Tìm kiếm Bài giảng
Hoạt động trải nghiệm chân trời sáng tạo

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Kim Thoa
Ngày gửi: 08h:36' 04-10-2023
Dung lượng: 1'017.4 KB
Số lượt tải: 37
Nguồn:
Người gửi: Trần Kim Thoa
Ngày gửi: 08h:36' 04-10-2023
Dung lượng: 1'017.4 KB
Số lượt tải: 37
Số lượt thích:
0 người
CHỦ ĐỀ
MỘT SỐ TRANG PHỤC
1
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MỤC TIÊU
– Liệt kê được một số trang phục thường dùng và trang phục mặc trong ngày lễ
của người dân ở Thành phố Hồ Chí Minh.
– Trình bày được đặc điểm của một trang phục tiêu biểu ở Thành phố Hồ Chí Minh.
– Thực hiện được một số việc làm phù hợp để góp phần giữ gìn và phát huy vẻ
đẹp của các trang phục dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh.
KHỞI ĐỘNG
Hình 1
Hình 2
Hình 3
(Nguồn: Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM )
5
Hình 4
Hình 5
(Nguồn: Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM )
Xem các hình ảnh trên và thực hiện các yêu cầu sau:
– Hãy gọi đúng tên của các trang phục trong các hình ảnh trên.
– Hãy chia sẻ với các bạn cùng lớp những hiểu biết của em về các loại trang
phục trên và thực hiện bảng dưới đây.
W (Want)
L (Learned)
Điều em muốn biết
về các loại trang phục trên.
Điều em đã học được
về các loại trang phục trên
sau khi chia sẻ với
các bạn cùng lớp.
?
?
KHÁM PHÁ
I. ÁO DÀI – TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI
(1)
Áo dài từ lâu đã là trang phục truyền thống và là nét văn hoá đặc trưng của dân tộc
Việt Nam. Trải qua từng thời kì phát triển của lịch sử, áo dài luôn không ngừng biến
đổi nhưng vẫn đảm bảo tôn lên được nét đẹp dịu dàng của người phụ nữ Việt Nam.
6
(2)
Chiếc áo dài truyền thống của dân tộc Việt Nam đã trải qua rất nhiều thời kì phát triển,
ở mỗi thời kì đều có những nét đặc trưng riêng. Nguồn gốc của chiếc áo dài đầu tiên
xuất hiện vào thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739 – 1765) khi có những cải cách về
trang phục. Sự xuất hiện của áo dài bắt nguồn từ chiếc áo giao lĩnh hay đối lĩnh
(1740) là kiểu áo sơ khai nhất, được may rộng, xẻ hai bên hông, cổ tay rộng, thân dài
chấm gót. Thân áo được may bằng bốn tấm vải mặc cùng thắt lưng màu và váy đen.
Sau đó, để thuận tiện hơn trong lao động sản xuất của người phụ nữ, chiếc áo
giao lĩnh được may rời hai tà trước để buộc vào nhau, hai tà sau may liền lại
thành vạt áo. Áo không có khuy nên bên trong phải mặc thêm chiếc yếm cổ xoay,
kết hợp với dây lưng nhỏ, áo cánh khoác và váy bên ngoài.
Đến thời vua Gia Long (đầu thế kỉ XIX), áo ngũ thân xuất hiện trên cơ sở của
áo tứ thân. Áo có bốn vạt được may thành hai tà như áo dài, ở tà trước có thêm
một vạt áo như lớp lót kín đáo chính là vạt áo thứ năm. Kiểu áo này được may
theo dáng rộng, có cổ và rất thịnh hành đến thế kỉ XX.
Năm 1939, áo dài Lemur ra đời và được cải biến từ áo ngũ thân do hoạ sĩ Cát Tường
sáng tạo. Áo chỉ có hai vạt (trước và sau), vạt trước dài chấm đất. Áo được may ôm sát
cơ thể, tay thẳng và có viền nhỏ. Cổ áo có các dạng như cổ tròn, cổ lá sen, cổ nhún bèo,
cổ khoét rộng hoặc để hở cổ và có viền đăng ten. Vai áo may bồng hoặc không có tay.
Khuy áo được mở sang bên sườn để tăng thêm vẻ đẹp nữ tính. Áo dài Lemur được mặc
chung với quần hoa cài khuy bên hông hoặc có vải buộc. Ống quần bó sát từ hông đến
đầu gối rồi từ đó xuống tới gấu thì xoè ra như hình cái loa. Gam màu tổng thể của áo dài
Lemur dịu nhẹ, thanh nhã, tươi sáng, thẩm mĩ và mang nét tinh tế của người châu Âu.
Kiểu áo này thịnh hành đến năm 1943 thì bị lãng quên.
Đến năm 1950, áo dài Lê Phổ xuất hiện. Đây cũng là một sự kết hợp mới từ áo
dài tứ thân, biến thể từ áo dài Lemur của hoạ sĩ Lê Phổ. Áo được may ôm sát cơ
thể, mặc cùng quần ống loe màu trắng. Vạt áo dài, tay không phồng, cổ kín, nút
bên phải áo. Đây là kiểu áo dài được phụ nữ Việt Nam yêu thích trong suốt thời
gian dài, được coi là “vật tổ” của các áo dài sau này.
Đến năm 1960, áo dài Raglan (còn gọi là giắc lăng) xuất hiện do nhà may Dung
ở Đa Kao, Sài Gòn sáng tạo ra. Áo ôm khít cơ thể hơn, cách nối tay từ cổ chéo
xuống một góc 450 giúp người mặc có cảm giác thoải mái hơn. Hai tà nối với nhau
bằng hàng nút bấm bên hông. Đây chính là kiểu áo dài góp phần định hình phong
cách cho áo dài Việt Nam sau này.
7
(3)
Ngày nay, áo dài trở thành nét văn hoá của người Việt Nam nói chung và của
người Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Những người yêu mến mảnh đất này
dần yêu hơn, thương hơn cái nét, cái dáng của tà áo dài thướt tha. Áo dài Thành
phố Hồ Chí Minh mang nét đẹp đồng điệu với áo dài mọi miền đất nước nhưng có
sự cách tân mạnh mẽ hơn để phù hợp với lối sống năng động ở Thành phố này.
Tà áo dài được cách điệu nhiều, rộng dài chấm gót, đường eo mượt không còn
thắt eo nhấn sâu. Tà áo dài còn được làm thành nhiều lớp, bay bổng tựa như váy
đầm. Chất liệu áo dài cũng đa dạng với các loại như ren, gấm,… Dáng áo gần
như ôm sát với phần trên cơ thể. Hàng cúc bấm, cúc cài bên cổ áo và mạn sườn
cũng được cách tân bằng nhiều cách như mở khoá kéo sau lưng, bên hông,…
Áo dài được sử dụng phổ biến trong các dịp của đời sống hàng ngày như đến trường,
đi lễ chùa, đến giáo đường, tham gia các buổi tiệc,... Câu hát “Tà áo em… Tung bay tà áo
tung bay… Quê hương cho ta chiếc áo nhiệm màu…” trong tác phẩm Một thoáng quê
hương của nhạc sĩ Từ Huy và Thanh Tùng càng khiến người dân Thành phố Hồ Chí Minh
thêm tự hào về chiếc áo dài. Tất cả đã nói lên được giá trị của chiếc áo dài truyền thống
trong đời sống tinh thần của người dân Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay và cả mai sau.
(4)
Chiếc áo dài truyền thống Việt Nam trải qua các thời kì và có sự biến đổi với nhiều
kiểu dáng, chất liệu, từ hiện đại đến phá cách. Áo dài còn được biến chuyển thành áo
cưới, áo cách tân,... Nhưng dù thế nào, chiếc áo dài truyền thống của người phụ nữ
Việt Nam vẫn giữ được nét uyển chuyển, kín đáo mà không trang phục nào có được.
?
CÂU HỎI
– Dựa vào đoạn (2), em hãy cho biết:
Chiếc áo dài Việt Nam đã trải qua những thời kì phát triển nào?
Hãy vẽ sơ đồ hệ thống quá trình hình thành và phát triển của áo dài.
– Dựa vào đoạn (3), em hãy cho biết:
Áo dài của Thành phố Hồ Chí Minh có những sự cách tân như thế
nào so với áo dài truyền thống?
Áo dài được người dân Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và người
dân Việt Nam nói chung mặc trong những hoàn cảnh nào? Từ đó, hãy nêu
nhận xét của em về giá trị của chiếc áo dài trong đời sống của người dân Việt
Nam.
8
Áo dài Việt Nam qua các thời kì
Hình 6. Áo giao lãnh
(Nguồn: Bảo tàng Áo dài)
Áo giao lãnh (1744) còn gọi là áo đối
lĩnh, được may rộng, xẻ hai bên hông, cổ
tay rộng, thân dài chấm gót. Đây là kiểu
dáng sơ khai nhất của áo dài Việt Nam.
Hình 7. Áo tứ thân
(Nguồn: Ngọc Mai)
Áo tứ thân ra đời vào thế kỉ XIX
(thời vua Gia Long) nhằm tạo sự cách
biệt sang trọng giữa tầng lớp quý tộc
và nông dân trong xã hội thời bấy giờ.
Áo có 4 vạt được may như áo dài.
Áo ngũ thân là kiểu áo truyền thống của phụ
nữ miền Bắc, áo gồm năm thân, năm tà (hai tà
sau, hai tà trước và một tà ẩn dưới hai tà trước).
Vạt cả (vạt bên trái, nằm ở ngoài) rộng gấp đôi
vạt con (vạt bên phải, nằm ở trong). Hai vạt nối
nhau nhờ cổ áo cao 2 – 3cm được cài kín bằng
năm khuy. Khi mặc, phụ nữ thường chỉ cài bốn
khuy, để hở khuy cổ nhằm khoe cổ cao ba ngấn.
Người giàu thường mặc áo ngũ thân để phân
biệt với tầng lớp nghèo hơn mặc áo tứ thân.
Hình 8. Áo ngũ thân
(Nguồn: Ngọc Mai)
Hình 9. Áo dài Lemur Cát Tường
(Nguồn: Bảo tàng Áo dài)
Áo dài Lemur được cải biến từ áo
ngũ thân do hoạ sĩ Cát Tường thiết
kế năm 1939 và thịnh hành đến
năm 1943. Áo có 2 vạt, tà trước
chấm đất, tay thẳng và có viền nhỏ,
khuy áo được mở sang bên sườn.
Dù kiểu áo này thịnh hành không
lâu nhưng đã thể hiện sự thay đổi tư
duy về chiếc áo dài Việt Nam của
người dân lúc bấy giờ.
Hình 10. Áo dài Lemur
(Nguồn: Báo Phong Hoá)
10
Áo dài Lê Phổ xuất hiện từ những năm 1945 – 1950, cách tân từ áo dài
Lemur của hoạ sĩ Cát Tường. Áo dài Lê Phổ đưa thêm các yếu tố dân tộc từ
áo tứ thân, ngũ thân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người,
trong khi hai vạt dưới được tự do bay lượn. Áo dài Lê Phổ đã khắc phục
những nhược điểm của các kiểu áo trước đó. Phần cổ áo cao của áo dài Lê
Phổ được xem là mẫu nguyên gốc của thiết kế áo dài Việt Nam hiện nay.
Hình 11. Tranh kí hoạ cô gái
với chiếc áo dài Lê Phổ
của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân
(Nguồn: Ngọc Mai)
Hình 12. Tranh thiếu nữ của hoạ
Hình 13. Hoạ sĩ Lê Thị Lựu
sĩ Lê Phổ
trong trang phục áo dài Lê Phổ
(Nguồn: Ngọc Mai)
(Nguồn: Ngọc Mai)
Áo dài Raglan xuất hiện vào những năm
1960 do nhà may Dung ở Đakao (Sài Gòn)
sáng tạo ra với điểm khác biệt là cách nối tay
raglan vào áo dài. Tay áo được nối từ cổ
chéo xuống một góc khoảng 45o tới nách. Tà
trước và tà sau nối với nhau qua hàng nút
bấm từ cổ xuống nách và dọc theo một bên
hông. Áo dài Raglan đã góp phần định hình
phong cách chiếc áo dài Việt Nam ở cả
những thiết kế cách tân sau này.
Hình 14. Áo dài Raglan
(Nguồn: Ngọc Mai)
11
Hình 15. Áo dài bà Nhu
(Nguồn: Ngọc Mai)
Kiểu áo dài này được
gọi là áo dài bà Nhu, thiết
kế và cải tiến vào thập
niên 60 của thế kỉ XX.
Phần cổ được khoét rộng,
gọi là áo cổ thuyền. Phần
eo được chiết thon gọn.
Hình 16. Áo dài chiết eo
(Nguồn: Ngọc Mai)
Những năm 1960 – 1970, mẫu áo dài chiết
eo ra đời, tôn phần eo, ngực, tà áo may rộng,
gấu áo thẳng, dài đến mắt cá chân.
Trải qua nhiều biến đổi, mẫu áo dài hiện đại
được phát triển trên cơ sở trang phục truyền
thống từ áo dài Lê Phổ. Trang phục áo dài đã
tôn lên vẻ đẹp quý phái của phụ nữ Việt Nam.
Hình 17. Áo dài hiện đại (Nguồn: Sở
Thông tin và Truyền thông TP.HCM)
12
II. TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI KHMER
Hình 18. Trang phục lễ hội của người Khmer
(Nguồn: thanhnien.vn)
Đối với người Khmer, trang phục truyền thống không chỉ tạo nên vẻ đẹp hình thể mà
còn là niềm tin, sự tự tôn về mĩ thuật, tín ngưỡng và tâm linh. Cho dù trang phục hiện đại
ngày càng phong phú và đa dạng đến đâu thì trang phục truyền thống của người phụ nữ
Khmer vẫn luôn giữ được những nét đặc trưng, mang đậm bản sắc văn hoá riêng của
dân tộc mình. Trang phục truyền thống của người phụ nữ Khmer khá cầu kì và rực rỡ, có
sự kết hợp hài hoà giữa áo tầm vông (còn gọi là áo cổ vòng), vận sà rông và sbay(1) cùng
với những hạt cườm, hạt kim sa lấp lánh được đính trên nền hoa văn tinh xảo.
Ngay từ cuối thế kỉ XVII, Đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều cộng đồng
dân tộc sinh sống. Trong đó, người Khmer đã có mặt từ rất sớm. Mặc dù có sự
cộng cư lâu đời với người Việt và người Hoa nhưng người Khmer ngày nay vẫn
bảo tồn được nhiều yếu tố văn hoá của dân tộc mình. Đặc biệt là những bộ trang
phục truyền thống khá cầu kì, rực rỡ, tinh tế và có nét độc đáo riêng.
Để tạo nên một chiếc áo tầm vông trong bộ trang phục truyền thống của người
Khmer phải trải qua nhiều quá trình như trồng dâu, nuôi tằm, nhuộm màu, dệt lụa,
… Tất cả các công đoạn này đều làm thủ công, thể hiện tâm huyết của người thợ
cần mẫn, yêu nghề, yêu dân tộc.
Những tư liệu trước đây viết về người Khmer ở Nam Bộ cho thấy họ từng biết trồng
dâu, nuôi tằm, dệt lụa và dệt vải. Tiếc thay, nghề dệt của người Khmer đã bị mai một.
Sbay: Một loại khăn lụa xanh mềm mại, cuốn chéo từ vai trái xuống bên sườn phải,
tạo nên bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Khmer Nam Bộ.
(1)
13
Cho đến trước năm 1975, nghề dệt của người Khmer hầu như thất truyền. Nghề
dệt lụa ở những vùng có người Khmer sinh sống thuộc các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh
Long xưa hay nghề dệt vải, nhuộm mặc nưa ở tỉnh An Giang nay cũng không còn,
… Nơi còn sót lại nghề dệt cổ truyền của người Khmer là sóc Tà Kốt, phum
Tropeng Tchau (có nghĩa là ao sâu) thuộc xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, cách
huyện lị 5 km trên đường từ huyện Tịnh Biên đi đến huyện Tri Tôn.
Trang phục truyền thống của người Khmer không chỉ phong phú về màu sắc, hoạ
tiết, hoa văn mà còn được thiết kế theo nhiều kiểu dáng. Chiếc áo vêng(1) mang màu
trắng hoặc vàng làm chủ đạo được dệt bằng tơ tằm, sợi bông hay chỉ kim tuyến với
các loại hoa văn khác nhau. Màu vàng được ưa dùng vì đây là màu sắc gợi nên
không khí hội hè và đây cũng là màu sắc thường gặp trong trang trí kiến trúc tôn giáo
truyền thống. Loại áo này thường có đặc điểm dài qua gối, thân rộng, xẻ ngực, tay áo
chật, hai bên sườn ghép thêm bốn miếng vải theo chiều dọc từ nách đến gấu áo.
Sà rông là một mảnh thổ cẩm rực rỡ trang trí nhiều hoạ tiết hoa văn, trong đó hình
trám là hoa văn chủ đạo, khi mặc thì cuốn lại che nửa người phía dưới. Kích thước
của sà rông rộng khoảng 1 m, dài khoảng 3,5 m. Vào mỗi dịp lễ tết, lên chùa lễ Phật,
người Khmer mặc sà rông có đính chuỗi hạt cườm ở cạp. Để tôn thêm nét dịu dàng,
uyển chuyển và đầy nữ tính, không thể thiếu sbay trong bộ lễ phục này. Mỗi khi xuất
hiện hay trình diễn, nét đặc trưng của trang phục luôn thu hút mọi ánh nhìn bởi sự
cầu kì, tỉ mỉ, màu sắc rực rỡ, hoa văn trang trí tinh xảo được điểm xuyết, nhấn nhá
bằng những hạt cườm, kim sa lấp lánh,… Trang phục truyền thống của phụ nữ
Khmer e ấp, luôn mang theo những thông điệp tươi tắn. Cách tạo hình và mô-típ hoa
văn trên váy và cách ăn mặc là nét đặc trưng độc đáo ở trang phục của người Khmer.
Trước đây, phụ nữ Khmer Nam Bộ thường mặc xăm pốt (váy kín). Xăm pốt được mặc
theo cách quấn quanh thân từ hông và vắt về một phía, gấu váy cao trên cổ chân. Đây là
loại váy tơ tằm dệt với nhiều hoạ tiết. Riêng chiếc váy cổ truyền, có tính điển hình nhất
của dân tộc Khmer là chiếc xăm pốt chân khen (Sămpết chôn Kpal). Đó là tấm vải rộng
quấn quanh thân từ hông xuống ngang đùi, phần vải phía sau kéo luồn giữa hai chân vắt
ra phía trước rồi giắt lại ở hông thành một loại như chiếc quần phồng ngắn.
Hiện nay, trang phục thường ngày của phụ nữ Khmer giống người Kinh ở địa phương
và tùy theo độ tuổi mà họ ăn mặc khác nhau. Người trẻ mặc quần lụa đen, áo bà ba hoặc
quần âu, áo sơ mi. Người lớn tuổi mặc quần áo bà ba đen với chiếc khăn rằn vắt vai, đội
đầu hay quàng cổ. Trang phục nam của người Khmer rất đơn giản, họ chỉ mặc sà rông và
ở trần. Khi ra đường, họ sẽ mặc áo bà ba đen giống như những người nông dân Kinh. Vì
thế, trang phục truyền thống của người Khmer vẫn được bảo tồn qua nhiều thế hệ. Ngày
hội văn hoá Khmer Nam Bộ được tổ chức định kì trong vùng với việc trình diễn trang
phục dân tộc, lễ hội và trò chơi dân gian nhằm tôn vinh, bảo tồn văn hoá dân tộc Khmer.
(1)
14
Áo vêng: Còn gọi là áo bầm pông hay áo tầm vông. Đây là loại áo dài truyền thống của
phụ nữ Khmer Nam Bộ.
?
CÂU HỎI
– Trang phục truyền thống của người Khmer được làm từ chất liệu gì? Họ đã
làm ra chúng như thế nào?
– Người Khmer thường mặc trang phục truyền thống trong những dịp nào?
– Khi chung sống với người Kinh, người Khmer mặc trang phục truyền thống
như thế nào?
– Theo em, việc giữ gìn vẻ đẹp của trang phục truyền thống có ý nghĩa như
thế nào đối với người Khmer nói riêng và các dân tộc nói chung?
LUYỆN TẬP
1. Đọc các thông tin, hình ảnh bên dưới và trả lời các câu hỏi sau:
– Dựa vào hình 8 và những mô tả trên, em hãy chỉ ra những bộ phận cấu tạo
nên chiếc áo dài.
– Em hãy nêu một số trang phục truyền thống được các dân tộc khác mặc ở
Thành phố Hồ Chi Minh.
– Đề xuất các giải pháp để giữ gỉn vẻ đẹp truyền thống của trang phục dân tộc.
Chiếc áo dài được thiết kế theo định hướng nhẹ nhàng, dịu dàng, thướt tha
với nhiều màu sắc khác nhau, phù hợp với nhu cầu và mục đích sử dụng. Một
chiếc áo dài truyền thống có cấu tạo gồm cổ áo, tay áo, thân áo, tà áo và quần.
Cổ áo dài thường cao từ 3 – 5 cm. Ngày nay, cổ áo dài được thiết kế với nhiều kiểu đa
dạng như cổ trái tim, cổ tròn, cổ chữ U và trên cổ áo có thể được đính ngọc hoặc cườm.
Tay áo dài có chiều dài đến cổ tay, thuôn dài từ vai xuống cánh tay rồi đến
cổ tay, ôm sát nách.
Thân áo dài (từ phần cổ xuống eo) được thiết kế ôm dáng có nút bấm một
bên. Cúc áo dài thường từ cổ chéo sang vai rồi kéo xuống ngang hông. Ở
ngực và sau lưng áo dài sẽ có chiết li. Để thuận tiện cho người mặc, nhiều
chiếc áo dài được thiết kế có khoá ở dọc phần hông hoặc phần sau lưng.
Áo dài có hai tà: trước và sau. Tà áo dài được xẻ từ eo cho đến gần cổ
chân. Trên tà trước thường được thêu những hoa văn hay những bài thơ.
Quần áo dài có ống rộng, độ dài từ eo đến mắt cá chân hoặc dài cho đến
gót chân. Màu sắc thông dụng nhất là trắng hoặc đen. Trong xu hướng thời
trang hiện nay, quần áo dài thường có cùng tông màu với áo dài.
15
Hình 19. Cấu tạo chi tiết của áo dài
(Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM)
16
2. Dựa vào hình ảnh gợi ý dưới đây, hãy thiết kế một chiếc áo dài để mặc trong
một dịp cụ thể (đến trường, đi dự tiệc,…).
Hình 20. Sản phẩm thiết kế áo dài
(Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM )
17
VẬN DỤNG
1. Thực hiện theo nhóm một sản phẩm để giới thiệu chiếc áo bà ba của Nam
Bộ theo các gợi ý sau:
Hình thức sản phẩm
Nội dung
– Tập san
– Nguồn gốc, lịch sử hình thành áo bà ba
– Bài thuyết trình
– Cấu tạo của áo bà ba
– Đoạn phim ngắn
…
– Áo bà ba trong đời sống của người dân ở
Thành phố Hồ Chí Minh
2. Tham quan Bảo tàng Áo dài (Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh) và thực hiện
bài thu hoạch.
Hình 21. Bảo tàng Áo dài, thành phố Thủ Đức
(Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM)
Yêu cầu:
– Chụp lại hình ảnh trong chuyến tham quan (hình ảnh áo dài, hình ảnh hoạt
động nhóm,…)
– Giới thiệu một số chiếc áo dài mà nhóm tâm đắc.
– Thực hiện bài thu hoạch với nhiều hình thức: bài viết, bài thuyết trình, video,…
MỘT SỐ TRANG PHỤC
1
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MỤC TIÊU
– Liệt kê được một số trang phục thường dùng và trang phục mặc trong ngày lễ
của người dân ở Thành phố Hồ Chí Minh.
– Trình bày được đặc điểm của một trang phục tiêu biểu ở Thành phố Hồ Chí Minh.
– Thực hiện được một số việc làm phù hợp để góp phần giữ gìn và phát huy vẻ
đẹp của các trang phục dân tộc ở Thành phố Hồ Chí Minh.
KHỞI ĐỘNG
Hình 1
Hình 2
Hình 3
(Nguồn: Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM )
5
Hình 4
Hình 5
(Nguồn: Sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM )
Xem các hình ảnh trên và thực hiện các yêu cầu sau:
– Hãy gọi đúng tên của các trang phục trong các hình ảnh trên.
– Hãy chia sẻ với các bạn cùng lớp những hiểu biết của em về các loại trang
phục trên và thực hiện bảng dưới đây.
W (Want)
L (Learned)
Điều em muốn biết
về các loại trang phục trên.
Điều em đã học được
về các loại trang phục trên
sau khi chia sẻ với
các bạn cùng lớp.
?
?
KHÁM PHÁ
I. ÁO DÀI – TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI
(1)
Áo dài từ lâu đã là trang phục truyền thống và là nét văn hoá đặc trưng của dân tộc
Việt Nam. Trải qua từng thời kì phát triển của lịch sử, áo dài luôn không ngừng biến
đổi nhưng vẫn đảm bảo tôn lên được nét đẹp dịu dàng của người phụ nữ Việt Nam.
6
(2)
Chiếc áo dài truyền thống của dân tộc Việt Nam đã trải qua rất nhiều thời kì phát triển,
ở mỗi thời kì đều có những nét đặc trưng riêng. Nguồn gốc của chiếc áo dài đầu tiên
xuất hiện vào thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739 – 1765) khi có những cải cách về
trang phục. Sự xuất hiện của áo dài bắt nguồn từ chiếc áo giao lĩnh hay đối lĩnh
(1740) là kiểu áo sơ khai nhất, được may rộng, xẻ hai bên hông, cổ tay rộng, thân dài
chấm gót. Thân áo được may bằng bốn tấm vải mặc cùng thắt lưng màu và váy đen.
Sau đó, để thuận tiện hơn trong lao động sản xuất của người phụ nữ, chiếc áo
giao lĩnh được may rời hai tà trước để buộc vào nhau, hai tà sau may liền lại
thành vạt áo. Áo không có khuy nên bên trong phải mặc thêm chiếc yếm cổ xoay,
kết hợp với dây lưng nhỏ, áo cánh khoác và váy bên ngoài.
Đến thời vua Gia Long (đầu thế kỉ XIX), áo ngũ thân xuất hiện trên cơ sở của
áo tứ thân. Áo có bốn vạt được may thành hai tà như áo dài, ở tà trước có thêm
một vạt áo như lớp lót kín đáo chính là vạt áo thứ năm. Kiểu áo này được may
theo dáng rộng, có cổ và rất thịnh hành đến thế kỉ XX.
Năm 1939, áo dài Lemur ra đời và được cải biến từ áo ngũ thân do hoạ sĩ Cát Tường
sáng tạo. Áo chỉ có hai vạt (trước và sau), vạt trước dài chấm đất. Áo được may ôm sát
cơ thể, tay thẳng và có viền nhỏ. Cổ áo có các dạng như cổ tròn, cổ lá sen, cổ nhún bèo,
cổ khoét rộng hoặc để hở cổ và có viền đăng ten. Vai áo may bồng hoặc không có tay.
Khuy áo được mở sang bên sườn để tăng thêm vẻ đẹp nữ tính. Áo dài Lemur được mặc
chung với quần hoa cài khuy bên hông hoặc có vải buộc. Ống quần bó sát từ hông đến
đầu gối rồi từ đó xuống tới gấu thì xoè ra như hình cái loa. Gam màu tổng thể của áo dài
Lemur dịu nhẹ, thanh nhã, tươi sáng, thẩm mĩ và mang nét tinh tế của người châu Âu.
Kiểu áo này thịnh hành đến năm 1943 thì bị lãng quên.
Đến năm 1950, áo dài Lê Phổ xuất hiện. Đây cũng là một sự kết hợp mới từ áo
dài tứ thân, biến thể từ áo dài Lemur của hoạ sĩ Lê Phổ. Áo được may ôm sát cơ
thể, mặc cùng quần ống loe màu trắng. Vạt áo dài, tay không phồng, cổ kín, nút
bên phải áo. Đây là kiểu áo dài được phụ nữ Việt Nam yêu thích trong suốt thời
gian dài, được coi là “vật tổ” của các áo dài sau này.
Đến năm 1960, áo dài Raglan (còn gọi là giắc lăng) xuất hiện do nhà may Dung
ở Đa Kao, Sài Gòn sáng tạo ra. Áo ôm khít cơ thể hơn, cách nối tay từ cổ chéo
xuống một góc 450 giúp người mặc có cảm giác thoải mái hơn. Hai tà nối với nhau
bằng hàng nút bấm bên hông. Đây chính là kiểu áo dài góp phần định hình phong
cách cho áo dài Việt Nam sau này.
7
(3)
Ngày nay, áo dài trở thành nét văn hoá của người Việt Nam nói chung và của
người Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Những người yêu mến mảnh đất này
dần yêu hơn, thương hơn cái nét, cái dáng của tà áo dài thướt tha. Áo dài Thành
phố Hồ Chí Minh mang nét đẹp đồng điệu với áo dài mọi miền đất nước nhưng có
sự cách tân mạnh mẽ hơn để phù hợp với lối sống năng động ở Thành phố này.
Tà áo dài được cách điệu nhiều, rộng dài chấm gót, đường eo mượt không còn
thắt eo nhấn sâu. Tà áo dài còn được làm thành nhiều lớp, bay bổng tựa như váy
đầm. Chất liệu áo dài cũng đa dạng với các loại như ren, gấm,… Dáng áo gần
như ôm sát với phần trên cơ thể. Hàng cúc bấm, cúc cài bên cổ áo và mạn sườn
cũng được cách tân bằng nhiều cách như mở khoá kéo sau lưng, bên hông,…
Áo dài được sử dụng phổ biến trong các dịp của đời sống hàng ngày như đến trường,
đi lễ chùa, đến giáo đường, tham gia các buổi tiệc,... Câu hát “Tà áo em… Tung bay tà áo
tung bay… Quê hương cho ta chiếc áo nhiệm màu…” trong tác phẩm Một thoáng quê
hương của nhạc sĩ Từ Huy và Thanh Tùng càng khiến người dân Thành phố Hồ Chí Minh
thêm tự hào về chiếc áo dài. Tất cả đã nói lên được giá trị của chiếc áo dài truyền thống
trong đời sống tinh thần của người dân Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay và cả mai sau.
(4)
Chiếc áo dài truyền thống Việt Nam trải qua các thời kì và có sự biến đổi với nhiều
kiểu dáng, chất liệu, từ hiện đại đến phá cách. Áo dài còn được biến chuyển thành áo
cưới, áo cách tân,... Nhưng dù thế nào, chiếc áo dài truyền thống của người phụ nữ
Việt Nam vẫn giữ được nét uyển chuyển, kín đáo mà không trang phục nào có được.
?
CÂU HỎI
– Dựa vào đoạn (2), em hãy cho biết:
Chiếc áo dài Việt Nam đã trải qua những thời kì phát triển nào?
Hãy vẽ sơ đồ hệ thống quá trình hình thành và phát triển của áo dài.
– Dựa vào đoạn (3), em hãy cho biết:
Áo dài của Thành phố Hồ Chí Minh có những sự cách tân như thế
nào so với áo dài truyền thống?
Áo dài được người dân Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và người
dân Việt Nam nói chung mặc trong những hoàn cảnh nào? Từ đó, hãy nêu
nhận xét của em về giá trị của chiếc áo dài trong đời sống của người dân Việt
Nam.
8
Áo dài Việt Nam qua các thời kì
Hình 6. Áo giao lãnh
(Nguồn: Bảo tàng Áo dài)
Áo giao lãnh (1744) còn gọi là áo đối
lĩnh, được may rộng, xẻ hai bên hông, cổ
tay rộng, thân dài chấm gót. Đây là kiểu
dáng sơ khai nhất của áo dài Việt Nam.
Hình 7. Áo tứ thân
(Nguồn: Ngọc Mai)
Áo tứ thân ra đời vào thế kỉ XIX
(thời vua Gia Long) nhằm tạo sự cách
biệt sang trọng giữa tầng lớp quý tộc
và nông dân trong xã hội thời bấy giờ.
Áo có 4 vạt được may như áo dài.
Áo ngũ thân là kiểu áo truyền thống của phụ
nữ miền Bắc, áo gồm năm thân, năm tà (hai tà
sau, hai tà trước và một tà ẩn dưới hai tà trước).
Vạt cả (vạt bên trái, nằm ở ngoài) rộng gấp đôi
vạt con (vạt bên phải, nằm ở trong). Hai vạt nối
nhau nhờ cổ áo cao 2 – 3cm được cài kín bằng
năm khuy. Khi mặc, phụ nữ thường chỉ cài bốn
khuy, để hở khuy cổ nhằm khoe cổ cao ba ngấn.
Người giàu thường mặc áo ngũ thân để phân
biệt với tầng lớp nghèo hơn mặc áo tứ thân.
Hình 8. Áo ngũ thân
(Nguồn: Ngọc Mai)
Hình 9. Áo dài Lemur Cát Tường
(Nguồn: Bảo tàng Áo dài)
Áo dài Lemur được cải biến từ áo
ngũ thân do hoạ sĩ Cát Tường thiết
kế năm 1939 và thịnh hành đến
năm 1943. Áo có 2 vạt, tà trước
chấm đất, tay thẳng và có viền nhỏ,
khuy áo được mở sang bên sườn.
Dù kiểu áo này thịnh hành không
lâu nhưng đã thể hiện sự thay đổi tư
duy về chiếc áo dài Việt Nam của
người dân lúc bấy giờ.
Hình 10. Áo dài Lemur
(Nguồn: Báo Phong Hoá)
10
Áo dài Lê Phổ xuất hiện từ những năm 1945 – 1950, cách tân từ áo dài
Lemur của hoạ sĩ Cát Tường. Áo dài Lê Phổ đưa thêm các yếu tố dân tộc từ
áo tứ thân, ngũ thân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người,
trong khi hai vạt dưới được tự do bay lượn. Áo dài Lê Phổ đã khắc phục
những nhược điểm của các kiểu áo trước đó. Phần cổ áo cao của áo dài Lê
Phổ được xem là mẫu nguyên gốc của thiết kế áo dài Việt Nam hiện nay.
Hình 11. Tranh kí hoạ cô gái
với chiếc áo dài Lê Phổ
của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân
(Nguồn: Ngọc Mai)
Hình 12. Tranh thiếu nữ của hoạ
Hình 13. Hoạ sĩ Lê Thị Lựu
sĩ Lê Phổ
trong trang phục áo dài Lê Phổ
(Nguồn: Ngọc Mai)
(Nguồn: Ngọc Mai)
Áo dài Raglan xuất hiện vào những năm
1960 do nhà may Dung ở Đakao (Sài Gòn)
sáng tạo ra với điểm khác biệt là cách nối tay
raglan vào áo dài. Tay áo được nối từ cổ
chéo xuống một góc khoảng 45o tới nách. Tà
trước và tà sau nối với nhau qua hàng nút
bấm từ cổ xuống nách và dọc theo một bên
hông. Áo dài Raglan đã góp phần định hình
phong cách chiếc áo dài Việt Nam ở cả
những thiết kế cách tân sau này.
Hình 14. Áo dài Raglan
(Nguồn: Ngọc Mai)
11
Hình 15. Áo dài bà Nhu
(Nguồn: Ngọc Mai)
Kiểu áo dài này được
gọi là áo dài bà Nhu, thiết
kế và cải tiến vào thập
niên 60 của thế kỉ XX.
Phần cổ được khoét rộng,
gọi là áo cổ thuyền. Phần
eo được chiết thon gọn.
Hình 16. Áo dài chiết eo
(Nguồn: Ngọc Mai)
Những năm 1960 – 1970, mẫu áo dài chiết
eo ra đời, tôn phần eo, ngực, tà áo may rộng,
gấu áo thẳng, dài đến mắt cá chân.
Trải qua nhiều biến đổi, mẫu áo dài hiện đại
được phát triển trên cơ sở trang phục truyền
thống từ áo dài Lê Phổ. Trang phục áo dài đã
tôn lên vẻ đẹp quý phái của phụ nữ Việt Nam.
Hình 17. Áo dài hiện đại (Nguồn: Sở
Thông tin và Truyền thông TP.HCM)
12
II. TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI KHMER
Hình 18. Trang phục lễ hội của người Khmer
(Nguồn: thanhnien.vn)
Đối với người Khmer, trang phục truyền thống không chỉ tạo nên vẻ đẹp hình thể mà
còn là niềm tin, sự tự tôn về mĩ thuật, tín ngưỡng và tâm linh. Cho dù trang phục hiện đại
ngày càng phong phú và đa dạng đến đâu thì trang phục truyền thống của người phụ nữ
Khmer vẫn luôn giữ được những nét đặc trưng, mang đậm bản sắc văn hoá riêng của
dân tộc mình. Trang phục truyền thống của người phụ nữ Khmer khá cầu kì và rực rỡ, có
sự kết hợp hài hoà giữa áo tầm vông (còn gọi là áo cổ vòng), vận sà rông và sbay(1) cùng
với những hạt cườm, hạt kim sa lấp lánh được đính trên nền hoa văn tinh xảo.
Ngay từ cuối thế kỉ XVII, Đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều cộng đồng
dân tộc sinh sống. Trong đó, người Khmer đã có mặt từ rất sớm. Mặc dù có sự
cộng cư lâu đời với người Việt và người Hoa nhưng người Khmer ngày nay vẫn
bảo tồn được nhiều yếu tố văn hoá của dân tộc mình. Đặc biệt là những bộ trang
phục truyền thống khá cầu kì, rực rỡ, tinh tế và có nét độc đáo riêng.
Để tạo nên một chiếc áo tầm vông trong bộ trang phục truyền thống của người
Khmer phải trải qua nhiều quá trình như trồng dâu, nuôi tằm, nhuộm màu, dệt lụa,
… Tất cả các công đoạn này đều làm thủ công, thể hiện tâm huyết của người thợ
cần mẫn, yêu nghề, yêu dân tộc.
Những tư liệu trước đây viết về người Khmer ở Nam Bộ cho thấy họ từng biết trồng
dâu, nuôi tằm, dệt lụa và dệt vải. Tiếc thay, nghề dệt của người Khmer đã bị mai một.
Sbay: Một loại khăn lụa xanh mềm mại, cuốn chéo từ vai trái xuống bên sườn phải,
tạo nên bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Khmer Nam Bộ.
(1)
13
Cho đến trước năm 1975, nghề dệt của người Khmer hầu như thất truyền. Nghề
dệt lụa ở những vùng có người Khmer sinh sống thuộc các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh
Long xưa hay nghề dệt vải, nhuộm mặc nưa ở tỉnh An Giang nay cũng không còn,
… Nơi còn sót lại nghề dệt cổ truyền của người Khmer là sóc Tà Kốt, phum
Tropeng Tchau (có nghĩa là ao sâu) thuộc xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, cách
huyện lị 5 km trên đường từ huyện Tịnh Biên đi đến huyện Tri Tôn.
Trang phục truyền thống của người Khmer không chỉ phong phú về màu sắc, hoạ
tiết, hoa văn mà còn được thiết kế theo nhiều kiểu dáng. Chiếc áo vêng(1) mang màu
trắng hoặc vàng làm chủ đạo được dệt bằng tơ tằm, sợi bông hay chỉ kim tuyến với
các loại hoa văn khác nhau. Màu vàng được ưa dùng vì đây là màu sắc gợi nên
không khí hội hè và đây cũng là màu sắc thường gặp trong trang trí kiến trúc tôn giáo
truyền thống. Loại áo này thường có đặc điểm dài qua gối, thân rộng, xẻ ngực, tay áo
chật, hai bên sườn ghép thêm bốn miếng vải theo chiều dọc từ nách đến gấu áo.
Sà rông là một mảnh thổ cẩm rực rỡ trang trí nhiều hoạ tiết hoa văn, trong đó hình
trám là hoa văn chủ đạo, khi mặc thì cuốn lại che nửa người phía dưới. Kích thước
của sà rông rộng khoảng 1 m, dài khoảng 3,5 m. Vào mỗi dịp lễ tết, lên chùa lễ Phật,
người Khmer mặc sà rông có đính chuỗi hạt cườm ở cạp. Để tôn thêm nét dịu dàng,
uyển chuyển và đầy nữ tính, không thể thiếu sbay trong bộ lễ phục này. Mỗi khi xuất
hiện hay trình diễn, nét đặc trưng của trang phục luôn thu hút mọi ánh nhìn bởi sự
cầu kì, tỉ mỉ, màu sắc rực rỡ, hoa văn trang trí tinh xảo được điểm xuyết, nhấn nhá
bằng những hạt cườm, kim sa lấp lánh,… Trang phục truyền thống của phụ nữ
Khmer e ấp, luôn mang theo những thông điệp tươi tắn. Cách tạo hình và mô-típ hoa
văn trên váy và cách ăn mặc là nét đặc trưng độc đáo ở trang phục của người Khmer.
Trước đây, phụ nữ Khmer Nam Bộ thường mặc xăm pốt (váy kín). Xăm pốt được mặc
theo cách quấn quanh thân từ hông và vắt về một phía, gấu váy cao trên cổ chân. Đây là
loại váy tơ tằm dệt với nhiều hoạ tiết. Riêng chiếc váy cổ truyền, có tính điển hình nhất
của dân tộc Khmer là chiếc xăm pốt chân khen (Sămpết chôn Kpal). Đó là tấm vải rộng
quấn quanh thân từ hông xuống ngang đùi, phần vải phía sau kéo luồn giữa hai chân vắt
ra phía trước rồi giắt lại ở hông thành một loại như chiếc quần phồng ngắn.
Hiện nay, trang phục thường ngày của phụ nữ Khmer giống người Kinh ở địa phương
và tùy theo độ tuổi mà họ ăn mặc khác nhau. Người trẻ mặc quần lụa đen, áo bà ba hoặc
quần âu, áo sơ mi. Người lớn tuổi mặc quần áo bà ba đen với chiếc khăn rằn vắt vai, đội
đầu hay quàng cổ. Trang phục nam của người Khmer rất đơn giản, họ chỉ mặc sà rông và
ở trần. Khi ra đường, họ sẽ mặc áo bà ba đen giống như những người nông dân Kinh. Vì
thế, trang phục truyền thống của người Khmer vẫn được bảo tồn qua nhiều thế hệ. Ngày
hội văn hoá Khmer Nam Bộ được tổ chức định kì trong vùng với việc trình diễn trang
phục dân tộc, lễ hội và trò chơi dân gian nhằm tôn vinh, bảo tồn văn hoá dân tộc Khmer.
(1)
14
Áo vêng: Còn gọi là áo bầm pông hay áo tầm vông. Đây là loại áo dài truyền thống của
phụ nữ Khmer Nam Bộ.
?
CÂU HỎI
– Trang phục truyền thống của người Khmer được làm từ chất liệu gì? Họ đã
làm ra chúng như thế nào?
– Người Khmer thường mặc trang phục truyền thống trong những dịp nào?
– Khi chung sống với người Kinh, người Khmer mặc trang phục truyền thống
như thế nào?
– Theo em, việc giữ gìn vẻ đẹp của trang phục truyền thống có ý nghĩa như
thế nào đối với người Khmer nói riêng và các dân tộc nói chung?
LUYỆN TẬP
1. Đọc các thông tin, hình ảnh bên dưới và trả lời các câu hỏi sau:
– Dựa vào hình 8 và những mô tả trên, em hãy chỉ ra những bộ phận cấu tạo
nên chiếc áo dài.
– Em hãy nêu một số trang phục truyền thống được các dân tộc khác mặc ở
Thành phố Hồ Chi Minh.
– Đề xuất các giải pháp để giữ gỉn vẻ đẹp truyền thống của trang phục dân tộc.
Chiếc áo dài được thiết kế theo định hướng nhẹ nhàng, dịu dàng, thướt tha
với nhiều màu sắc khác nhau, phù hợp với nhu cầu và mục đích sử dụng. Một
chiếc áo dài truyền thống có cấu tạo gồm cổ áo, tay áo, thân áo, tà áo và quần.
Cổ áo dài thường cao từ 3 – 5 cm. Ngày nay, cổ áo dài được thiết kế với nhiều kiểu đa
dạng như cổ trái tim, cổ tròn, cổ chữ U và trên cổ áo có thể được đính ngọc hoặc cườm.
Tay áo dài có chiều dài đến cổ tay, thuôn dài từ vai xuống cánh tay rồi đến
cổ tay, ôm sát nách.
Thân áo dài (từ phần cổ xuống eo) được thiết kế ôm dáng có nút bấm một
bên. Cúc áo dài thường từ cổ chéo sang vai rồi kéo xuống ngang hông. Ở
ngực và sau lưng áo dài sẽ có chiết li. Để thuận tiện cho người mặc, nhiều
chiếc áo dài được thiết kế có khoá ở dọc phần hông hoặc phần sau lưng.
Áo dài có hai tà: trước và sau. Tà áo dài được xẻ từ eo cho đến gần cổ
chân. Trên tà trước thường được thêu những hoa văn hay những bài thơ.
Quần áo dài có ống rộng, độ dài từ eo đến mắt cá chân hoặc dài cho đến
gót chân. Màu sắc thông dụng nhất là trắng hoặc đen. Trong xu hướng thời
trang hiện nay, quần áo dài thường có cùng tông màu với áo dài.
15
Hình 19. Cấu tạo chi tiết của áo dài
(Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM)
16
2. Dựa vào hình ảnh gợi ý dưới đây, hãy thiết kế một chiếc áo dài để mặc trong
một dịp cụ thể (đến trường, đi dự tiệc,…).
Hình 20. Sản phẩm thiết kế áo dài
(Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM )
17
VẬN DỤNG
1. Thực hiện theo nhóm một sản phẩm để giới thiệu chiếc áo bà ba của Nam
Bộ theo các gợi ý sau:
Hình thức sản phẩm
Nội dung
– Tập san
– Nguồn gốc, lịch sử hình thành áo bà ba
– Bài thuyết trình
– Cấu tạo của áo bà ba
– Đoạn phim ngắn
…
– Áo bà ba trong đời sống của người dân ở
Thành phố Hồ Chí Minh
2. Tham quan Bảo tàng Áo dài (Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh) và thực hiện
bài thu hoạch.
Hình 21. Bảo tàng Áo dài, thành phố Thủ Đức
(Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM)
Yêu cầu:
– Chụp lại hình ảnh trong chuyến tham quan (hình ảnh áo dài, hình ảnh hoạt
động nhóm,…)
– Giới thiệu một số chiếc áo dài mà nhóm tâm đắc.
– Thực hiện bài thu hoạch với nhiều hình thức: bài viết, bài thuyết trình, video,…
 








Các ý kiến mới nhất