phải qua điều tra thống kê và phải được tập trung về một
nơi để tổng hợp. Ở đây chỉ có một cơ quan duy nhất tổng hợp. Hình thức
này được áp dụng khi muốn có số liệu tổng hợp nhanh chóng đối với
một số cuộc điều tra chuyên môn lớn như điều tra dân số.
26
2.2. Tổng hợp thống kê
2.2.2. Tổ chức tổng hợp thống kê
b. Kỹ thuật tổng hợp thống kê
• Kỹ thuật tổng hợp giữ vai trò quan trọng trong công tác tổng hợp
thống kê. Có 2 loại kỹ thuật tổng hợp: tổng hợp thủ công và tổng hợp
bằng máy. Trong đó, tổng hợp bằng máy là biện pháp quan trọng để
nâng cao năng suất lao động và đảm bảo tính chính xác của các số liệu
được chỉnh lý, hệ thống hoá.
- Tổng hợp thủ công: Là tổng hợp bằng tay hay các phương tiện đơn
giản như: bàn tính, máy tính cá nhân. Tổng hợp thủ công gồm các
phương pháp như phương pháp lên biểu, phương pháp ghi dấu,
phương pháp bảng rời.
- Tổng hợp bằng máy: Sử dụng máy móc chuyên môn để tiến hành tổng
hợp như máy đục phiếu, máy vạn năng, ...
2.2. Tổng hợp thống kê
27
2.3.1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích dự đoán thống kê
a. Khái niệm
Phân tích dự đoán thống kê là nêu lên một cách tổng hợp bản chất cụ
thể và tính quy luật của hiện tượng trong một điều kiện lịch sử nhất
định thông qua biểu hiện bằng số liệu, tính toán mức độ tương lai của
hiện tượng nhằm đưa ra những căn cứ cho quyết định quản lý.
b. Ý nghĩa
- Phân tích dự đoán thống kê là khâu cuối cùng của quá trình nghiên
cứu thống kê, biểu hiện tập trung kết quả của toàn bộ quá trình nghiên
cứu thống kê. Tài liệu điều tra và tổng hợp chỉ có trải qua sự phân tích
sâu sắc và toàn diện mới có thể nêu lên được biểu hiện về mặt chất và
tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu.
2.3. Phân tích dự đoán thống kê
.
28
2.3.1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích dự đoán thống kê
b. Ý nghĩa (tt)
- Phân tích dự đoán thống kê có liên hệ mật thiết với các khâu điều tra
và tổng hợp thống kê. Tài liệu thu thập được ở giai đoạn điều tra phong
phú, chính xác, kết quả tổng hợp thống kê thực sự khoa học thì phân
tích dự đoán thống kê mới có khả năng rút ra kết luận đúng đắn.
c. Nhiệm vụ
- Phải nêu lên được bản chất và tính quy luật của hiện tượng và quá
trình kinh tế - xã hội trong điều kiện thời gian và không gian nhất định.
- Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch nhằm phục vụ kịp thời cho
công tác quản lý kinh tế của các ngành, các cấp.
2.3. Phân tích dự đoán thống kê
.
29
2.3.2. Những vấn đề chủ yếu của phân tích, dự đoán thống kê
Trước khi tiến hành phân tích và dự đoán thống kê, người ta cần phải xây dựng
một phương án gồm các vấn đề chủ yếu như sau:
a. Mục đích cụ thể của phân tích dự đoán thống kê:
• Mục đích của phân tích và dự đoán thống kê cũng là mục đích của nghiên cứu
thống kê. Xác định mục đích của phân tích và dự đoán thống kê cụ thể tức là
nêu lên những vấn đề cần giải quyết trong một phạm vi nhất định.
Ví dụ: Khi phân tích tình hình sản xuất của một số đơn vị, mục đích cụ thể được
xác định: nêu rõ các ưu nhược điểm, tìm hiểu nguyên nhân và đề ra các biện
pháp khắc phục trong thời kỳ tới để đưa sản xuất phát triển.
• Mục đích phân tích và dự đoán thống kê cụ thể ảnh hưởng đến việc sử dụng
nguồn tài liệu nào, tính toán những chỉ tiêu gì, dùng phương pháp phân tích cụ
thể nào?... căn cứ để xác định mục đích phân tích và dự đoán cụ thể là các yêu
cầu nhằm giải quyết những nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội đặt ra cho các
đơn vị hoặc doanh nghiệp.
2.3. Phân tích dự đoán thống kê
.
30
2.3.2. Những vấn đề chủ yếu của phân tích, dự đoán thống kê
b. Lựa chọn, đánh giá tài liệu dùng để phân tích và dự đoán
• Phân tích thường dùng một khối lượng lớn tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau.
Phần lớn là các tài liệu được thu thập và tổng hợp qua các báo cáo thống kê định
kỳ và điều tra chuyên môn do hệ thống kế toán - thống kê chuyên trách đảm
nhiệm. Do vậy, khi tiến hành phân tích thống kê, phải có sự lựa chọn, đánh giá tài
liệu một cách đầy đủ chính xác.
• Căn cứ vào mục đích phân tích và dự đoán mà lựa chọn những tài liệu cần thiết.
Nếu thiếu các tài liệu này thì phải tiến hành thu thập thêm hoặc có thể dựa vào
nguồn tài liệu sẵn có mà tính toán. Chất lượng của tài liệu ảnh hưởng đến chất
lượng của phân tích dự đoán thống kê.
2.3. Phân tích dự đoán thống kê
.
31
Khi lựa chọn tài liệu cần thiết phải xem xét, đánh giá trên các mặt:
- Tài liệu thu thập có được đảm bảo yêu cầu chính xác, kịp thời, đầy đủ hay
không? Phương pháp thu thập có khoa học không? Trong điều tra chọn mẫu,
cần đánh giá tính chất đại biểu của số mẫu được chọn để điều tra thực tế.
- Các tài liệu có được phân tổ, chỉnh lý và hệ thống hoá khoa học hay không?
Có đáp ứng yêu cầu và mục đích nghiên cứu của phân tích hay không?
- Các chỉ tiêu được tính toán theo phương pháp nào? Các tài liệu có đảm bảo
tính chất so sánh được với nhau hay không?...
Khi đánh giá tài liệu phải kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, lấy việc
đối chiếu so sánh các chỉ tiêu với nhau và việc liên hệ với tình hình thực tế làm
biện pháp phát hiện các vấn đề trong tài liệu
2.3.2. Những vấn đề chủ yếu của phân tích, dự đoán thống kê
c. Xác định các phương pháp, chỉ tiêu phân tích và dự đoán
- Các phương pháp sử dụng trong phân tích thống kê gồm có phương
pháp phân tổ như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân, dãy số biến
động, phương pháp chỉ số, ... Ngoài ra, còn nhiều phương pháp của
toán học cũng được sử dụng như hồi quy, tương quan, phương pháp
phân tích phương sai,... Mỗi phương pháp đều có ý nghĩa và tác dụng
khác nhau. Do đó, lựa chọn các phương pháp phân tích cho từng
trường hợp cụ thể và cần chú ý đến các đặc điểm sau:
+ Xuất phát từ mục đích cụ thể của phân tích và dự đoán thống kê, từ
đặc điểm, tính chất và sự biến động cũng như các mối liên hệ của hiện
tượng kinh tế - xã hội mà xác định phương pháp nào phù hợp.
2.3. Phân tích dự đoán thống kê
.
33
2.3.2. Những vấn đề chủ yếu của phân tích, dự đoán thống kê
c. Xác định các phương pháp, chỉ tiêu phân tích và dự đoán (tt)
+ Phải biết khéo léo kết hợp nhiều phương pháp nhằm phát huy một
cách tổng hợp các tác dụng của chúng, để làm cho việc phân tích được
sâu sắc và toàn diện hơn.
- Khi xác định các chỉ tiêu phân tích cần chú ý lựa chọn chỉ tiêu quan
trọng nhất, phản ánh đúng đắn nhất đặc điểm bản chất của hiện tượng
nghiên cứu. Các chỉ tiêu cần có sự liên hệ với nhau, bổ sung cho nhau
giúp cho việc phân tích sâu sắc và toàn diện.
2.3. Phân tích dự đoán thống kê
.
34
 









Các ý kiến mới nhất